TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 74/2025/HNGĐ-ST Ngày 30 tháng 6 năm 2025 V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thêu và ông Đặng Võ Luyện.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Hải Bằng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 48/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2025/QĐXX-ST ngày 16 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vương Thị L, sinh năm 1989; nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; nơi ở hiện nay: Thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang. Có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1985; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; hiện đang lao động tại Đài Loan. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn chị Vương Thị L trình bày:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình ngày 27/9/2011. Sau khi kết hôn, chị L, anh H chung sống hạnh phúc, đến tháng 8/2022, anh H đi lao động tại Đài Loan. Sau đó một thời gian, anh H và chị L thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ sự khác biệt về quan điểm sống giữa hai vợ chồng. Chị L và anh H không còn tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, hôn nhân giữa hai người rơi vào bế tắc. Hai vợ chồng sống xa nhau nên dần ít quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng cũng dần phai nhạt. Sau nhiều lần chị L, anh H chủ động nói chuyện để hòa giải nhưng vẫn không tìm được tiếng nói chung. Tháng 11/2023, chị Lê C về sống với bố mẹ đẻ chị L tại thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang. Đến nay, chị Lê cảm T tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh H.
1.2. Về con chung: Chị L và anh H 02 con chung là cháu Trần Vương Phương T1, sinh ngày 24/7/2011 và cháu Trần Phúc N, sinh ngày 19/11/2014. Ly hôn, chị L đề nghị Tòa án giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng hai con; chị Lê tự N1 cấp dưỡng nuôi hai con mức 1.500.000 đồng/cháu/tháng đến khi hai con trưởng thành. Trong thời gian anh H lao động ở nước ngoài, chị Lê N2 bố chồng chị là ông Trần Văn M thay anh H nuôi dưỡng, chăm sóc hai con chung.
1.3. Về tài sản chung: Chị L và anh H không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Bị đơn anh Trần Văn H đang ở nước ngoài, không cung cấp địa chỉ, không có văn bản trình bày ý kiến.
3. Cháu Trần Vương Phương T1 và Trần Phúc N là con chung của chị L và anh H trình bày: Hiện tại các cháu đang sống cùng với ông nội tại thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình. Nếu bố mẹ ly hôn, các cháu đề nghị được sống cùng với bố.
4. Ông Trần Văn M, sinh năm 1956; địa chỉ: thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình là bố đẻ của anh Trần Văn H trình bày: Anh H và chị Lê tự N1 tìm hiểu, kết hôn, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình vào năm 2011. Quá trình chung sống, anh H và chị Lê hạnh P, không phát sinh mâu thuẫn gì. Năm 2020, chị Lê Đ lao động tại Đài Loan, năm 2022 anh H cũng đi lao động tại Đài Loan và hai vợ chồng tiếp tục chung sống cùng nhau. Một thời gian sau, chị Lê D ra ở riêng nhưng mâu thuẫn giữa hai vợ chồng cụ thể như thế nào ông M không nắm được. Hiện ông M và anh H thường xuyên liên lạc với nhau qua điện thoại. Ông M đã thông tin cho anh H biết về việc chị L đang làm đơn khởi kiện xin ly hôn anh H. Quan điểm của anh H không muốn ly hôn chị L nhưng chị Lê kiên Q ly hôn thì anh H đồng ý. Anh H và chị L có hai con chung như chị L trình bày là đúng. Hiện hai cháu đang do ông M nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị L và anh H ly hôn, anh H và ông M đề nghị Tòa án giao hai con cháu cho anh H nuôi dưỡng. Trong thời gian anh H lao động ở nước ngoài, ông M sẽ thay mặt anh H nuôi dưỡng, chăm sóc hai cháu và đề nghị chị L phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung giữa chị L và anh H, ông M không nắm được. Ông M đề nghị Tòa án gửi các văn bản, thông báo, quyết định, bản án của Tòa án về cho ông M để ông thông báo lại cho anh H.
5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn đều tuân thủ theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị xử cho chị Vương Thị L được ly hôn anh Trần Văn H. Về con chung: Giao cháu Trần Vương Phương T1, sinh ngày 24/7/2011 và cháu Trần Phúc N, sinh ngày 19/11/2014 cho anh Trần Văn H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Vương Thị Lê cấp D1 nuôi con chung 1.725.000 đồng/con/tháng kể từ tháng 6/2025 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về tài sản chung: không đặt ra giải quyết. Chị Lê P1 chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm, án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Chị Vương Thị L đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Trần Văn H đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt chị L, anh H là đúng quy định pháp luật.
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn là anh Trần Văn H hiện đang ở Đài Loan nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình theo khoản 3 Điều 35 và Điều 37 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình ngày 27/9/2011 nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị L, anh H chung sống hạnh phúc. Tháng 8/2022, anh H đi lao động tại Đài Loan và sau đó một thời gian, giữa anh H và chị L đã thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do chị L và anh H khác biệt về quan điểm sống, cả hai không còn tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống khiến hôn nhân giữa hai vợ chồng rơi vào bế tắc. Chị L xác định tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh H. Anh H thông qua người thân đã biết việc chị Lê X ly hôn anh tại Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, anh H đồng ý với yêu cầu ly hôn của chị L. Xét thấy, mục đích hôn nhân giữa chị L và anh H không đạt được, hôn nhân không còn hạnh phúc nên Hội đồng xét xử chấp nhận xử cho chị Lê ly H1 anh H là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Về con chung: Chị L và anh H có 02 con chung là cháu Trần Vương Phương T1, sinh ngày 24/7/2011 và cháu Trần Phúc N, sinh ngày 19/11/2014. Ly hôn, chị L đề nghị Tòa án giao cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung và chị Lê tự N1 cấp dưỡng nuôi hai con chung mức 1.500.000 đồng/con/tháng cho đến khi các con chung trưởng thành. Chị L và ông M đều đề nghị Tòa án giao hai con chung của anh H, chị L cho ông M thay anh H chăm sóc trong thời gian anh H ở nước ngoài. Xét thấy, hiện anh H đang sống và làm việc tại Đài Loan, con chung hiện đang chung sống ổn định cùng ông M. Vì vậy, để đảm bảo ổn định cuộc sống và đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung, cần giao con chung cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị L phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên mức cấp dưỡng mà chị L đưa ra chưa phù hợp bởi mức lương tối thiểu vùng tại huyện H, tỉnh Thái Bình là 3.450.000 đồng, do đó chị Vương Thị L phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H bằng ½ mức lương tối thiểu vùng là 1.725.000 đồng/tháng/cháu là phù hợp.
- Về tài sản chung: Chị L và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Lê phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, án phí cấp dưỡng theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 37, khoản 4 Điều 147, điểm a khoản 2 Điều 227, Điều 238, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vương Thị L được ly hôn anh Trần Văn H.
- Về con chung: Xử giao cho anh Trần Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Trần Vương Phương T1, sinh ngày 24/7/2011 và cháu Trần Phúc N, sinh ngày 19/11/2014. Chị Vương Thị Lê P1 cấp dưỡng nuôi con chung 1.725.000 đồng/con/tháng kể từ tháng 6/2025 đến khi hai con chung đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của ông Trần Văn M, sinh năm 1956; địa chỉ tại thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình, giao cho ông M thay anh H chăm sóc hai con chung của anh H, chị L cho đến khi anh H về nước. Chị L có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Chị L, anh H có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung khi cần thiết.
- Về tài sản: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Vương Thị Lê P1 chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, chuyển số tiền chị L đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0000482 ngày 28 tháng 3 năm 2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Vương Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
- Về quyền kháng cáo: Chị Vương Thị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ. Anh Trần Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nơi nhận:
- - VKSND tỉnh Thái Bình;
- - Đương sự;
- - UBND xã Tiến Đức;
- - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Hà |
Bản án số 74/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 74/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vương Thị Lê - Trần Văn Huy ly hôn, con chung
