Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 74/2025/HS-PT.

Ngày: 25/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Phương Thuý.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Minh Tân, bà Vũ Thị Yển.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Phạm Duy Thơi- Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 82/2025/TLPT-HS ngày 27 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo Nguyễn Văn P, Hoàng Hữu T do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án sơ thẩm số 34/2025/HS-ST ngày 12 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Văn P, sinh ngày 08/10/1982 tại huyện C, tỉnh Hải Dương. HKTT và chỗ ở: thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Hải Dương. Số CCCD: [...]. Nghề nghiệp: Kinh doanh. Trình độ học vấn: 6/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn G và bà Nguyễn Thị B. Có vợ là Bùi Thị N và có 02 con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Vắng mặt tại phiên tòa.
  2. Hoàng Hữu T, sinh ngày 13/5/1975 tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa. HKTT và chỗ ở: Tổ dân phố Đ, phường L, quận B, thành phố Hà Nội. Số CCCD: [...]. Nghề nghiệp trước khi phạm tội: Chủ tịch Hội đồng quản lý V2. Trình độ học vấn: 12/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Hoàng Hữu N1 và bà Hoàng Thị N2 (đều đã chết). Có vợ là Chu Thị T1 và có 04 con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/10/2024 đến ngày 24/02/2025 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. Vắng mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra còn có 05 bị cáo không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

  1. Về hành vi sản xuất hàng giả: V3 (viết tắt: V2) là tổ chức khoa học công nghệ có tư cách pháp nhân và hoạt động theo phương thức hạch toán độc lập. Ngày 25/4/2022, V2 được Bộ K1 và Công nghệ cấp chứng nhận đăng ký hoạt động chứng nhận trong lĩnh vực: chứng nhận hệ thống quản lý và chứng nhận sản phẩm hàng hoá (trong đó có chứng nhận hệ thống quản lý phù hợp tiêu chuẩn ISO 9001 và chứng nhận hợp quy đối với sản phẩm dầu nhờn động cơ đốt trong). Ngày 18/10/2022, V2 được T8 Đo lường Chất lượng (viết tắt là Tổng cục T9) - Bộ K1 và Công nghệ quyết định chỉ định thực hiện việc thử nghiệm đối với sản phẩm dầu nhờn động cơ đốt trong theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 14:2018/BKHCN và sửa đổi 01:2018 QCVN 14:2018/BKHCN.
  2. Nguyễn Văn P là Giám đốc- Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH P1 (viết tắt: Công ty P1) đăng ký ngành nghề kinh doanh chính là sản xuất hoá chất cơ bản (hoá chất dung dịch làm mát động cơ, dầu mỡ nhờn cho động cơ, hoá chất phụ gia cho dầu nhớt). Đầu tháng 10/2022, P có ý định sản xuất dầu nhờn động cơ đốt trong nên đã liên hệ với anh Lê Minh T2- cộng tác viên của Viện ISSQ để đăng ký làm thủ tục xin cấp chứng nhận hợp quy và gửi hồ sơ, tài liệu cho anh T2 để được hướng dẫn. Ngày 22/11/2022, V2 và Công ty P1 ký Hợp đồng dịch vụ khoa học công nghệ số 1310/2022/HĐCN-ISSQ cung cấp dịch vụ chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng phù hợp tiêu chuẩn ISO 9001:2015 và các sản phẩm phù hợp quy chuẩn QCVN 14:2018/BKHCN và sửa đổi 01:2018 QCVN 14:2018/BKHCN (Q1 đối với dầu nhờn động cơ đốt trong) cho Công ty P1. Tổng chi phí đánh giá chứng nhận là 25.000.000đ, chi phí giám sát sau chứng nhận là 8.000.000đ/01 lần giám sát.

    Ngày 31/10/2022, V2 ban hành Quyết định số 25079/QĐ-ISSQ về việc thành lập đoàn chuyên gia đánh giá do La Văn T3 làm trưởng đoàn đánh giá tại Công ty P1. T3 biết P không có nhà xưởng, máy móc, thiết bị, phòng thí nghiệm, nhân công và các điều kiện khác để sản xuất dầu nhờn nên đã hướng dẫn, giới thiệu P ký hợp đồng gia công với Công ty TNHH H4 (viết tắt: Công ty H4) là đơn vị sản xuất dầu nhờn đã được Viện ISSQ chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng phù hợp tiêu chuẩn ISO 9001:2015, có đủ điều kiện để sản xuất dầu nhờn cho P.

    Ngày 18/11/2022, Công ty P1 và Công ty H4 ký Hợp đồng nguyên tắc về việc mua bán hàng hoá số 1811.2022/HP-PTRO MOTOR và Phụ lục hợp đồng số 01.11/2022HP với nội dung thoả thuận chính là:

    • Công ty H4 đồng ý bán các sản phẩm dầu mỡ bôi trơn, dầu động cơ đốt trong và các sản phẩm khác có chỉ tiêu kỹ thuật đi kèm và không bao gồm bao bì theo đơn đặt hàng của Công ty P1. Công ty H4 không chịu trách nhiệm về chất

    2

    • lượng, chỉ tiêu kỹ thuật của hàng hoá sau khi việc giao nhận hàng hoá với Công ty P1 hoàn thành.
    • Công ty H4 đồng ý cho Công ty P1 được quyền sang chiết, đóng gói vào bao bì, xô, can, lon... để hoàn thiện sản phẩm bán ra thị trường.
    • Công ty P1 phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về việc sang chiết, đóng gói, thương hiệu, tiêu chuẩn kỹ thuật in trên tem nhãn và bao bì sản phẩm.

    Ngày 26/12/2022, Công ty P1 và Công ty H4 ký kết Hợp đồng nguyên tắc về việc gia công đóng gói hàng hoá số 26.12/2022/HP-PTRO MOTOR với nội dung thoả thuận chính là: Công ty H4 đồng ý nhận gia công, đóng gói sản phẩm dầu nhớt nhãn hiệu KATECHV hoặc cung cấp nguyên liệu hoá chất, phụ gia và các sản phẩm dầu mỡ bôi trơn cho Công ty P1 theo đơn đặt hàng.

    P gửi một số mẫu sản phẩm Dầu nhờn động cơ SAE 20W-50 SG (4T) và Dầu nhờn động cơ SAE 15W-40 SG (4T) của Công ty H4 đến V2 để đăng ký chứng nhận hợp quy. P xây dựng và công bố 02 bản tiêu chuẩn cơ sở bao gồm: TCCS 01:2022/PTRO MOTOR đối với sản phẩm Dầu nhờn động cơ SAE 15W-40 API:SG (4T) và TCCS 02:2022/PTRO MOTOR đối với sản phẩm Dầu nhờn động cơ SAE 20W-50 API:SG (4T) (các chỉ tiêu kỹ thuật đối với 02 sản phẩm dầu nhờn động cơ đốt trong do Công ty P1 công bố tương tự như các chỉ tiêu kỹ thuật do Công ty H4 công bố) và nộp 02 bản tiêu chuẩn cơ sở trên đến Viện ISSQ để chứng nhận hợp quy. Ngày 04/11/2022, T3 tiến hành đánh giá hệ thống quản lý chất lượng tại xưởng sản xuất của Công ty H4 và tiến hành lấy mẫu thử nghiệm 02 sản phẩm bao gồm: Dầu nhờn động cơ SAE 20W-50 SG (4T) và Dầu nhờn động cơ SAE 15W-40 SG (4T) là 02 sản phẩm dầu nhờn mà P đăng ký chứng nhận hợp quy. Căn cứ kết quả đánh giá hệ thống quản lý chất lượng và kết quả thử nghiệm các sản phẩm đều phù hợp quy chuẩn. Ngày 09/01/2023, V2 ban hành:

    • Quyết định số 789/QĐ-ISSQ về việc cấp Giấy chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn kèm theo Giấy chứng nhận số HT 2524-23 chứng nhận Công ty P1 đã được đánh giá Hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn ISO 9001:2015 cho lĩnh vực sản xuất và kinh doanh dầu nhờn.
    • Quyết định số 746/QĐ-ISSQ về việc cấp Giấy chứng nhận phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 14:2018/BKHCN và sửa đổi 01:2018 QCVN 14:2018/BKHCN kèm theo Giấy chứng nhận QC 5578-23 cho 02 sản phẩm: Dầu nhờn động cơ SAE 20W-50 SG (4T) và Dầu nhờn động cơ SAE 15W-40 SG (4T), nhãn hiệu thương mại: KATECHV của Công ty P1.

    Sau khi được cấp giấy chứng nhận, P đã thanh toán số tiền 25.000.000₫ cho Viện ISSQ. Để chuẩn bị sản xuất các sản phẩm dầu nhờn động cơ đốt trong thương hiệu KATECHV, P đã đặt mua nguyên liệu, máy móc, thiết bị như sau:

    3

    • Đối với dầu nhờn nguyên liệu: Ngày 23/3/2023, Công ty H4 xuất hoá đơn GTGT số 00000441 bán 3000L dầu động cơ SAE 20W-50 SG, 1000L dầu động cơ SAE 15W-40 SG và một số sản phẩm dầu giảm xóc, mỡ bôi trơn cho Công ty P1. Tổng giá trị tiền hàng là 190.909.091 đồng (chưa bao gồm 10% thuế GTGT). Toàn bộ số dầu động cơ này đã được giao cho Công ty P1 với quy cách đựng trong các thùng phuy kim loại dung tích 200L không dán nhãn, không đề thông tin nhà sản xuất và chỉ số kỹ thuật của sản phẩm...
    • Đối với vỏ chai dầu nhờn: Ngày 05/10/2023, Chi nhánh Công ty TNHH S (viết tắt là Công ty S), địa chỉ: Đường N, KCN Đ - H, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh xuất hoá đơn GTGT số 1533 bán 4000 chai nhựa loại 0,8L cho Công ty P1. Tổng giá trị tiền hàng là 16.740.720 đồng (chưa bao gồm 08% thuế GTGT).
    • Đối với thùng bìa carton đựng sản phẩm dầu nhờn: Ngày 06/10/2023, Công ty CP S1 (viết tắt là Công ty S1), địa chỉ: Lô A khu đô thị P, phường T, thành phố H xuất hoá đơn GTGT số 209 bán 530 thùng carton 05 lớp cho Công ty P1. Tổng giá trị tiền hàng là 7.420.000 đồng (chưa bao gồm 08% thuế GTGT).
    • Đối với nhãn sản phẩm dầu nhờn: Ngày 05/4/2024, Công ty CP I (viết tắt là Công ty I), địa chỉ: thôn V, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội xuất hoá đơn GTGT số 635 bán 6000 nhãn các sản phẩm dầu nhờn cho Công ty P1. Tổng giá trị tiền hàng là 16.000.000 đồng (chưa bao gồm 08% thuế GTGT).

    Ngoài ra P còn mua: 01 máy in phun cầm tay (dùng để in phun ngày sản xuất, hạn sử dụng); 01 máy dán màng seal (dùng để đóng seal nắp chai dầu nhờn động cơ). Đối với hệ thống sang chiết dầu nhờn động cơ: P mua bồn chứa, ống dẫn, vòi, van,... từ nhiều nơi rồi tự hàn, gắn các dụng cụ trên thành hệ thống sang chiết dầu nhờn.

    Khoảng từ tháng 12/2023 đến tháng 4/2024, tại nhà riêng của P ở thôn P, xã P, huyện C, tỉnh Hải Dương, P bắt đầu sản xuất các sản phẩm dầu nhờn để bán ra thị trường. Cụ thể quy trình sản xuất như sau:

    P sử dụng hệ thống sang chiết để sang chiết dầu từ các thùng phuy dầu nhờn nguyên liệu mua của Công ty H4 vào các chai nhựa dung tích 800ml rồi sử dụng máy gắn seal để gắn nắp chai. Sau đó, P sử dụng nhãn (có đề nhãn hiệu, chỉ số kỹ thuật, công dụng sản phẩm, nguồn gốc xuất xứ, thành phần,...) dán vào chai dầu nhờn rồi xếp các chai dầu nhờn thành phẩm vào các thùng bìa carton theo quy cách 24 chai/01 thùng.

    Đối với sản phẩm Dầu nhờn động cơ SAE 20W-50 API:SG (4T): Trước đó P đã mua một số thùng phuy dầu nhờn không có nhãn hiệu, không rõ nguồn gốc xuất xứ của một người (không xác định được tên, địa chỉ). Sau đó, P pha trộn số dầu nhờn này với dầu nguyên liệu SAE 20W-50 SG mua của Công ty H4 để làm nguyên liệu sản xuất ra sản phẩm dầu nhờn động cơ SAE 20W-50

    4

    API:SG (4T) mang thương hiệu KATECHV của Công ty P1.

    Đối với sản phẩm Dầu nhờn động cơ SAE 15W-40 API:SG (4T): P sang chiết dầu nhờn nguyên liệu SAE 15W-40 SG mua của Công ty H4 vào các chai nhựa dung tích 800ML có dán nhãn sản phẩm dầu nhờn động cơ SAE 15W-40 API:SG (4T) mang thương hiệu KATECHV của Công ty P1.

    Đến ngày 19/4/2024, hành vi sản xuất dầu nhờn của P bị Cơ quan điều tra phát hiện, thu giữ tại nhà của P ở thôn P, xã P và thôn T, xã T 1478 chai dầu nhờn động cơ đốt trong nhãn hiệu KATECHV chỉ số SAE 20W-50 API:SG (4T) và 456 chai dầu nhờn động cơ đốt trong nhãn hiệu KATECHV chỉ số SAE 15W-40 API:SG (4T).

    Chứng thư giám định về phẩm chất số 24A01GPT01345-01 và 24A01GPT01345-02 ngày 06/5/2024 của Tập đoàn V4 (là đơn vị được Bộ K1 và Công nghệ cấp chứng nhận đăng ký hoạt động giám định hoá chất trong đó có hoạt động giám định sản phẩm dầu nhờn động cơ đốt trong), kết luận: Sản phẩm Dầu nhờn động cơ SAE 20W-50 API:SG (4T) có 03 chỉ tiêu kỹ thuật không đạt so với chỉ tiêu kỹ thuật đã công bố theo tiêu chuẩn cơ sở TCCS 02:2022/PTRO MOTOR trong đó: Chỉ số độ nhớt động học ở 100°C đạt 94,3% so với mức tối thiểu của chỉ số kỹ thuật đã công bố; Chỉ số kiềm tổng đạt 30,9% so với mức tối thiểu của chỉ số kỹ thuật đã công bố; Tổng hàm lượng kim loại: Ca, M, Zn đạt 70% so với mức tối thiểu của chỉ số kỹ thuật đã công bố. Sản phẩm này được xác định là hàng giả theo quy định tại điểm b mục 7 Điều 3 Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Sản phẩm Dầu nhờn động cơ SAE 15W-40 API:SG (4T) có 01 chỉ tiêu kỹ thuật không đạt so với chỉ tiêu kỹ thuật đã công bố theo tiêu chuẩn cơ sở TCCS 02:2022/PTRO MOTOR trong đó: Chỉ số kiềm tổng đạt 94,5% so với mức tối thiểu của chỉ số kỹ thuật đã công bố.

    Tại Kết luận định giá tài sản số 27 ngày 13/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện C, kết luận: 1478 chai dầu nhờn động cơ đốt trong (4 kỳ dành cho xe số) nhãn hiệu KATECHV của Công ty P1, tiêu chuẩn SAE 20W-50 tại thời điểm bị thiệt hại (ngày 19/4/2024) trị giá 53.208.000 đồng.

  3. Về hành vi đưa hối lộ và nhận hối lội: Căn cứ quy định về hoạt động giám sát sau chứng nhận tại Quyết định số 1990/QĐ-TĐC ngày 12/9/2019 của Tổng cục T9 – Bộ K1 và Công nghệ về việc ban hành hướng dẫn chứng nhận dầu nhờn động cơ đốt trong phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 14:2018/BKHCN và sửa đổi 01:2018 QCVN 14:2018/BKHCN, ngày 17/11/2023, V2 ban hành Công văn số 33571 thông báo kế hoạch giám sát lần 1 đối với hệ thống quản lý chất lượng và các sản phẩm đã được chứng nhận hợp
  4. 5

    quy của Công ty P1. Ngày 01/12/2023, V2 ban hành Quyết định số 35268/QĐ-ISSQ về việc thành lập đoàn chuyên gia đánh giá để tiến hành đánh giá giám sát đối với Công ty P1 gồm: La Văn T3 làm Trưởng đoàn và anh Lê Hồng Q là thành viên. Trong quá trình thực hiện hoạt động đánh giá giám sát, T3 nói với P về việc Công ty P1 vừa chứng nhận mở rộng xong, nếu tại đợt giám sát này tiếp tục lấy mẫu thử nghiệm thì sẽ tốn kém, đồng thời T3 đặt vấn đề sẽ giúp P làm thủ tục xin nợ không lấy mẫu thử nghiệm mà Viện ISSQ vẫn ra Công văn tiếp tục duy trì chứng nhận cho công ty thì P đồng ý. Lúc này, T3 nảy sinh ý định đòi P chi phí bồi dưỡng nên mặc dù T3 không trao đổi bàn bạc, xin ý kiến của ai nhưng đến ngày 04/01/2024, T3 sử dụng điện thoại di động SamSung A70 đăng nhập tài khoản Zalo “La Văn T3” nhắn tin đến tài khoản Zalo của P với nội dung “Em trao đổi đội kia cho anh nợ 2 mẫu lần này rồi”, “anh gửi phí để em gửi đội đấy hỗ trợ để ra công văn duy trì đợt giám sát này cho mình luôn nhé”, “thử 1 mẫu là 2.400k mà anh là 2 mẫu”. Nhận được tin nhắn của T3, do muốn thuận lợi trong công việc nên cùng ngày P đã chuyển khoản 4.800.000đ từ số tài khoản 2306205204186 ngân hàng A (tài khoản của chị Bùi Thị N, vợ của P) đến số tài khoản 19035998791013 ngân hàng T10 của T3. Sau khi nhận được tiền, T3 đã lập hồ sơ giám sát đối với Công ty P1 và không tiến hành lấy mẫu thử nghiệm. T3 trực tiếp soạn thảo Công văn số 68 ngày 15/12/2023 của Công ty P1 xin nợ mẫu thử nghiệm gửi cho P, hướng dẫn P ký, đóng dấu và gửi lại cho T3. Sau khi nhận được Công văn xin nợ mẫu thử nghiệm của P, T3 lập Phiếu thẩm xét hồ sơ ngày 27/12/2023 trình ông La Văn T4 – Phó Viện trưởng duy trì chứng nhận cho Công ty P1 (ông T4 không biết việc T3 cho P nợ lấy mẫu thử nghiệm). Tiếp đó, T3 bảo anh Q soạn thảo Công văn của V2 chứng nhận cho Công ty P1. Anh Q không biết việc T3 chưa lấy mẫu thử nghiệm, nghĩ hồ sơ đã đầy đủ nên đã soạn thảo Công văn với nội dung duy trì chứng nhận cho Công ty P1 chuyển cho T3 thẩm định và trình lãnh đạo V2. Ngày 28/12/2023, V2 phát hành Công văn số 37625 về việc duy trì chứng nhận cho Công ty P1. Sau khi nhận được giấy chứng nhận, P đã thanh toán số tiền 8.000.000đ chi phí giám sát cho Viện ISSQ.

  5. Về hành vi giả mạo trong công tác: Tháng 3/2023, Viện ISSQ nộp hồ sơ đủ năng lực thực hiện hoạt động đào tạo đến Tổng cục T9 - Bộ K1 và Công nghệ. Ngày 04/4/2023, Tổng cục T9- Bộ K1 và Công nghệ ra Thông báo số 888/TB-TĐC về việc tiếp nhận hồ sơ công bố năng lực thực hiện hoạt động đào tạo. Theo đó V2 đủ năng lực thực hiện hoạt động đào tạo chuyên gia đánh giá sản phẩm theo TCVN ISO/IEC 17065:2012.
  6. Viện ISSQ có Hội đồng quản lý do Hoàng Hữu T làm Chủ tịch có nhiệm vụ, quyền hạn là xác định phương hướng, kế hoạch phát triển của V2; xây dựng chiến lược phát triển, kế hoạch hoạt động; thông qua các kế hoạch tài chính, quyết toán; đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh tại Viện ISSQ,....Ban lãnh

    6

    đạo Viện ISSQ gồm: Bà Hoàng Thị Thanh N3- Viện trưởng, người đại diện theo pháp luật. Các Phó Viện trưởng gồm ông Ngô Tất T5, ông Phạm Hữu V và bà Lê Thị Diệu H. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ban lãnh đạo là tổ chức thực hiện theo các nghị quyết của Hội đồng quản lý; điều hành các hoạt động liên quan đến công việc hàng ngày, quản lý tài chính kế toán của Viện ISSQ,... Trong quá trình hoạt động, bà Hoàng Thị Thanh N3 uỷ quyền thực hiện một số nhiệm vụ như sau:

    • Uỷ quyền cho Hoàng Hữu T: Quyết định các thủ tục liên quan đến tài chính, kế toán, ngân hàng; ký kết các hợp đồng hợp tác, cơ chế với các tổ chức, cá nhân cùng khai thác dịch vụ của V2; được quyền ký các văn bản điều hành nội bộ (Theo Giấy uỷ quyền số 6863 ngày 26/5/2020). Thực tế tại V2, Hoàng Hữu T với vai trò Chủ tịch Hội đồng quản lý là người đứng đầu, trực tiếp điều hành, quyết định mọi chủ trương trong quá trình hoạt động của Viện.
    • Uỷ quyền cho ông Ngô Tất T5: Ký các hợp đồng, biên bản nghiệm thu của Viện với đối tác; ký các Giấy chứng nhận, chứng chỉ, chứng thư giám định; ký các Công văn đi của V2 (Theo Giấy uỷ quyền số 15330 ngày 04/9/2021).

    Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng tỉnh Q (viết tắt: Trung tâm T) được thành lập theo Quyết định số 290/QĐ-UBND ngày 15/02/2012 của UBND tỉnh Q, là đơn vị trực thuộc Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (viết tắt: Chi cục TĐC) thuộc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh do Đào Thị H1 là Giám đốc. Trung tâm T là đơn vị sự nghiệp có thu, có chức năng thực hiện các hoạt động dịch vụ kỹ thuật về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hoá thuộc phạm vi quản lý của Chi cục TĐC; có tư cách pháp nhân và hạch toán độc lập.

    Khoảng giữa năm 2023, Đào Thị H1 đặt vấn đề nhờ Thám về Trung tâm T hướng dẫn cho cán bộ của Trung tâm trong lĩnh vực TĐC. Đầu tháng 12/2023, T về Trung tâm T, hướng dẫn kỹ năng trong lĩnh vực TĐC 01 ngày cho một số cán bộ của Trung tâm. Hoạt động giảng dạy này không nằm trong nhiệm vụ do Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Q giao cho Trung tâm T, không xây dựng chương trình, kế hoạch và không ký hợp đồng dịch vụ. Kết thúc buổi giảng dạy, H1 cùng một số cán bộ của Trung tâm mời cơm và mua quà tặng Thám cùng đoàn giảng dạy với tổng chi phí khoảng 14 triệu đồng nhưng không có hoá đơn, chứng từ liên quan. Do khoản chi trên không có chứng từ thanh toán và vượt quá mức chi theo quy định nên không được chi từ kinh phí chi thường xuyên/tự chủ của Trung tâm. Vì vậy, Đào Thị H1 đã chỉ đạo Nguyễn Thị Tuyết M1- Phó trưởng phòng Hành chính và Chất lượng của Trung tâm ứng tiền cá nhân thanh toán chi phí trên.

    Sau khi T hoàn thành việc hướng dẫn tại Trung tâm T, Đào Thị H1 đặt vấn đề nhờ T bảo Lê Thị Diệu H- Trưởng bộ phận kinh doanh Viện ISSQ liên hệ

    7

    với M1 để hoàn thiện hồ sơ đào tạo. T đồng ý và chỉ đạo Lê Thị Diệu D phối hợp với Nguyễn Thị Tuyết M1 hoàn thiện hồ sơ. Thực hiện sự chỉ đạo của Đào Thị H1, M1 liên hệ với Diệu H để ký hợp đồng cung cấp dịch vụ đào tạo, hoàn thiện hồ sơ hợp thức hóa việc Thám về Trung tâm T. Mục đích là để Trung tâm T thanh toán chi phí cho Viện ISSQ mà trên thực tế không mở lớp đào tạo, Viện ISSQ sẽ giữ lại một phần chi phí, phần còn lại sẽ chuyển trả lại Trung tâm. Ngoài ra, M1 còn lập hồ sơ thanh toán công tác phí theo hợp đồng đào tạo sẽ ký với Viện ISSQ. Phần chi phí hợp đồng nhận lại từ Viện ISSQ và tiền công tác phí sẽ được sử dụng để chi cho các hoạt động của Trung tâm mà không chỉ được từ kinh phí chi thường xuyên/tự chủ.

    Để cụ thể hoá nội dung chỉ đạo của T bằng văn bản và có căn cứ chuyển cho các bộ phận có liên quan thực hiện, ngày 26/12/2023, Diệu H lập Phiếu đề xuất trình Thám trong đó nội dung đề xuất thể hiện: “Đề xuất cấp chứng chỉ “Đào tạo nâng cao năng lực và kỹ năng đánh giá cho chuyên gia Chứng nhận sản phẩm theo ISO/IEC 17065:2012” cho 08 học viên (không thực hiện đào tạo thực tế), “TTCN hỗ trợ cấp chứng chỉ đào tạo cho 8 học viên ngày 26/12/2023, thời gian khoá học: 23-25/12/2023. TTCN gửi các hồ sơ cần ký, KD hỗ trợ gửi KH ký và gửi lại”. Theo đó, T và Diệu H thống nhất nội dung không tổ chức đào tạo thực tế cho 08 học viên của Trung tâm T từ ngày 23/12/2023 đến ngày 25/12/2023 nhưng Viện ISSQ sẽ cấp chứng nhận hoàn thành khoá đào tạo. Sau khi T ký duyệt vào Phiếu đề xuất, Diệu H liên hệ với M1 trao đổi nội dung ký hợp đồng cung cấp dịch vụ đào tạo giữa Viện ISSQ với Trung tâm T. Cụ thể, Diệu H và M1 thống nhất soạn thảo, trình Lãnh đạo Viện ISSQ (ông Ngô Tất T5 - Phó Viện trưởng) và Lãnh đạo Trung tâm T (Đào Thị H1 - Giám đốc) ký Hợp đồng dịch vụ đào tạo số 1538/2023/HĐĐT-ISSQ ngày 05/12/2023 (lấy ngày trước so với thực tế), nội dung hợp đồng thể hiện: Viện ISSQ sẽ tổ chức lớp đào tạo “Nâng cao năng lực và kỹ năng đánh giá cho chuyên gia Chứng nhận sản phẩm theo tiêu chuẩn ISO/IEC 17065:2012” cho 08 học viên của Trung tâm TĐC Quảng Ninh gồm: Giám đốc Đào Thị H1; Phó Giám đốc Bùi Văn N4; Phó Giám đốc Nguyễn Văn G1; Phó trưởng phòng Hành chính và Chất lượng Nguyễn Thị Tuyết M1; các Nhân viên phòng Đo lường thử nghiệm gồm Đào Công H2, Lê Hồng Q, Đinh Đức V1 và Chu Viết C. Địa điểm đào tạo tại thành phố Hà Nội; thời gian đào tạo theo chương trình đào tạo. Tổng giá trị hợp đồng là 48.000.000₫.

    Sau khi Phiếu đề xuất được Thám phê duyệt, Diệu H chuyển Phiếu đề xuất và thông tin cá nhân của 08 học viên cho Phạm Thị Thanh N5- Nhân viên Trung tâm chứng nhận- V2 thực hiện. Căn cứ nội dung Phiếu đề xuất đã được Thám phê duyệt, Nhàn xây dựng “Chương trình đào tạo chuyên gia đánh giá chứng nhận sản phẩm” nhưng không tổ chức lớp đào tạo theo chương trình đã xây dựng mà lập danh sách 08 học viên tham gia khoá đào tạo trong thời gian từ

    8

    ngày 23/12/2023 đến ngày 25/12/2023 đưa cho một số người của V2 (không xác định được là ai) ký tên 08 học viên đăng ký tham gia khoá đào tạo. Sau đó, N5 chuyển thông tin của 08 học viên trên cho người của Trung tâm chứng nhận (không xác định được là ai) để soạn thảo 08 “Giấy chứng nhận đã hoàn thành và đạt yêu cầu kiểm tra Khoá đào tạo Nâng cao năng lực và kỹ năng đánh giá cho chuyên gia Chứng nhận sản phẩm theo tiêu chuẩn ISO/IEC 17065:2012”. Sau khi có Giấy chứng nhận, N5 không báo cáo xin ý kiến ông Ngô Tất T5- Phó Viện trưởng (là người được uỷ quyền ký các Giấy chứng nhận) mà chuyển 08 giấy chứng nhận này cho bộ phận Văn phòng (không xác định được là ai) đóng dấu chữ ký của ông Ngô Tất T5 và dấu tròn của V2. Sau đó, Diệu H gửi 08 Giấy chứng nhận này cho M1. Ngày 27/12/2023, V2 xuất hoá đơn GTGT số 00000640 cho Trung tâm T, giá trị 48.000.000đ (không có thuế GTGT).

    Sau khi Viện ISSQ phát hành 08 Giấy chứng nhận, Diệu H đã gửi hợp đồng, Giấy chứng nhận, các tài liệu có liên quan cho M1. Thực hiện chỉ đạo của Đào Thị H1, M1 đã sử dụng những tài liệu này để lập hồ sơ đề nghị thanh toán chi phí như sau: M1 lập Giấy đề nghị thanh toán số CDV24-06 ngày 28/12/2023 với nội dung: “Thanh toán kinh phí tham gia lớp đào tạo nâng cao năng lực và kỹ năng đánh giá cho chuyên gia chứng nhận sản phẩm theo ISO/IEC 17065:2012” với số tiền 48.000.000đ. Sau đó, M1 chuyển cho Nguyễn Văn G1- Phó Giám đốc phụ trách Phòng Hành chính và Chất lượng và Đào Thị H1- Giám đốc ký duyệt rồi chuyển Giấy đề nghị thanh toán và hồ sơ đào tạo cho chị Nguyễn Thị H3- Kế toán trưởng của Trung tâm. Ngày 12/01/2024, chị H3 thực hiện uỷ nhiệm chi thanh toán 48.000.000đ từ số tài khoản 112000095716 ngân hàng V5 của Trung tâm T đến số tài khoản 0491000023075 ngân hàng V6 của V2. Trong quá trình liên hệ trao đổi hoàn thiện hồ sơ, Diệu H và M1 thống nhất, V2 sẽ hoàn lại cho Trung tâm T 36.000.000đ, đồng thời M1 cung cấp cho Diệu H số tài khoản 106004443826 ngân hàng V5 mang tên DAO CONG HOA- Nhân viên phòng Đo lường thử nghiệm để nhận tiền Viện ISSQ hoàn lại. Diệu H đã báo cáo T về việc hoàn lại một phần tiền hợp đồng cho Trung tâm T thì T đồng ý. Sau đó, Diệu H bảo Chung Thị T6- Nhân viên kế toán của V2 chuyển khoản 36.000.000₫ đến số tài khoản do Trung tâm T cung cấp. Ngày 19/01/2024, chị T6 đã chuyển khoản 36.000.000₫ từ số tài khoản 0301000305976 ngân hàng V6 của V2 đến số tài khoản 106004443826 ngân hàng V5 của Đào Công H2.

    Đối với số tiền 36.000.000đ do Viện ISSQ hoàn lại, anh H2 đã rút tiền ra đưa cho M1. Số tiền này, Đào Thị H1 sử dụng một phần để chi trả các khoản tiếp khách của Trung tâm và bảo M1, anh H2 trả các khoản nợ chi tiếp khách. M1 lập Phiếu chi số CDV23-187 ngày 30/12/2023, nội dung chi: “Thanh toán công tác phí và tiền khoán xe đi Hà Nội tham dự lớp đào tạo “Nâng cao năng lực và kỹ năng đánh giá cho chuyên gia chứng nhận sản phẩm theo ISO/IEC

    9

    17065:2012” cho 08 học viên tham gia lớp đào tạo” với số tiền 14.176.000đ trình Đào Thị H1 ký duyệt. Sau đó, M1 chuyển Phiếu chi cho bộ phận kế toán, trong ngày 30/12/2023, chị Ngô Thị T7- Thủ quỹ của Trung tâm đã xuất 14.176.000đ từ quỹ tiền mặt của Trung tâm đưa cho M1. Số tiền này, Đào Thị H1 trả M1 khoản tiền M1 đã ứng ra chi trả chi phí tiếp đoàn giảng dạy của T.

    Tại Kết luận giám định số 43/KL-KTHS ngày 18/02/2025 của Phòng K2 - Công an tỉnh H, kết luận: Hình dấu tròn có nội dung "VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG" và hình dấu có chữ ký đứng tên TS. Ngô Tất T5 trên 08 Giấy chứng nhận từ số ĐTNV/2312/23-01 đến số ĐTNV/2312/23-08 của Viện ISSQ cấp cho 08 học viên của Trung tâm TĐC tỉnh Q với hình dấu tròn và hình dấu chữ ký của ông Ngô Tất T5 thu tại Viện ISSQ là do cùng một con dấu đóng ra.

  7. Về hành vi trốn thuế: Viện ISSQ có 04 người làm việc tại bộ phận kế toán với nhiệm vụ như sau: Nguyễn Thị L - Kế toán trưởng, phụ trách chung về hoạt động tài chính, kế toán; Trần Thị N6- Nhân viên kế toán, thực hiện toàn bộ việc hạch toán, kê khai, thực hiện các nghĩa vụ thuế; Hoàng Thị N7- Nhân viên kế toán, phụ trách thực hiện các giao dịch liên quan đến tài khoản ngân hàng; Chung Thị T6- Thủ quỹ, thực hiện việc tập hợp, theo dõi các hợp đồng cung cấp dịch vụ; quản lý quỹ tiền mặt của V2 và tài khoản ngân hàng số 0301000305976; thực hiện việc thu, chi theo chỉ đạo; thực hiện việc xuất hoá đơn GTGT theo chỉ đạo từ lãnh đạo Viện và kế toán trưởng.
  8. Trong quá trình hoạt động, V2 thực hiện việc cung cấp dịch vụ chứng nhận thuộc lĩnh vực tiêu chuẩn chất lượng cho một số doanh nghiệp theo quy trình sau: Bộ phận kinh doanh là đơn vị liên hệ, thoả thuận các điều khoản với khách hàng sau đó soạn thảo, trình lãnh đạo ký kết hợp đồng. Sau khi hợp đồng được ký kết, bộ phận chứng nhận sẽ tiến hành các hoạt động chứng nhận theo nội dung hợp đồng và ra văn bản chứng nhận. Văn bản chứng nhận sau khi được Lãnh đạo Viện ký, bộ phận kinh doanh sẽ báo cho bộ phận kế toán để xuất hoá đơn GTGT và thu tiền của khách hàng bằng hình thức thu tiền mặt hoặc chuyển khoản đến các tài khoản Viện ISSQ sử dụng gồm: Tài khoản ngân hàng V6 số 0491000023075, 0001020635556, 0301000305976; tài khoản ngân hàng B1. Bên cạnh việc xuất hoá đơn GTGT theo quy định, trong quá trình hoạt động, từ năm 2023 do có một số khách hàng không yêu cầu lấy hoá đơn GTGT nên một số nhân viên kinh doanh đã báo cho bộ phận kế toán. L đã báo cáo cho T biết về việc một số khách hàng không lấy hoá đơn và xin ý kiến để thực hiện thì T chỉ đạo Lý “Phối hợp với các bộ phận liên quan xuất hoá đơn xem có được không, nếu khách hàng vẫn không lấy hoá đơn thì mới không xuất hoá đơn GTGT”.

    Về việc thanh toán hợp đồng và xuất hoá đơn GTGT: Theo chỉ đạo của Hoàng Hữu T, Nguyễn Thị L và Chung Thị T6 thực hiện như sau:

    10

    • Đối với những khách hàng có yêu cầu xuất hoá đơn GTGT, nhân viên kinh doanh sẽ hướng dẫn khách hàng thanh toán hợp đồng. Sau khi Viện ISSQ ra văn bản chứng nhận, T6 sẽ thực hiện xuất hoá đơn GTGT. Hoá đơn GTGT sẽ được T6 chuyển cho Nó để kê khai thuế.
    • Đối với những khách hàng không yêu cầu lấy hoá đơn GTGT, nhân viên kinh doanh sẽ hướng dẫn khách hàng chuyển khoản đến các tài khoản ngân hàng mà V2 đang sử dụng để thanh toán hoặc thanh toán bằng tiền mặt (số tiền thanh toán sẽ ít hơn số tiền ghi trên hợp đồng do không bao gồm tiền thuế GTGT). Sau khi khách hàng thanh toán, nhân viên kinh doanh sẽ báo cho T6 để kiểm tra số tiền đã nhận đồng thời báo cho T6 biết về việc khách hàng không lấy hoá đơn. Đối với những trường hợp này, T6 không thực hiện việc xuất hoá đơn GTGT sau khi bộ phận chứng nhận ra văn bản chứng nhận. Đối với các khoản thu từ khách hàng nhưng không xuất hoá đơn GTGT, T6 đều thống kê vào quỹ tiền mặt của V2 và báo cho L. Hàng tháng L đều tổng hợp, báo cáo Thám về các tài khoản, quỹ tiền mặt, công nợ, các khoản thu trong đó có tổng khoản thu của các hợp đồng không xuất hoá đơn GTGT. Trong năm 2023 và quý I, II/2024, V2 đã ký hợp đồng cung cấp dịch vụ cho 126 doanh nghiệp, hộ kinh doanh với tổng số tiền là 2.503.852.381đ nhưng không xuất hoá đơn GTGT tại thời điểm hoàn thành việc cung cấp dịch vụ, không kê khai, thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước và sử dụng số tiền thu được để chi tiêu cho hoạt động của Viện.

    Tại Kết luận giám định ngày 26/02/2025 của Cục thuế tỉnh H, kết luận: Tại thời điểm ngày 04/9/2024 (thời điểm Cơ quan điều tra phát hiện) Viện ISSQ có hành vi cung cấp dịch vụ nhưng không lập hóa đơn bán hàng giao cho người mua, trong đó có Công ty P1 và không kê khai trên tờ khai thuế là hành vi trốn thuế, số thuế trốn là 127.857.930 đồng.

    Tại Bản án sơ thẩm số 34/2025/HS-ST ngày 12/5/2025, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng quyết định:

    • Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 192; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn P 200.000.000đ nộp ngân sách Nhà nước về tội “Sản xuất hàng giả”.
    • Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 364, điểm s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn P 04 tháng tù về tội “Đưa hối lộ”.
    • Căn cứ khoản 1 Điều 200; điểm b, i, s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Hoàng Hữu T 150.000.000đ nộp ngân sách Nhà nước về tội “Trốn thuế”.
    • Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 359; điểm b, s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Hữu T 03 năm tù về tội “Giả mạo trong công tác”.

    11

    Ngoài ra cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

    Ngày 19/5/2025, Hoàng Hữu T kháng cáo xin hưởng án treo đối với tội “Giả mạo trong công tác”.

    Ngày 20/5/2025, Nguyễn Văn P kháng cáo xin hưởng án treo đối với tội “Đưa hối lộ”.

    Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện Viện kiểm sát phân tích các tình tiết của vụ án và xác định cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Hoàng Hữu T về tội “Giả mạo trong công tác” là phù hợp. Quá trình công tác, bị cáo T được tặng thưởng nhiều giấy khen, bằng khen. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp tài liệu tham gia các hoạt động nhân đạo tại địa phương và đã chấp hành xong hình phạt tiền đối với tội “Trốn thuế”, nộp án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại điểm v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm cho bị cáo T từ 10 đến 13 tháng tù về tội “Giả mạo trong công tác”.

    Đối với bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Đưa hối lộ” với số tiền không lớn và có nhiều tình tiết tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp tài liệu tham gia ủng hộ quỹ vì người nghèo, quỹ hội chữ thập đỏ và đã chấp hành xong hình phạt tiền đối với tội “Sản xuất hàng giả”, nộp án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo P từ 10 đến 16 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đưa hối lộ” và khấu trừ từ 5% đến 10% thu nhập hàng tháng của bị cáo nộp ngân sách Nhà nước trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

    NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

    Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

    1. Về tố tụng:
      1. Kháng cáo của các bị cáo được thực hiện trong thời hạn quy định tại Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên là kháng cáo hợp lệ và được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
      2. Các bị cáo vắng mặt tại phiên tòa nhưng không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự.
    2. Về tội danh: Từ lời trình bày của các bị cáo đối chiếu với lời khai của các bị cáo khác và lời khai của người liên quan, người làm chứng, kết luận giám

    12

    định và các tài liệu khác có cơ sở xác định:

      1. Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2023 đến tháng 4/2024, tại thôn P, xã C (nay là xã P) và thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn P là Giám đốc Công ty P1 đã có hành vi sản xuất 1.478 chai dầu nhờn động cơ đốt trong SAE 20W-50 4T nhãn hiệu KATECHV, sản phẩm có 03 chỉ tiêu kỹ thuật không đạt so với chỉ tiêu kỹ thuật đã công bố theo tiêu chuẩn cơ sở TCCS 02:2022/PTRO MOTOR trong đó: Chỉ số độ nhớt động học ở 100°C đạt 94,3% so với mức tối thiểu của chỉ số kỹ thuật đã công bố; Chỉ số kiềm tổng đạt 30,9% so với mức tối thiểu của chỉ số kỹ thuật đã công bố; Tổng hàm lượng kim loại: Ca, M, Zn đạt 70% so với mức tối thiểu của chỉ số kỹ thuật đã công bố. Căn cứ điểm b mục 7 Điều 3 Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì hàng hóa do Nguyễn Văn P sản xuất là hàng giả. Tổng trị giá hàng giả tương đương với số lượng hàng hóa có cùng tính năng, công dụng mà P đã sản xuất là 53.208.000đ. Vì vậy Nguyễn Văn P bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Sản xuất hàng giả” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
      2. Bị cáo La Văn T3 là trưởng đoàn đánh giá giám sát do Viện ISSQ phân công theo Quyết định số 35268/QĐ-ISSQ ngày 01/12/2023. Trong quá trình thực hiện hoạt động giám sát đối với Công ty P1 do Nguyễn Văn P làm giám đốc, bị cáo Thắng lợi D1 nhiệm vụ, quyền hạn của mình đã nhắn tin cho P đòi chi phí bồi dưỡng để làm thủ tục xin nợ không lấy mẫu thử nghiệm và hỗ trợ làm thủ tục duy trì chứng nhận cho Công ty P1. Bị cáo P do muốn thuận lợi trong công việc nên đồng ý và chuyển khoản cho T3 số tiền 4.800.000đ vào ngày 04/01/2024. Vì vậy Nguyễn Văn P bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Đưa hối lộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 364 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
      3. Trong năm 2023 và quý I, II/2024, V2 đã hoàn thành việc cung cấp dịch vụ chứng nhận cho 126 doanh nghiệp, hộ kinh doanh trên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố. Tuy nhiên Hoàng Hữu T- Chủ tịch Hội đồng quản lý phụ trách hoạt động tài chính, kế toán cùng với Nguyễn Thị L- Kế toán trưởng và Chung Thị T6- Thủ quỹ đã có hành vi thống nhất không xuất hoá đơn GTGT, không kê khai thuế tại thời điểm Viện ISSQ hoàn thành việc cung cấp dịch vụ nhằm mục đích hưởng lợi dẫn đến trốn thuế giá trị gia tăng tổng số tiền 127.857.930đ. Vì vậy Hoàng Hữu T bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Trốn thuế” theo quy định tại khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
      4. Tháng 12/2023, Hoàng Hữu T- Chủ tịch Hội đồng quản lý của Viện ISSQ cùng với Lê Thị Diệu H- Trưởng bộ phận kinh doanh và Phạm Thị Thanh

    13

      1. N5- Nhân viên của Trung tâm chứng nhận V2 lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện hành vi không mở lớp đào tạo thực tế nhưng vẫn cấp 08 Giấy chứng nhận đã hoàn thành khóa đào tạo Nâng cao năng lực và kỹ năng đánh giá cho chuyên gia chứng nhận sản phẩm cho 08 cán bộ gồm Bùi Văn N4, Đào Thị H1, Đào Công H2, Nguyễn Thị Tuyết M1, Nguyễn Văn G1, Lê Hồng Q, Đinh Đức V1, Chu Viết C thuộc Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng tỉnh Q. Vì vậy Hoàng Hữu T bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Giả mạo trong công tác” theo điểm a khoản 3 Điều 359 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
      2. Các bị cáo không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị về tội danh.
    1. Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn P về hình phạt đối với tội “Đưa hối lộ”, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực ủng hộ các phong trào thiện nguyện tại địa phương và có bố đẻ, bố vợ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp tài liệu tham gia ủng hộ quỹ vì người nghèo, quỹ hội chữ thập đỏ và tài liệu đã chấp hành xong hình phạt tiền đối với tội “Sản xuất hàng giả”, nộp án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm thể hiện sự ăn năn hối cải, ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo và là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, số tiền bị cáo đưa hối lộ không lớn nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
    2. Xét kháng cáo của bị cáo Hoàng Hữu T về hình phạt đối với tội “Giả mạo trong công tác”, Hội đồng xét xử nhận thấy: Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc đấu tranh phát hiện tội phạm; tác động lãnh đạo Viện ISSQ nộp lại số tiền liên quan đến hành vi phạm tội; tham gia các quỹ khuyến học, khuyến tài tại địa phương là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn là phù hợp với tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Tài liệu thu thập tại hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo có thành tích xuất sắc trong quá trình công tác, được tặng thưởng nhiều giấy khen, bằng khen là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng chưa được cấp sơ thẩm áp dụng là thiếu sót. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo

    14

    tiếp tục cung cấp tài liệu thể hiện được tặng thưởng nhiều giấy khen trong quá trình công tác; tham gia các hoạt động nhân đạo tại địa phương và đã chấp hành xong hình phạt tiền đối với tội “Trốn thuế”, nộp án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm thể hiện sự ăn năn hối cải, ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo. Vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy bị cáo có thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.

    1. Về án phí: Kháng cáo được chấp nhận một phần nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
    2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Vì các lẽ trên,

    QUYẾT ĐỊNH:

    Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2025/HS-ST ngày 12/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn P và bị cáo Hoàng Hữu T.

    1. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 364; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự.

      Xử phạt Nguyễn Văn P 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đưa hối lộ”. Thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự nhận được quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo.

      Giao bị cáo Nguyễn Văn P cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo Nguyễn Văn P có trách nhiệm phối hợp với UBND xã T trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.

      Khấu trừ 10% (mười phần trăm) thu nhập mỗi tháng của bị cáo Nguyễn Văn P trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ để nộp ngân sách Nhà nước.

    15

    1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 3 Điều 359; điểm b, s, t, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, khoản 2 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

      Xử phạt Hoàng Hữu T 02 (hai) năm tù về tội “Giả mạo trong công tác”, được trừ thời gian tạm giam 03 tháng 29 ngày (từ ngày 29/10/2024 đến ngày 24/02/2025). Bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 08 (tám) tháng 01 (một) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

    2. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn P, Hoàng Hữu Thám K phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
    3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
    4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 25/6/2025.

    Nơi nhận:

    • - Vụ GĐKT I – TAND tối cao;
    • - VKSND tỉnh Hải Dương;
    • - Công an tỉnh Hải Dương;
    • - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
    • - TAND huyện Cẩm Giàng (02 bản);
    • - VKSND huyện Cẩm Giàng;
    • - Chi cục THADS huyện Câm Giàng;
    • - Bị cáo;
    • - Lưu: HS, VP, TDS.

    TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

    THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

    Quách Thị Phương Thuý

    16

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2025/HS-PT ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 74/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn P phạm tội "Đưa hối lộ"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger