TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 74/2025/HNGĐ-ST Ngày 13-11-2025 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Khanh
Bà Nguyễn Thị Tâm
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ly Ly - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7- Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7- Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 06/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2025 về Ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2025/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H; nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, thành phố Hải Phòng; có mặt
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H1; nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn H1 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 13-01-2011 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng, nay là xã V, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống anh chị hòa thuận hạnh phúc thời gian ngắn thì nảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không hợp tính nhau, luôn bất đồng quan điểm nên đã xảy ra bất hoà. Từ đầu năm 2025 đến nay vợ chồng anh chị sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau, đối xử với nhau lạnh nhạt. Nay nhận thấy tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H1.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn H1 có hai con chung là Nguyễn Hà L, sinh ngày 13-01-2012 và Nguyễn Quang V, sinh ngày 12-12-2016. Khi ly hôn, chị H đề nghị Tòa án giao con chung Nguyễn Quang V cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Nguyễn Hà L cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chị xin tự giải quyết với anh H1.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản ghi lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Văn H1 xác nhận về điều kiện hoàn cảnh kết hôn như chị Phạm Thị H trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hòa thuận hạnh phúc thời gian đầu và có hai con chung. Nay chị H xin ly hôn anh không có kiến gì.
Về con chung: Anh và chị H có hai con chung là Nguyễn Hà L, sinh ngày 13-01-2012 và Nguyễn Quang V, sinh ngày 12-12-2016. Khi ly hôn anh đề nghị Toà án giao cả hai con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con anh xin tự giải quyết với chị H.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đồng thời phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về: Thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách của những người tham gia tố tụng; thu thập chứng cứ. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật, bị đơn không tham gia các phiên họp, phiên tòa giải quyết, tại phiên tòa bị đơn vắng mặt không có lý do, tuy nhiên vi phạm của bị đơn không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
Về nội dung vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn H1. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Quang V, sinh ngày 12-12-2016 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Nguyễn Hà L, sinh ngày 13-01-2012 cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con anh chị không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn H1 không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Anh Nguyễn Văn H1 cư trú tại thôn Đ, xã V, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án ly hôn giữa chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn H1 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7- Hải Phòng.
[2] Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa, tuy nhiên anh H1 vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn H1.
- Về nội dung vụ án:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn H1 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng nay là xã V, thành phố Hải Phòng vào ngày 13-01-2011, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị hoà thuận thời gian đầu và có 02 con chung. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do bất đồng quan điểm, tính cách không hòa hợp nên đã xảy ra xô xát bất hòa. Nay chị H xác định tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, chị đề nghị được ly hôn anh H1. Quá trình giải quyết vụ án, anh H1 không có quan điểm về việc chị H xin ly hôn. Qua xác minh thì thấy, vợ chồng chị H và anh H1 có mâu thuẫn, từ đầu năm 2025 đến nay vợ chồng anh chị sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Yêu cầu của chị Phạm Thị H xin ly hôn anh Nguyễn Văn H1 phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình được chấp nhận.
[4] Về con chung: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn H1 có 02 con chung là Nguyễn Hà L, sinh ngày 13-01-2012 và Nguyễn Quang V, sinh ngày 12-12-2016. Khi ly hôn, chị H đề nghị Toà án giao con Nguyễn Quang V cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Nguyễn Hà L cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H1 đề nghị Toà án giao cả hai con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Xét yêu cầu đề nghị nuôi con của anh chị, Hội đồng xét xử nhận định: Chị H và anh H1 đều có nơi ở và thu nhập ổn định đủ điều kiện để nuôi con, con chung Nguyễn Hà L, sinh ngày 13-01-2012 có nguyện vọng xin ở với bố, con chung Nguyễn Quang V, sinh ngày 12-12-2016 có nguyện vọng xin ở với mẹ. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần chấp nhận yêu cầu của chị H, giao con chung Nguyễn Quang V, sinh ngày 12-12-2016 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Nguyễn Hà L, sinh ngày 13-01-2012 cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chị H và anh H1 tự giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn H1 không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn H1.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Quang V, sinh ngày 12-12-2016 cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Nguyễn Hà L, sinh ngày 13-01-2012 cho anh Nguyễn Văn H1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chị H và anh H1 tự giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn H1 không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị H đã nộp tạm ứng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000085 ngày 25-7-2025. Chị Phạm Thị H đã nộp đủ án phí.
Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương Huyền |
Bản án số 74/2025/HNGĐ-ST ngày 13/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 74/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn tranh chấp nuôi con giữa chị Phạm Thi H và anh Nguyễn Văn H
