Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÁ THƯỚC

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2025/HNGĐ-ST

Ngày 05 tháng 6 năm 2025 về việc

“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁ THƯỚC, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Lương Thanh Hải
  • Bà Phạm Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 18/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 08 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hà Thị H; Sinh năm: 1993.

Địa chỉ: Thôn Chiềng Mới, xã Văn Nho, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt tại phiên tòa).

2. Bị đơn: Anh Hà Văn H; Sinh năm: 1990 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Chiềng Mới, xã Văn Nho, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 02 năm 2025 và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Hà Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân:

Chị H và anh Hà Văn H chung sống với nhau tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và đã thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định tại UBND xã Văn Nho, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 18/9/2012. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, từ khi chị H mang thai cháu thứ 2 (năm 2016) thì vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là anh H thường xuyên xúc phạm và bạo lực gia đình, đến năm 2021 vợ chồng gửi các con cho ông bà ngoại nuôi để cùng đi làm xa; tuy vợ chồng cùng làm một nơi, ăn ở cùng nhau nhưng anh H thường xuyên ghen tuông vô cớ, do đó chị H đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hà Văn H.

- Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Quá trình chung sống vợ chồng có hai chung là Hà Minh Hoàng, sinh ngày 28/8/2012 và Hà Duy Khang, sinh ngày 29/7/2016. Hiện tại hai cháu Hoàng và Khang đang sống cùng chị H nên khi ly hôn chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai cháu Hoàng và Khang; Chị H không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và công nợ: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các thông báo, giấy triệu tập và các văn bản, quyết định tố tụng cho anh Hà Văn H nhưng anh H không có mặt tại Tòa án để làm bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không có mặt tại Tòa án để tham gia các phiên tòa.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát huyện Bá Thước tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và Nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật; Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn không đến Tòa án để làm việc theo giấy triệu tập và thông báo của Tòa án là không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Về yêu cầu của người khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Nguyên đơn được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Hà Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về ly hôn, nuôi con với anh Hà Văn H. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Hà Văn H có nơi cư trú tại thôn Chiềng Mới, xã Văn Nho, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa có thẩm quyền giải quyết vụ án.

Nguyên đơn chị Hà Thị H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đối với chị H.

Bị đơn anh Hà Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không lý do, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đối với anh H.

[2] Về nội dung:

- Về hôn nhân:

Nguyên đơn chị Hà Thị H và bị đơn anh Hà Văn H chung sống với nhau tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 18/9/2012 tại UBND xã Văn Nho, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa, đây là hôn nhân hợp pháp; Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H thường xuyên ghen tuông, xúc phạm vợ và bạo lực gia đình; chị H và anh H đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay, người nào biết người nấy, không còn quan tâm tới nhau, hiện tại vợ chồng không còn tình cảm, hôn nhân không hạnh phúc nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Bị đơn anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh H không có mặt tại Tòa án để tham gia phiên họp, chứng tỏ anh H cũng không tha thiết hòa giải để đoàn tụ gia đình.

Quá trình thu thập chứng cứ tại địa phương phản ánh: Anh H và chị H trong thời gian sinh sống tại địa phương có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H đi làm ăn xa dẫn đến tình cảm có sự ngăn cách, tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, không thông cảm cho nhau, mặc dù đã được hai bên gia đình động viên đoàn tụ nhưng không có kết quả.

Xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh H đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị H được ly hôn với anh H là có căn cứ.

- Về con chung, cấp dưỡng nuôi con:

Chị H và anh H có hai con chung là cháu Hà Minh Hoàng, sinh ngày 28/8/2012 và Hà Duy Khang, sinh ngày 29/7/2016; Khi ly hôn chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai cháu Hoàng và Khang; Chị H không đề nghị anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tòa án đã triệu tập anh H để lấy ý kiến về việc tranh chấp nôi con cũng như tham gia các phiên hòa giải, tham gia phiên tòa, tuy nhiên anh H không có mặt để làm việc và cũng không có văn bản ý kiến trình bày gửi cho Tòa án.

Xét thấy chị H có đủ điều kiện nuôi dạy, chăm sóc, giáo dục con đảm bảo tốt về mọi mặt và hiện tại hai cháu Hoàng và Khang đang ở với chị H; Nguyện vọng của hai cháu Hoàng và Khang là mong muốn được ở với chị H; Để không xáo trộn việc sinh hoạt và học tập của hai cháu Hoàng và Khang nên khi ly hôn giao cháu Hoàng và Khang cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với yêu cầu của chị H, phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình và Điều 6, Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Về tài sản và công nợ chung: Nguyên đơn chị Hà Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

- Về án phí: Nguyên đơn là hộ cận nghèo; Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nguyên đơn được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

- Về quyền kháng cáo: Chị H và anh H có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hà Thị H.

    Chị Hà Thị H được ly hôn anh Hà Văn H.

  2. Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Chị H, anh H có hai con chung là Hà Minh Hoàng, sinh ngày 28/8/2012 và Hà Duy Khang, sinh ngày 29/7/2016. Khi ly hôn giao hai cháu Hoàng và Khang cho chị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền qua lại thăm nom các con không ai được ngăn cấm, cản trở.
  3. Về tài sản và công nợ: Nguyên đơn chị Hà Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Hà Thị H được miễn án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Hà Thị H, anh Hà Văn H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Bá Thước;
  • - Chi cục THADS huyện Bá Thước;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND xã Văn Nho;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ./.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Hoàng Văn Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2025/HNGĐ-ST ngày 05/06/2025 của Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 74/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huấn - Hơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger