Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 74/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 08/4/2025

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thư.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Phụng;
  2. Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lê Hồng Duyên, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 107/2025/TLST-HNGĐ về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Dương Kim T, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ A, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: Hẻm A ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai;

2. Bị đơn: Ông Trần Đức V, sinh năm 1996; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, bà Dương Kim T và ông Trần Đức V có văn bản yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai, nguyên đơn bà Dương Kim T trình bày: Bà và ông Trần Đức V sau thời gian quan nhau thì tiến tới hôn nhân năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận kết hôn số 240/KH/2016 ngày 29/12/2016, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và được hai bên gia đình chấp nhận. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại thành phố D, tỉnh Bình Dương đến năm 2022 thì bà chuyển về Hẻm A ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, ông V thường xuyên nhậu nhẹt, say xỉn, khi bà góp ý thì vợ chồng xảy ra cãi vã. Nhiều lần bà cũng như gia đình đã khuyên nhưng ông V không thay đổi, bà và ông V đã ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nay bà xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Đức V; Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống bà và ông V có 02 con chung tên Trần Kim N, sinh ngày 11/01/2014 và Trần Kim N1, sinh ngày 19/02/2021. Hiện nay 02 con chung đang sống cùng ông V. Sau khi ly hôn 02 con chung do ông Trần Đức V trực tiếp nuôi dưỡng và bà thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng/02 con cho đến khi các con đủ 18 tuổi; Về quan hệ tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về quan hệ nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại các biên bản làm việc, Bị đơn ông Trần Đức V trình bày: Ông và bà T chung sống với nhau năm 2016, có đăng ký kết hôn, hôn nhân tự nguyện gia đình chấp nhận. Vợ chồng chung sống đến 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp nhau, bất đồng quan điểm không tiếng nói chung nên vợ chồng không còn chung sống năm 2022 cho đến nay. Ông về nhà cha mẹ ruột tại L sinh sống, khi về quê ông có nói với bà T, bà T có về ở khoảng 15 ngày thì bỏ đi Bình Dương không về nữa cho đến nay. Nay bà T yêu cầu ly hôn ông đồng ý ly hôn; Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Trần Kim N, sinh ngày 11/01/2014 và Trần Kim N1, sinh ngày 19/02/2021. Hiện 02 con chung đang sống cùng ông, ông yêu cầu tiếp tục nuôi 02 con chung, đồng ý việc bà T cấp dưỡng cho 02 con chung mỗi tháng 2.000.000đồng (1.000.000đồng/01 cháu) cho đến khi thành niên; Về quan hệ tài sản chung: Không có; Về quan hệ nợ chung: Không có.

Nguyên đơn bà Dương Kim T và Bị đơn ông Trần Đức V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng bà T, ông V có yêu cầu vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Về ý kiến giải quyết: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình:

  • - Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Dương Kim T đối với ông Trần Đức V.
  • - Ông Trần Đức V được tiếp tục nuôi 02 con chung tên Trần Kim N, sinh ngày 11/01/2014 và Trần Kim N1, sinh ngày 19/02/2021.
  • - Công nhận sự tự nguyện của bà Dương Kim T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng (1.000.000 đồng/01 cháu) cho đến khi 02 con chung thành niên và có khả năng lao động.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bà Dương Kim T yêu cầu ly hôn với ông Trần Đức V, ông V có nơi cư trú ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Tại phiên tòa, Nguyên đơn bà Dương Kim T và Bị đơn ông Trần Đức V có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên là có căn cứ.

[3] Bà Dương Kim T yêu cầu ly hôn với ông Trần Đức V, bà T và ông V có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình làm việc, bà T và ông V đều xác định do không hợp nhau, bất đồng quan điểm không tiếng nói chung nên vợ chồng không còn chung sống từ năm 2022 cho đến nay, hiện nay bà T yêu cầu ly hôn, ông V đồng ý. Tuy nhiên, do bà T và ông V đều có yêu cầu vắng mặt tại các phiên hòa giải của Tòa án, nên không thể công nhận sự thuận tình ly hôn giữa các đương sự. Do đó, trên cơ sở ý kiến trình bày của các đương sự trong quá trình giải quyết, xét thấy cuộc sống hôn nhân của bà T và ông V xảy ra nhiều mâu thuẫn, dẫn đến vợ chồng không còn sống chung, trong thời gian này hai bên cũng không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu chung sống với nhau cũng không hạnh phúc. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T là phù hợp theo quy định pháp luật.

[4] Về quan hệ con chung: Trong thời gian chung sống, bà T và ông V xác định vợ chồng có 02 con chung tên Trần Kim N, sinh ngày 11/01/2014 và Trần Kim N1, sinh ngày 19/02/2021. Hiện 02 con chung đang sống chung với ông V. Quá trình giải quyết, bà T đồng ý để ông V tiếp tục nuôi 02 con chung. Tòa án ghi nhận nguyện vọng của con chung, cháu N muốn sống chung với ông V. Xét thấy, từ khi vợ chồng không còn sống chung với nhau, 02 con chung do ông vương trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên tâm tư tình cảm của cháu gắn liền với người nuôi dưỡng và trong quá trình giải quyết ông V cũng đồng ý đối yêu cầu này của bà T. Do đó, để ông V được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N và cháu N1 là phù hợp với pháp luật và nguyện vọng của con chung.

[5] Đối với cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình giải quyết, bà T đồng ý tự nguyện cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng/02 con, ông V cũng đồng ý với yêu cầu này của bà T, nên Hội đồng xét xử xét ghi nhận sự tự nguyện của bà T.

[6] Về quan hệ tài sản chung: Bà T, ông V thống nhất không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[7] Về quan hệ nợ chung: Bà T, ông V thống nhất không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[8] Án phí hôn nhân sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

  • - Các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Kim T đối với ông Trần Đức V.

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Kim T được ly hôn với ông Trần Đức V.
  • - Về quan hệ con chung: Ông Trần Đức V được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung tên Trần Kim N, sinh ngày 11/01/2014 và Trần Kim N1, sinh ngày 19/02/2021. Bà Dương Kim T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 2.000.000 (hai triệu) đồng (1.000.000 (một triệu)đồng/01 con chung) cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động.
  • Ông Trần Đức V cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
  • Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
  • - Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
  • - Về quan hệ nợ chung: Không có. Ghi nhận việc bà Dương Kim T và ông Trần Đức V xác định không có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì bà Dương Kim T và ông Trần Đức V phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
  • - Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Dương Kim T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0001717 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương cấp ngày 10 tháng 10 năm 2024. Bà Dương Kim T phải nộp thêm số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND H. Chợ Mới;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Chi cục THADS H. Chợ Mới;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Anh Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 74/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Đức V; Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống bà và ông V có 02 con chung tên Trần Kim N, sinh ngày 11/01/2014 và Trần Kim N1, sinh ngày 19/02/2021. Hiện nay 02 con chung đang sống cùng ông Vương. Sau khi ly hôn 02 con chung do ông Trần Đức V trực tiếp nuôi dưỡng và bà thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng/02 con cho đến khi các con đủ 18 tuổi; Về quan hệ tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về quan hệ nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger