|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 74/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27/6/2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đoàn Văn Vui;
- Ông Nguyễn Văn Bảy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Thịnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nhân – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ K số: 102/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 149/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Phạm Thị N, sinh năm: 2001;
- Bị đơn: anh Huỳnh Tấn K, sinh năm: 1997;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Văn T, sinh năm: 1966;
- Bà Bùi Thị Q, sinh năm: 1967;
Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre.
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre.
(Ông T, bà Q có yêu cầu giải quyết vắng mặt; các đương sự khác có mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 14 tháng 4 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn chị Phạm Thị N trình bày:
Chị với anh Huỳnh Tấn K do tự tìm hiểu, tự nguyện kết hôn năm 2021, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Sau khi cưới, anh chị sống hạnh phúc được 01 năm đầu sau đó không còn hạnh phúc nữa. Nguyên nhân do vợ chồng hay mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường hay cải vả từ đó không có tiếng nói chung, không thuận với gia đình chồng. Khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng chị đã tìm cách tháo gỡ; gia đình hai bên biết và cũng khuyên nhủ để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Chị với anh K ly thân mỗi người ở một nơi khoảng 02 tháng nay. Trong thời gian ly thân, cả hai không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người nấy sống, không ai biết đến ai. Nay, chị N xác định không còn tình cảm với anh K nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh K.
Về con chung: anh chị 01 con chung là Huỳnh Phạm Minh K1, sinh ngày 10/12/2022, hiện cháu K1 đang sống với chị N và ông bà ngoại. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu K1, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: 01 chiếc xe Vision biển kiểm soát 71K1-047.23 do Huỳnh Tấn K đứng tên hiện nay do chị đang quản lý sử dụng. Xe này mua khoảng tháng 6 năm 2023, giá trị còn lại của chiếc xe là 25.000.000 đồng. Chị đồng ý chia đôi giá trị chiếc xe này. Chị yêu cầu anh K nhận xe vì anh K đang đứng tên chủ sở hữu xe. Anh K có trách nhiện hoàn lại cho chị ½ giá trị chiếc xe là 12.500.000 đồng.
Đối với 01 phần hụi đã mãng số tiền là 24.500.000 đồng đây là tài sản riêng lấy từ lợi tức của tiệm làm tóc Moon để đóng tiền hụi. Số vốn để mở tiệm làm tóc Moon này từ vàng cưới của vợ chồng. Hụi đã mãng, số tiền hụi 24.500.000 đồng hiện nay cũng không còn, đã sử dụng để lo chỗ ở cho cháu K1 như xây phòng, lát gạch tường cao đến la phông, đóng la phông, làm cửa; 10.000.000 đồng tiền mặt không có chị không biết số tiền này và không giữ số tiền này; 02 chỉ vàng 24K 9999 do mẹ chị mượn đã trả cho vợ chồng chị nhưng chị giữ và đã bán sử dụng vào mục đích chung của vợ chồng vào năm 2024, vì thời điểm này anh K thất nghiệp, cháu K1 bị bệnh nên phải bán vàng để sử dụng. Khi chị bán số vàng này chị không nói cho anh K biết, anh K không biết chị đã bán số vàng này nhưng tiền chị bán vàng về có đưa cho anh K xài. Chị không đồng ý chia tài sản này.
Đối với số tài sản là: 01 máy giặt hiệu Aqua mua năm 2024 giá trị còn lại là 5.000.000 đồng; 01 ti vi hiệu Aqua mua năm 2025 giá trị còn lại khoảng 3.000.000 đồng; 02 máy lạnh: 01 cái hiệu Comfee mua 2024 giá trị còn lại 4.000.000 đồng, 01 cái hiệu Media mua năm 2025 giá trị còn lại khoảng 4.000.000 đồng; 01 cái máy uốn tóc hiệu Kassi mua năm 2023 giá trị còn lại 2.000.000 đồng; 01 cái nồi chiên không dầu mua năm 2023 giá trị còn lại 500.000 đồng; 01 máy ép rau củ quả mua năm 2024 giá trị còn lại 500.000 đồng; 02 bồn gội đầu mua năm 2022 giá trị còn lại 1.000.000 đồng/02 cái. Chị đồng ý với giá trị tài sản còn lại của các tài sản vừa nêu như trên. Chị đồng ý giao cho anh K các tài sản này, gồm: 01 máy giặt hiệu Aqua, 01 ti vi hiệu Aqua, 02 máy lạnh: 01 cái hiệu Comfee và 01 máy lạnh hiệu Media; 01 cái máy uốn tóc hiệu Kassi; 01 cái nồi chiên không dầu; 01 máy ép rau củ quả; 02 bồn gội đầu. Những tài sản vừa liệt kê chị đang quản lý, sử dụng. Chị không yêu cầu anh K hoàn lại cho chị ½ giá trị tài sản vừa nêu.
01 chiếc nhẫn cưới 01 chỉ vàng 18K giá khoảng 6.000.000 đồng hiện nay anh K giữ, anh K không yêu cầu giải quyết, chị đồng ý.
Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị N không yêu cầu anh K cấp dưỡng cho chị sau khi ly hôn.
Tại đơn yêu cầu chia tài sản chung ngày 09/6/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, bị đơn anh Huỳnh Tấn K trình bày:
Những thông tin về hôn nhân của anh chị, chị N trình bày trên đây là đúng. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn anh K không biết lý do vì sao chị N hay câu mâu, đem những thói hư tật xấu của anh để xin ly hôn. Nhưng thật sự từ trước đến nay anh chưa vi phạm điều gì, không vũ phu, không vi phạm pháp luật hay ruồng bỏ vợ con. Khi xảy ra mâu thuẫn vợ chồng anh đã tìm cách tháo gỡ; gia đình hai bên có biết và đã tổ chức hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Anh chị đã ly thân mỗi người sống một nơi. Trong thời gian ly thân, anh vẫn còn quan tâm, lui tới thăm vợ con; về phía chị N cũng còn quan tâm đến anh. Nay, anh xác định vẫn còn tình cảm với chị N, anh muốn vợ chồng vun đắp để cùng nuôi con. Theo anh thấy khả năng hàn gắn không còn vì chị N đã cương quyết xin ly hôn nhưng vì lý do cùng để nuôi nấng, chăm sóc con và vợ chồng anh cần có thời gian để suy nghĩ lại nên đối với yêu cầu xin ly hôn của chị N, anh không đồng ý.
Về con chung: anh chị có 01 con chung là Huỳnh Phạm Minh K1, sinh ngày 10/12/2022. Hiện nay, cháu K1 đang sống với chị N và ông bà ngoại. Khi ly hôn, anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được nuôi cháu K1; không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: 01 chiếc xe Vision biển kiểm soát 71K1-047.23 do anh đứng tên hiện nay do chị N đang quản lý sử dụng. Xe mua khoảng tháng 6 năm 2023. Giá trị còn lại của chiếc xe này là 25.000.000 đồng. Anh đồng ý chia đôi giá trị chiếc xe này. Anh K đồng ý nhận chiếc xe vì anh đang đứng tên chủ sở hữu xe và đồng ý có trách nhiện hoàn lại cho chị N ½ giá trị chiếc xe là 12.500.000 đồng.
Đối với 01 phần hụi đã mãng số tiền là 24.500.000 đồng đây là tài sản chung của vợ chồng. Khi anh đi làm về đưa tiền lương hết cho chị N quản lý, sử dụng vào mục đích chung của gia đình. Chị N lấy từ thu nhập chung của gia đình để đóng tiền hụi nên đây là tài sản chung của vợ chồng. Hụi đã mãng, chị N đã đóng hết tiền hụi chết. Số tiền hụi 24.500.000 đồng hiện nay không còn, đã sử dụng để lo chỗ ở cho cháu K1 như xây phòng, lát gạch tường cao đến la phông, đóng la phông, làm cửa nhưng khi chị N sửa chữa phòng cho cháu K1 không thông báo cho anh biết nên anh yêu cầu chia số tiền này mỗi người ½ là 12.250.000 đồng; 10.000.000 đồng tiền mặt anh không yêu cầu chị N hoàn trả cho anh ½ số tiền này nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; 02 chỉ vàng 24K 9999 do mẹ vợ mượn đã trả cho chị N, hiện chị N đang giữ. Anh yêu cầu chia đôi số vàng này mỗi người 01 chỉ vàng 24K 9999.
Đối với số tài sản là: 01 máy giặt hiệu Aqua mua năm 2024 giá trị còn lại là 5.000.000 đồng; 01 ti vi hiệu Aqua mua năm 2025 giá trị còn lại khoảng 3.000.000 đồng; 02 máy lạnh: 01 cái hiệu Comfee mua 2024 giá trị còn lại 4.000.000 đồng, 01 cái hiệu Media mua năm 2025 giá trị còn lại khoảng 4.000.000 đồng; 01 cái máy uốn tóc hiệu Kassi mua năm 2023 giá trị còn lại 2.000.000 đồng; 01 cái nồi chiên không dầu mua năm 2023 giá trị còn lại 500.000 đồng; 01 máy ép rau củ quả mua năm 2024 giá trị còn lại 500.000 đồng; 02 bồn gội đầu mua năm 2022 giá trị còn lại 1.000.000 đồng/02 cái. Anh đồng ý nhận toàn bộ tài sản này và đồng ý hoàn trả cho chị N ½ giá trị tài sản, gồm: 01 máy giặt hiệu Aqua, 01 ti vi hiệu Aqua, 02 máy lạnh: 01 cái hiệu Comfee và 01 máy lạnh hiệu Media; 01 cái máy uốn tóc hiệu Kassi; 01 cái nồi chiên không dầu; 01 máy ép rau củ quả; 02 bồn gội đầu. Tổng giá trị tài sản vừa nêu anh đồng ý nhận là 20.500.000 đồng. Những tài sản vừa liệt kê chị N đang quản lý, sử dụng. Chị N không yêu cầu anh hoàn lại cho chị N ½ giá trị tài sản vừa nêu, anh đồng ý.
01 chiếc nhẫn cưới 01 chỉ vàng 18K giá khoảng 6.000.000 đồng hiện nay anh K đang giữ không yêu cầu giải quyết.
Riêng đối với 01 cái nồi chiên không dầu; 01 máy ép rau củ quả hiện nay chị N đã đem về nhà chị N để lo cho con, anh K đồng ý cho chị N được quyền sở hữu 02 tài sản này, không yêu cầu chị N hoàn trả lại giá trị tài sản.
Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh K không yêu cầu chị N cấp dưỡng cho anh sau khi ly hôn.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 04/6/2025 của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn T và bà Bùi Thị Q trình bày:
Ông T và bà Q là cha và mẹ của chị Phạm Thị N. Từ khi mẹ con chị N về sống với ông bà thì gia đinh anh K và anh K không gọi điện hay chủ động đến gặp ông bà để tháo gỡ mâu thuẫn cho vợ chồng chị N, cũng không đến thăm cháu K1. Việc chăm sóc nuôi dưỡng cháu K1, ông bà thương yêu, chăm lo chu đáo, đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu. Đối với việc chị N xin ly hôn với anh K, ông bà không có ý kiến gì, do vợ chồng chị N tự quyết định và có yêu cầu giải quyết vắng mặt do ở xa và lớn tuổi, không có khiếu nại về sau.
Tại phiên toà, chị N vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, anh K vẫn giữ yêu cầu. Anh K đồng ý ly hôn với chị N, không yêu cầu chị N chia số tiền hụi 24.500.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đề nghị:
Về thủ tục thụ lý cũng như quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định và tại phiên toà Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ các Điều 21, 28, 35, 39, 217 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 33, 56, 59, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014:
- - Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị N đối với anh Huỳnh Tấn K.
- - Về con chung: chị Phạm Thị N tiếp tục nuôi dưỡng cháu Huỳnh Phạm Minh K1, sinh ngày 10/12/2022 sau ly hôn; anh Huỳnh Tấn K không phải cấp dưỡng sau khi ly hôn
- - Về cấp dưỡng vợ chồng sau ly hôn: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- - Về tài sản chung:
- + Buộc chị Phạm Thị N giao xe Vision biển kiểm soát 71K1-047.23 cho anh Huỳnh Tấn K; anh K có trách nhiệm hoàn trả cho chị N 12.500.000 đồng giá trị ½ chiếc xe.
- + Đình chỉ yêu cầu của anh K chia đôi giá trị phần hụi 24.500.000 đồng do đã rút yêu cầu.
- + Chấp nhận yêu cầu của anh K chia đôi 02 chỉ vàng 24K9999. Anh K được nhận 01 chỉ vàng 24K9999 do chị N giao lại.
- + Đối với các tài sản khác anh K, chị N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: ngày 14/4/2025, chị Phạm Thị N khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Huỳnh Tấn K. Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 56, 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn T, bà Bùi Thị Q có yêu cầu giải quyết vắng mặt phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự nên được chấp nhận.
[2] Đối với yêu cầu ly hôn của chị N:
Chị N, anh K tự nguyện kết hôn vào năm 2022 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre, anh chị được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 22/02/2022. Chứng cứ này là có cơ sở nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới, thời gian đầu anh chị sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không hoà hợp, vợ chồng thường hay cãi vã không có tiếng nói chung. Khi xảy ra mâu thuẫn, anh chị đã tìm cách tháo gỡ; gia đình hai bên biết anh chị bất hòa và tổ chức hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Chị N và anh K đã ly thân sống mỗi người một nơi. Trong thời gian ly thân, cả hai không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người nấy sống, tình hình sức khỏe, cuộc sống, sinh hoạt của nhau không ai biết đến ai. Chị N xác định không còn tình cảm với anh K nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh.
Đối với yêu cầu của chị N, anh K không đồng ý vì còn tình cảm với chị N và muốn cùng chung sống để lo cho con. Tuy nhiên, theo anh K, chị N xin ly hôn với thái độ rất cương quyết nên không thay đổi được gì. Từ khi Tòa án tổ chức hòa giải đến nay tình trạng hôn nhân của anh chị không cải thiện; mâu thuẫn của vợ chồng anh chị chưa được tháo gỡ; vợ chồng vẫn còn ly thân. Tại phiên tòa, chị N vẫn giữ yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh K. Anh K đồng ý ly hôn với chị N. Điều này có cơ sở khẳng định, tình trạng của vợ chồng chị N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của chị N là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3] Về nuôi con chung: chị N và anh K có 01 con chung là Huỳnh Phạm Minh K1, sinh ngày 10/12/2022. Hiện nay, cháu K1 đang sống với chị N và ông bà ngoại. Chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu K1 sau khi ly hôn. Đối với yêu cầu này của chị N, anh K không đồng ý. Anh K yêu cầu được nuôi cháu K1. Xét thấy, cả anh K và chị N đều có nguyện vọng mong muốn nuôi dưỡng cháu K1. Tuy nhiên, tại thời điểm xét xử sơ thẩm, cháu K1 dưới 36 tháng tuổi. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án, anh K thừa nhận từ khi cháu K1 sống với chị N được nuôi dưỡng, chăm sóc chu đáo, đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu. Từ trước đến nay cháu K1 sống với chị N, cuộc sống đã ổn định, không nên thay đổi người nuôi con làm xáo trộn cuộc sống của cháu nên cần giao cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng cháu K1 là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Tuy nhiên, vì lợi ích của con chung sau này, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con.
[4] Về cấp dưỡng: chị N không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận. Vì lợi ích con chung sau này, khi cần thiết chị N có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về chia tài sản chung: chị N, anh K thống nhất tài sản chung của anh chị gồm có: 01 chiếc xe Vision biển kiểm soát 71K1-047.23 do anh đứng tên hiện nay do chị N đang quản lý sử dụng. 01 máy giặt hiệu Aqua; 01 ti vi hiệu Aqua; 02 máy lạnh: 01 cái hiệu Comfee, 01 cái hiệu Media; 01 cái máy uốn tóc hiệu Kassi; 01 cái nồi chiên không dầu; 01 máy ép rau củ quả; 02 bồn gội đầu. Những tài sản vừa liệt kê chị N đang quản lý, sử dụng. 01 chiếc nhẫn cưới 01 chỉ vàng 18K anh K đang quản lý. Anh K với chị N thống nhất giá trị còn lại của 01 chiếc xe Vision biển kiểm soát 71K1-047.23 là 25.000.000 đồng. Anh K đồng ý nhận tài sản là chiếc xe và hoàn trả lại cho chị N ½ giá trị tài sản là 12.500.000 đồng. Chị N đồng ý nên ghi nhận. Chị N có trách nhiệm giao cho anh K chiếc xe Vision biển kiểm soát 71K1-047.23 như đã thống nhất. Các tài sản khác gồm: 01 máy giặt hiệu Aqua; 01 ti vi hiệu Aqua; 02 máy lạnh: 01 cái hiệu Comfee, 01 cái hiệu Media; 01 cái máy uốn tóc hiệu Kassi; 02 bồn gội đầu. Những tài sản vừa liệt kê chị N đang quản lý, sử dụng. Chị N đồng ý giao cho anh K các tài sản này, không yêu cầu anh K hoàn lại cho chị ½ giá trị tài sản vừa nêu nên ghi nhận.
Đối với 01 cái nồi chiên không dầu; 01 máy ép rau củ quả hiện nay chị N đã đem về nhà chị N để lo cho con, anh K đồng ý cho chị N được quyền sở hữu 02 tài sản này, không yêu cầu chị N hoàn trả lại ½ giá trị tài sản nên ghi nhận.
Đối với 01 phần hụi đã mãng số tiền là 24.500.000 đồng; 02 chỉ vàng 24K 9999 anh K xác định là tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu chia đôi. Chị N không đồng ý vì 01 phần hụi đã mãng số tiền là 24.500.000 đồng là tài sản riêng của chị N. Xét thấy, tại “Biên bản hòa giải” ngày 03/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc chị N trình bày: “đối với 01 phần hụi đã mãng số tiền là 24.500.000 đồng đây là tài sản riêng lấy từ lợi tức của tiệm làm tóc Moon. Số vốn để mở tiệm làm tóc Moon này từ vàng cưới”. Như vậy có căn cứ xác định số tiền chị N dùng để đóng vào phần hụi trên có nguồn gốc từ tài sản chung của vợ chồng nên số tiền hụi 24.500.000 đồng là tài sản chung của vợ chồng, không phải tài sản riêng của chị N. Tuy nhiên, tại “Biên bản hòa giải” ngày 09/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, chị N trình bày: “Số tiền hụi 24.500.000 đồng hiện nay cũng không còn, đã sử dụng để lo chỗ ở cho cháu K1 như xây phòng, lát gạch tường cao đến la phông, đóng la phông, làm cửa”. Cũng tại biên bản này, anh K cũng xác định: “Số tiền hụi 24.500.000 đồng hiện nay không còn, đã sử dụng để lo chỗ ở cho cháu K1 như xây phòng, lát gạch tường cao đến la phông, đóng la phông, làm cửa”. Như vậy có căn cứ xác định, số tiền hụi 24.500.000 đồng nêu trên chị N đã sử dụng vào mục đích chung của gia đình (lo chỗ ở cho cháu K1), anh K cũng thừa nhận số tiền này hiện nay không còn. Tại phiên tòa, anh K đồng ý không yêu cầu chia số tiền hụi 24.500.000 đồng nên cần đình chỉ giải quyết yêu cầu này là phù hợp với quy định tại Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với 02 chỉ vàng 24K 9999, anh K yêu cầu chia đôi số vàng này mỗi người 01 chỉ vàng. Chị N không đồng ý vì hiện nay 02 chỉ vàng này không còn. Xét thấy, tại “Biên bản hòa giải” ngày 03/6/2025, chị N trình bày: “02 chỉ vàng 24K 9999 do mẹ tôi mượn đã trả cho vợ chồng tôi nhưng tôi giữ và đã bán sử dụng vào mục đích chung của vợ chồng vào năm 2024, vì thời điểm này anh K thất nghiệp, cháu K1 bị bệnh nên phải bán vàng để sử dụng. Khi tôi bán số vàng này tôi không nói cho anh K biết, anh K không biết tôi đã bán số vàng này nhưng tiền tôi bán vàng về có đưa cho anh K xài”. Như vậy, có cơ sở xác định vợ chồng anh K có tạo lập 02 chỉ vàng 24K9999 và chị N là người cất giữ số vàng này. Chị N cho rằng chị đã bán số vàng này để chi dùng vào chi phí chung của gia đình nhưng không có chứng cứ chứng minh. Chị N cũng xác định khi chị bán số vàng trên không nói cho anh K biết; anh K cũng không biết chị N đã bán 02 chỉ vàng này nên việc chị N tự định đoạt tài sản, bán 02 chỉ vàng, là tài sản chung của vợ chồng không có sự đồng ý của anh K là không phù hợp với quy định tại Điều 35 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Chị N phải có trách nhiệm hoàn trả lại cho anh K 01 chỉ vàng 24K9999. Yêu cầu này của anh K là có căn cứ nên được chấp nhận.
Đối với số tiền mặt 10.000.000 đồng và 01 chiếc nhẫn cưới 01 chỉ vàng 18K anh K, chị N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Tổng giá trị tài sản anh K được chia là 12.500.000 đồng ½ giá trị chiếc xe Vision biển kiểm soát 71K1-047.23; 01 chỉ vàng 24K9999, giá vàng tại thời điểm xét xử sơ thẩm có giá 10.620.000 đồng/chỉ. Chị N được nhận ½ giá trị chiếc xe Vision biển kiểm soát 71K1-047.23 là 12.500.000 đồng; 01 chỉ vàng 24K9999, giá vàng tại thời điểm xét xử sơ thẩm có giá 10.620.000 đồng/chỉ.
[6] Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị N, anh K không yêu cầu cấp dưỡng cho nhau sau khi ly hôn.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc là có căn cứ nên được chấp nhận.
[6] Về án phí: chị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chị N, anh K mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về chia tài sản chung là 1.156.0000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị N xin ly hôn đối với anh Huỳnh Tấn K;
- * Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Phạm Thị N với anh Huỳnh Tấn K.
- * Về nuôi con chung: chị Phạm Thị N được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là Huỳnh Phạm Minh K1, sinh ngày 10/12/2022.
Ghi nhận chị Phạm Thị N không yêu cầu anh Huỳnh Tấn K cấp dưỡng nuôi con.
Anh Huỳnh Tấn K được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền cản trở. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con. Chị Phạm Thị N có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- * Về chia tài sản chung:
- - Anh Huỳnh Tấn K được quyền sở hữu 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Vision biển kiểm soát 71K1-047.23 do anh Huỳnh Tấn K đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu và 01 (một) chỉ vàng 24K9999.
- Chị Phạm Thị N có trách nhiệm giao lại cho anh Huỳnh Tấn K 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Vision biển kiểm soát 71K1-047.23 do anh Huỳnh Tấn K đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu và 01 (một) chỉ vàng 24K9999.
- - Chị Phạm Thị N được quyền sở hữu 01 (một) chỉ vàng 24K9999 và 12.500.000 đồng giá trị ½ chiếc xe mô tô hiệu Vision biển kiểm soát 71K1-047.23 do anh Huỳnh Tấn K giao lại.
- Anh Huỳnh Tấn K có trách nhiệm hoàn trả cho chị Phạm Thị N giá trị ½ chiếc xe mô tô hiệu Vision biển kiểm soát 71K1-047.23 số tiền là 12.500.000đ (Mười hai triệu năm trăm ngàn đồng).
- - Ghi nhận chị Phạm Thị N đồng ý cho anh Huỳnh Tấn K được quyền sở hữu các tài sản gồm: 01 (một) máy giặt hiệu Aqua; 01 (một) ti vi hiệu Aqua; 02 (hai) máy lạnh: 01 (một) cái hiệu Comfee, 01 (một) cái hiệu Media; 01 (một) cái máy uốn tóc hiệu Kassi; 02 (hai) bồn gội đầu, không yêu cầu anh Huỳnh Tấn K hoàn trả ½ giá trị tài sản này cho chị Phạm Thị N. Chị Phạm Thị N đồng ý có trách nhiệm giao các tài sản này cho anh Huỳnh Tấn K.
- - Ghi nhận anh Huỳnh Tấn K đồng ý cho chị Phạm Thị N được quyền sở hữu các tài sản gồm: 01 (một) cái nồi chiên không dầu; 01 (một) máy ép rau củ quả hiện nay chị N đang quản lý sử dụng, không yêu cầu chị Phạm Thị N hoàn trả ½ giá trị tài sản này cho anh Huỳnh Tấn K.
- - Số tiền mặt 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) và 01 (một) chiếc nhẫn cưới 01 (một) chỉ vàng 18K anh K, chị N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
- * Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Phạm Thị N và anh Huỳnh Tấn K không yêu cầu cấp dưỡng cho nhau sau khi ly hôn.
2. Về án phí:
- Chị Phạm Thị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009422 ngày 26/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
- Chị Phạm Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.156.000đ (Một triệu một trăm năm mươi sáu ngàn đồng).
- Anh Huỳnh Tấn K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.156.000đ (Một triệu một trăm năm mươi sáu ngàn đồng) được trừ vào tạm ứng án phí số tiền 891.000₫ (Tám trăm chín mươi mốt ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứn án phí, lệ phí Tòa án số 0009530 ngày 09/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre. Anh K còn phải nộp tiếp 265.000₫ (Hai trăm sáu mươi lăm ngàn đồng).
3. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Minh Trung |
Bản án số 74/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 74/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị N tranh chấp Huỳnh Tấn K
