Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2025/HS-PT

Ngày 16 tháng 6 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hà.
  • Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng và bà Nguyễn Thị Minh Huệ.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thúy Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:

  • Bà Bùi Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 105/2025/TLPT-HS ngày 09 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Trần Văn L do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 47/2025/HSST ngày 04 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

1. Bị cáo kháng cáo: Trần Văn L, sinh năm 1990 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: thôn P, xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H và bà Phạm Thị T (đều đã chết); vợ là Đào Thị T1 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: ngày 30/12/2024 bị Công an tỉnh B khởi tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; bị cáo bị tạm giam từ ngày 06/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

2

2. Người bào chữa cho bị cáo L: Ông Vũ N - Luật sư thuộc Văn phòng L1. Địa chỉ: Số A, Nguyễn Thị H1, khu G, phường T, thành phố H. Có mặt.

Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo - Nguyễn Đình T2, bị hại - anh Hoàng Thái D không có kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trần Văn L có quen biết với bị cáo Nguyễn Đình T2 qua các mối quan hệ xã hội từ đầu năm 2024. Ngày 27/8/2024, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên L nảy sinh ý định thuê xe ô tô tự lái sau đó mang xe đi cầm cố. Khoảng 10 giờ cùng ngày, L gọi điện cho T2 bằng tài khoản Zalo Trần L vào tài khoản zalo Độc Bước của T2 hỏi “anh có chỗ nào cầm cố xe không”. Biết L đi thuê xe mục đích để lừa người cho thuê sau đó cầm cố xe lấy tiền thì T2 trả lời “cứ gửi hình ảnh xe cho anh để anh hỏi xem có chỗ nào cầm xe được không”. Được T2 đồng ý, L tìm kiếm trên mạng xã hội Facebook thấy có bài viết cho thuê xe ô tô tự lái trên trang cá nhân của anh Hoàng Thái D - Giám đốc Công ty TNHH T7 ở huyện T, tỉnh Thái Bình, L gọi đến số điện thoại của anh D để hỏi thuê xe. Sau khi kết bạn Zalo với anh D, anh D gửi cho bị cáo L hình ảnh của 01 ô tô nhãn hiệu Kia K3 và 01 ô tô nhãn hiệu Honda City RS và thông báo giá thuê xe là 18 triệu đồng/tháng. Ngay sau khi nhận được hình ảnh của 02 xe ô tô qua Zalo thì Luân chuyển tiếp hình ảnh cho T2 để hỏi có thể cầm cố mỗi chiếc xe này được bao nhiêu tiền. Tráng xem xong thì thông báo lại với L giá cầm cố của chiếc xe Honda City RS từ 150 đến 200 triệu đồng. Sau đó L gọi lại cho anh D hỏi thuê xe Honda City RS thì anh D nói hiện tại chưa sắp xếp được lịch thuê của xe này và chỉ còn xe Kia K3. L tiếp tục gọi cho T2 để hỏi giá cầm cố của xe Kia K3 thì T2 thông báo giá cầm cố xe này được dưới 200 triệu đồng và nói với L cứ mang xe nào đến cầm cố cũng được, đồng thời hẹn L chiều mang xe sang huyện G, tỉnh Bắc Ninh thì L đồng ý. L gọi cho anh D để thuê xe Kia K3 và hẹn đầu giờ chiều đến Công ty của anh D làm hợp đồng. Lúc này, T2 gọi cho anh Nguyễn Đình C và ông Nguyễn Đình C1 hỏi có chỗ nhận cầm cố xe ô tô không thì anh C trả lời là “không có tiền không nhận cầm” còn ông C1 trả lời “để lát nữa gọi điện báo lại”. Khoảng 14 giờ cùng ngày, L đi xe taxi đến Công ty anh D để thuê xe. Bị cáo L nói với anh D: “giờ em đang làm tàu

3

cát bên Thái Bình nên muốn thuê xe ở bên này để đi lại công việc cho tiện”. Anh D1 thông báo cho L hiện đã sắp xếp được lịch thuê của xe Honda City RS nên L đã đồng ý thuê chiếc xe này và không thuê xe Kia K3 nữa. Do tin tưởng L hỏi thuê xe để sử dụng làm phương tiện đi lại, anh D1 đã đồng ý cho thuê xe ô tô Honda City, màu trắng biển kiểm soát 17A - 388.91. Quá trình ký hợp đồng anh D1 giao ước, yêu cầu L không được giao xe cho bên thứ 3, không được cầm cố, bán xe cho người khác, L đồng ý. Anh D1 soạn sẵn hợp đồng thuê xe và đưa cho L đọc, sau khi đọc xong, L đồng ý với nội dung trong hợp đồng rồi ký tên, điểm chỉ. Sau khi làm xong thủ tục anh D1 bàn giao chiếc xe ô tô Honda City RS, biển kiểm soát 17A - 388.91 cùng giấy chứng nhận kiểm định và 01 giấy biên nhận thế chấp Ngân hàng của chiếc xe này cho L và chụp ảnh lại. L nhận xe và điều khiển đi về huyện B, tỉnh Hải Dương rồi đi sang huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Trên đường đi L và T2 vẫn liên lạc với nhau và hẹn gặp tại quán C3 thuộc xã Đ, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Đến nơi L gọi cho bạn là Đỗ Xuân T3 và rủ T3 sang quán C3 để chơi và đón L về thì T3 đồng ý.

Khoảng 15 giờ cùng ngày ông C1 thông báo lại không có chỗ nào nhận cầm, vì vậy T2 nảy sinh ý định một mình chiếm đoạt chiếc xe ô tô mà L thuê nên T2 đi đến quán C3 để đợi L. Khoảng 15 giờ 20 phút, L điều khiển xe ô tô thuê đến và đi vào quán. Khoảng 12 phút sau thì anh T3 bạn của L cũng đến và đi vào quán. L chỉ vào chiếc xe ô tô thuê nói với T2 “đây xe em cầm cắm đây” và hỏi lại Tráng giá cầm cố xe được bao nhiêu thì T2 nói “xe này cắm được 200 triệu”, L đồng ý. Lúc này T2 nói dối L “giờ mày viết cho anh cái giấy bán xe, anh đứng ra bảo lãnh cho mày mua bán xe trong vòng 15 ngày phải mang đầy đủ giấy tờ gốc đến cho anh để anh viết giấy mua bán xe cho người khác”, sau đó T2 đọc cho L viết một tờ giấy bán xe với nội dung “Trần Văn L bán cho Nguyễn Đình T2 chiếc xe ô tô Honda City RS BKS 17A - 388.91 với giá 500 triệu đồng và đã nhận cọc số tiền 200 triệu đồng, hẹn đến ngày 10/9/2024 L bàn giao đầy đủ giấy tờ gốc thì T2 sẽ trả nốt số tiền còn lại và ký tên vào mục người bán xe”. L viết giấy bán xe xong và đưa cho T2 cầm, T2 nói “anh không có tiền chuyển khoản, em ngồi đây đợi anh ra nhà người quen gần đây lấy tiền về đưa cho em”. L đồng ý và đưa cho T2 01 giấy chứng nhận kiểm định và 01 giấy biên nhận Ngân hàng của chiếc xe ô tô cùng chìa khoá xe. Sau đó T2 điều khiển xe rời khỏi quán, khi lên xe Tráng thấy trên xe có

4

camera hành trình và định vị nên đã liên lạc với Nguyễn Trọng H2 để hỏi chỗ tháo thì H2 giới thiệu gara ô tô Q, tại đây T2 gặp Nông Văn T4 và Lý Trung T5 là thợ của gara và yêu cầu anh T5, anh T4 kiểm tra, tháo camera hành trình và thiết bị định vị trên xe. Sau khi tháo camera và định vị xe xong, T2 điều khiển xe đi đến một nhà nghỉ để ngủ. Sáng hôm sau T2 điện thoại cho bạn là Nguyễn Văn C2 để gửi nhờ xe thì anh C2 đồng ý, sau đó T2 điều khiển xe này đi đến để ở bãi đất trống cổng làng K, huyện Đ, Hà Nội để gửi xe và đi về. Khi biết được sự việc anh Hoàng Thái D đã liên hệ với T2 để đòi xe nhưng T2 không trả.

Kết luận giám định số 02 ngày 05/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện T kết luận: Chiếc xe ô tô Honda City RS, BKS 17A - 388.91 đã qua sử dụng trị giá 466.667.000 đồng. Bản kết luận số 02 ngày 10/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 camera hành trình taplo ôtô nhãn hiệu Navicom T102 trị giá 4.676.000 đồng; 01 thiết bị định vị ôtô nhãn hiệu Sao Việt S09A-4G trị giá 1.085.000 đồng.

Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2025/HS-ST ngày 04 tháng 4 năm 2025 của huyện T, tỉnh Thái Bình quyết định:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Đình T2, Trần Văn L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; Điều 17; Điều 38; Điều 50; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn L 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/9/2024.

Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo Nguyễn Đình T2 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2024; tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 18 tháng 4 năm 2025, bị cáo Trần Văn L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Trần Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung án sơ thẩm đã tuyên. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, công việc của bị cáo không ổn định, làm ăn thua lỗ nên bị cáo nhất thời nảy sinh ý định phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo,

5

xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình về hình phạt đối với bị cáo Trần Văn L.

Luật sư Vũ N trình bày quan điểm tranh luận: Bị cáo Trần Văn L thuê xe tự lái của anh D với mục đích là để làm phương tiện đi lại, đã ký hợp đồng và trả tiền thuê xe theo tháng cho anh D. Sau đó, bị cáo cho bị cáo T2 thuê lại để lấy tiền chứ không có mục đích chiếm đoạt xe của anh D. Trên thực tế, bị cáo L bị bị cáo T2 lừa, T2 yêu cầu bị cáo viết giấy bán xe để chiếm đoạt chiếc xe trên, còn bị cáo L chưa nhận được đồng tiền nào từ bị cáo T2. Mặt khác, chiếc xe ô tô này là tài sản định danh, nên bị cáo không thể bán cho người khác để có thể chiếm đoạt được số tiền bán xe mà chỉ có mục đích cho bị cáo T2 thuê lại để lấy tiền trang trải nợ nần trong thua lỗ làm ăn của bị cáo. Như vậy, bị cáo không có mục đích chiếm đoạt và cũng chưa chiếm đoạt được tài sản của anh T6 nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để giảm hình phạt cho bị cáo. Về nhân thân của bị cáo L thì thấy: Bị cáo ở địa phương là công dân tốt, có nhiều thành tích trong công tác đảng, đoàn tại địa phương, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, lại phải nuôi 03 con nhỏ, trong đó có 01 con bị bệnh nặng, phải phẫu thuật tim nên càng khó khăn hơn, bị cáo cũng đã tích cực cùng gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo L đồng ý với quan điểm bào chữa, tranh luận của luật sư, không bổ sung gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ, hoàn cảnh gia đình của bị cáo để giảm hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

6

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Kháng cáo của bị cáo Trần Văn L gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định là hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã xác định. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra đã thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định: Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên Trần Văn L nảy sinh ý định thuê xe tự lái rồi nhờ Nguyễn Đình T2 tìm chỗ cầm cố để lấy tiền tiêu xài. Sau đó, bị cáo L đã lừa dối anh Hoàng Thái D là cần thuê xe để sử dụng làm phương tiện đi lại. Tin tưởng bị cáo L, anh D cho bị cáo thuê xe ô tô Honda City RS biển kiểm soát 17A - 388.91, sau đó bị cáo gặp T2 để cầm cố xe. Bị cáo T2 không tìm được người nhận cầm cố xe để đưa tiền cho bị cáo L theo thoả thuận nên bị cáo T2 đã lừa dối bị cáo L để một mình chiếm đoạt xe ô tô này. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt của các bị cáo L, T2 là 472.428.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình T2, Trần Văn L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại phiên tòa, luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng, bị cáo thuê xe tự lái có hợp đồng thuê xe, đã trả tiền thuê xe theo thoả thuận, xe ô tô là tài sản định danh không thể bán cho người khác khi không phải là chủ sở hữu của chiếc xe và thực tế bị cáo chưa chiếm đoạt được tiền từ hành vi cầm cố chiếc xe trên nên hành vi của bị cáo chưa gây ra hậu quả. Tuy nhiên, theo lời khai của bị cáo cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thì thấy: Trước khi ký hợp đồng thuê xe của anh D, bị cáo đã đề nghị anh D gửi hình ảnh các xe ô tô cho thuê, sau đó gửi các hình ảnh đó cho bị cáo T2 để hỏi xem nếu cầm cố chiếc xe này thì được bao nhiêu tiền. Sau khi thuê được xe, bị cáo mang xe sang Bắc Ninh để gặp T2 và thực hiện giao dịch cầm cố lấy tiền tiêu xài, bị cáo chưa chiếm đoạt được tài sản nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận quan điểm tranh luận của luật sư.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Văn L thì thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được

7

pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã lợi dụng lòng tin của người khác để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của họ. Bị cáo L có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo thuộc hộ nghèo, có sức khỏe nhưng không chịu lao động để cải thiện kinh tế gia đình mà lại thực hiện hành vi lừa đảo để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tại phiên tòa bị cáo trình bày đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, quá trình công tác tại địa phương bị cáo có nhiều thành tích được chính quyền xác nhận nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, các tình tiết giảm nhẹ này đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo. Mặt khác, theo lời khai của bị cáo thì ngoài hành vi phạm tội này, ngày 17/4/2025, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với hành vi tương tự trong vụ án này nên có thể thấy bị cáo liên tiếp thực hiện các hành vi phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn L, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tại phiên tòa.

[4] Về án phí: Do bị cáo thuộc hộ nghèo nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn L, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 47/2025/HS-ST ngày 04 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình về hình phạt đối với bị cáo.

1.1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

8

1.2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; Điều 17; Điều 38; Điều 50; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn L 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/9/2024.

2. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 16/6/2025.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - TAND, VKSND huyện Tiền Hải;
  • - Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Đỗ Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2025/HS-PT ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 74/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Luân phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger