Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2025/HS-PT

Ngày 16 tháng 6 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Chí Keo

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng, ông Trương Văn hai

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thanh Huế – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Huỳnh Ngọc Thi - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 111/2025/TLPT-HS ngày 19 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Chung Thị T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 56/2025/HS-ST ngày 14 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Bị cáo có kháng cáo: Chung Thị T, sinh ngày 01/01/1961 tại Hậu Giang. Cư trú: Khu V, phường H, thành phố N, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Chung Văn L (chết) và bà Nguyễn Thị T1 (chết); chồng Nguyễn Thành S (không rõ năm sinh) và 02 người con.Về nhân thân: Ngày 26/4/2016 bị Công an phường T, thị xã T xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi tụ tập đông người nơi công cộng gây mất trật tự công cộng. Ngày 24 tháng 5 năm 2016, đã chấp hành xong. Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/12/2024 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh A (có mặt).

Trong vụ án còn có bị khác nhưng không kháng cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 24 tháng 12 năm 2024, Chung Thị T và Thạch Thị D (quen biết nhau từ trước) gặp nhau tại khu vực A, khóm P, huyện P, tỉnh An Giang, T rủ D đến Bệnh viện Đ để trộm cắp tài sản bán chia nhau tiêu xài thì D đồng ý. Sau đó, D và T đi xe khách từ huyện P đến Bệnh viện Đ mua sổ khám bệnh giả vờ đi khám bệnh và ngồi tại khu vực lấy số thứ tự khám chữa bệnh để quan sát tìm tài sản lấy trộm.

Khoảng 07 giờ, ngày 25 tháng 12 năm 2024, D thấy chị Trần Thị S1 đứng trước quầy số 08 tại sảnh đăng ký khám chữa bệnh của Bệnh viện Đ, sau lưng mang 01 ba lô màu đen nên D kêu T tiếp cận phía sau chị S1 để che chắn cho D. Sau khi T đã che chắn, D dùng tay phải mở khóa kéo ba lô của chị S1 lấy 01 điện thoại Samsung Galaxy S23 FE – 5G, màu trắng ra khỏi ba lô thì bị anh Trần Trí D1 (nhân viên bảo vệ Bệnh viện) phát hiện bắt quả tang. Anh Dũng cùng các nhân viên bảo vệ giao D1 và T cùng tang vật cho Công an phường M xử lý.

* Vật chứng thu giữ được:

  • - 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S23 FE – 5G, màu trắng, kiểu dáng thanh thẳng; 01 ốp lưng nhựa dẻo trong suốt điện thoại Samsung Galaxy S23 FE – 5G; 01 sim điện thoại di động Viettel, số I, tất cả của chị S1
  • - 01 sổ khám bệnh có họ tên Thạch Thị D; 01 sổ khám bệnh có họ tên Chung Thị T;
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A38, màu trắng của bị cáo D;
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen của bị cáo T;
  • - Số tiền 1.181.000 đồng, gồm: 1.136.000 đồng thu giữ trên người Thạch Thị D và 45.000 đồng thu giữ trên người Chung Thị T.

Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 02 tháng 01 năm tố tung 2025 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong hình sự trên địa bàn thành phố L:

  • - 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S23 FE – 5G, màu trắng, kiểu dánh thanh thẳng, số sê ri R5CX41GN0WD, số IMEI 350389912962910-350389912962915, đã qua sử dụng trị giá 5.989.500 đồng;
  • - 01 ốp lưng nhựa dẻo trong suốt điện thoại Samsung Galaxy S23 FE – 5G, đã qua sử dụng trị giá 27.500 đồng;
  • - 01 sim điện thoại di động V, số 0978.575.xxx, đã qua sử dụng trị giá 80.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản là 6.097.000 đồng.

Cáo trạng số 76/CT-VKSLX, ngày 19 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, truy tố Thạch Thị D, Chung Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 105/2024/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Đốc đã quyết định:

  1. Tuyên bố bị cáo Thạch Thị D, Chung Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Xử phạt bị cáo Thạch Thị D 01 (năm) tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 25/12/2024).

    Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Xử phạt bị cáo Chung Thị T 09 (chín) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 26/12/2024).

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
    • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 sổ khám bệnh có họ tên Thạch Thị D; 01 sổ khám bệnh có họ tên Chung Thị T.
    • - Trả cho bị cáo Thạch Thị D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A38, màu trắng và số tiền 1.136.000 đồng.
    • - Trả cho bị cáo Chung Thị T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen và số tiền 45.000 đồng.

    (Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 10/4/2025)

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các bị cáo.

Ngày 17 tháng 4 năm 2025, bị cáo Chung Thị T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Chung Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo từ 01-02 tháng từ, sửa bản án sơ thẩm. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 173; điểm s, điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Chung Thị T 09-10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản ”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/12/2024. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hình thức:

Đơn kháng cáo của bị cáo Chung Thị T làm trong hạn luật định, đơn hợp lệ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Chung Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm là phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản vụ việc, và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, từ đó đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 07 giờ, ngày 25 tháng 12 năm 2025, D thấy chị Trần Thị S1 đứng trước quầy số 08 tại sảnh đăng ký khám chữa bệnh của Bệnh viện Đ, nên D và T phối hợp, tiếp cận lấy trộm của chị S1 01 điện thoại Samsung Galaxy S23 FE – 5G thì bị anh Trần Trí D1 (nhân viên bảo vệ Bệnh viện) phát hiện bắt quả tang. Tổng giá trị tài sản là 6.097.000 đồng. Do đó, cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo Chung Thị T, Thạch Thị D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 137 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật;

[3.1] Đối với yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Chung Thị T, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo đối với bị cáo; mức hình phạt tù có thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo T đã gây ra, cấp sơ thẩm xử bị cáo 01 năm tù là có căn cứ, đúng người đúng tội đúng pháp luật.

[3.2] Tuy nhiên, cấp sơ thẩm không xem xét áp dụng tình tiết “Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo là thiếu sót. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Do vậy, để thể hiện chính sách khoan hồng đối với người phạm tội chưa thành niên và bị cáo thực sự ăn năn hối cải và tạo điều kiện cho bị cáo ở địa phương để chăm sóc gia đình; Hội đồng xét xử xét thấy giảm từ 02 tháng tù như quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.

[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Chung Thị T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Chung Thị T; sửa Bản án sơ thẩm về hình phạt.

Tuyên bố các bị cáo Chung Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 173; điểm s, điểm i khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Chung Thị T 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo T được tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 26/12/2024).

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 sổ khám bệnh có họ tên Thạch Thị D; 01 sổ khám bệnh có họ tên Chung Thị T.
  • - Trả cho bị cáo Thạch Thị D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A38, màu trắng và số tiền 1.136.000 đồng.
  • - Trả cho bị cáo Chung Thị T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen và số tiền 45.000 đồng.

(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 10/4/2025)

5. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo Chung Thị T không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên;
  • - Phòng hồ sơ công an tỉnh An Giang;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh An Giang;
  • - Trại tạm giam;
  • - Bị cáo;
  • - Văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Chí Keo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2025/HS-PT ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 74/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự Phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo D kêu bị cáo T tiếp cận phía sau chị Sang để che chắn cho D. Sau khi T đã che chắn, Dũng dùng tay phải mở khóa kéo ba lô của chị S lấy 01 điện thoại Samsung Galaxy S23 FE – 5G, màu trắng ra khỏi ba lô thì bị anh Trần Trí D1 (nhân viên bảo vệ Bệnh viện) phát hiện bắt quả tang
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger