|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT TP. CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 74/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24/6/2025
V/v “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT – TP CẦN THƠ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Việt Thắng
- Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Trần Thúy Kiên
- Ông Nguyễn Viết Ngoan
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 130/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 175/2025/QÐST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Tài T - sinh năm 1998. (xin xét xử vắng mặt)
ĐKTT: Ấp F, thị trấn K, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Nơi ở hiện tại: Số E, ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Bị đơn: Ông Phạm Gia T1 - sinh năm 1999. (vắng mặt lần thứ 02)
Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 17 tháng 3 năm 2025 và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Tài T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Tài T và ông Phạm Gia T1 do tự tìm hiểu rồi tiến tới hôn nhân, tổ chức đám cưới vào năm 2020, đến năm 2022 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T thành phố Cần Thơ, theo giấy chứng nhận kết hôn số 64 ngày 27/4/2022. Trong quá trình chung sống giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông T1 không quan tâm chăm sóc gia đình, ăn chơi, cờ bạc gây nợ nần phải bán tài sản của vợ chồng để trả nợ, bà T nhiều lần khuyên ông T1 sửa đổi bản thân nhưng ông T1 không thay đổi nên mâu thuẫn giữa vợ chồng càng trở nên nghiêm trọng, đến giữa năm 2023 thì vợ chồng ly thân cho đến nay. Trong thời gian ly thân không có biện pháp để hàn gắn tình cảm, xóa bỏ mâu thuẫn. Nay nhận thấy cuộc hôn nhân với ông T1 không còn hạnh phúc nữa nên bà T xin ly hôn.
- Về con chung: Quá trình chung sống, ông, bà có 01 người con chung tên Phạm Trần Gia H (nữ), sinh ngày 08/11/2021. Từ khi sinh ra đến nay, cháu Gia H đều do bà T nuối dưỡng, chăm sóc. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung đến trưởng thành, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đối với ông Phạm Gia T1 theo quy định pháp luật, tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án ông T1 vắng mặt không rõ lý do.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Trần Thị T2 Trăm vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn ông Phạm Gia T1 vắng mặt lần thứ 02 không rõ lý do.
Đại viện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn do có cơ sở.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nhận thấy, hôn nhân giữa bà Trần Thị Tài T và ông Phạm Gia T1 là tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống xãy ra mâu thuẫn nên bà T khởi kiện xin ly hôn. Đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo biên bản xác minh ngày 12/5/2025 thì ông T1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ 02 không rõ lý do, Hội đồng xét xử căn cứ theo điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp.
[3] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Hội đồng xét xử nhận thấy vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, theo bà T3 thì trong thời gian vợ chồng chung sống ông T1 không quan tâm chăm sóc gia đình, không lo làm ăn, mà chơi bời, cờ bạc gây nợ nần khiến cho cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc.
Về phía ông Phạm Gia T1, quá trình giải quyết vụ án ông T1 đều vắng mặt không rõ lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà T. Do phía ông T1 không cung cấp tài liệu, chứng cứ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng chứng cứ đã thu thập được để xem xét yêu cầu của khởi kiện của bà T.
Xét lời trình bày của bà T tại biên bản lấy lời khai ngày 21/5/2025 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, bà T cho rằng từ khi ly thân đến nay vợ chồng đã không còn liên lạc để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm. Tại phiên tòa các đương sự đều vắng mặt, qua đó cho thấy mâu thuẫn trong hôn nhân đã trầm trọng, bà T3 và ông T1 đều không muốn níu kéo và bỏ mặt mối quan hệ hôn nhân này cho Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy, nếu tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân thì cũng không đạt được mục đích cuối cùng là đem lại hạnh phúc cho cả hai bên, do đó Hội đồng xét xử căn cứ theo Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình 2014 để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là phù hợp.
[4] Xét về con chung: Quá trình chung sống, giữa bà T và ông T1 có 01 người con chung tên Phạm Trần Gia H, sinh ngày 08/11/2021. Xét thấy, cháu Gia H là nữ, còn nhỏ tuổi nên cần sự quan tâm, chăm sóc đặt biệt để có thể phát triển như các trẻ khác. Nhận thấy, từ trước đến nay, cháu Gia H đều sinh sống với bà T và được đáp ứng đầy đủ các điều kiện sinh hoạt cơ bản của trẻ nhỏ; nếu giao con cho ông T1 nuôi dưỡng sẽ làm thay đổi môi trường, hoàn cảnh sống ảnh hưởng đến tâm lý và sự phát triển của cháu. Do đó, nghĩ nên giao con chung cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
Ngoài ra cũng dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông T1 để đảm bảo cho con chung nhận đầy đủ tình cảm từ cha mẹ như những trẻ khác.
Xét vấn đề cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của cha, mẹ, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Do không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ giải quyết thành vụ án khác.
[6] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị Tài T phải chịu án phí là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[7] Xét ý kiến phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có cơ sở.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 5; 28; 35; 39; 147; 207; 227; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 56, 81; 82; 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Nghị quyết Số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị Tài T và ông Phạm Gia T1.
Về con chung: Công nhận bà Trần Thị Tài T và ông Phạm Gia T1 có 01 người con chung tên Phạm Trần Gia H (nữ), sinh ngày 08/11/2021. Giao con chung cho bà T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành. Ông T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông T1 không ai được cản trở. Bà T, ông T1 có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con vì lợi ích của con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
Nếu sau này phát sinh tranh chấp về tài sản chung, nợ chung sẽ giải quyết thành một vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị Tài T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0002647 ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ. Công nhận bà T đã nộp xong án phí.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Việt T4 |
Bản án số 74/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT TP. CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 74/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT TP. CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà Trăm xin ly hôn với ông Thịnh
