|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 74/2025/HNGĐ-PT Ngày 26-11-2025 “Về việc Ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn, tranh chấp hợp đồng tặng cho QSDĐ, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ, tranh chấp QSDĐ, tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Tôn.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Chí Dững
Bà Kiều Kim Xuân
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Nguyệt Quỳnh Nhi là Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Ngọc Trang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 13 tháng 11, ngày 26 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 58/2025/TLPT-HNGĐ ngày 10/10/2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn, tranh chấp hợp đồng tặng cho QSDĐ, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ, tranh chấp QSDĐ, tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 45/2025/HNGĐ-ST ngày 24 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đồng Tháp) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 29/2025/QĐ-PT ngày 29 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tích L, sinh năm 1953;
Địa chỉ: Ấp R, xã T, tỉnh Đồng Tháp;
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Tích L: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1963; (theo Văn bản ủy quyền ngày 03/4/2023)
Địa chỉ: Tổ B, khóm M, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1955;
Địa chỉ: Ấp R, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị G: Ông Lê Văn L1, sinh năm 1956; (theo Văn bản ủy quyền ngày 18/7/2025)
Địa chỉ: Số A, đường V, phường H, tỉnh Đồng Tháp.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1977;
Địa chỉ: Khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp.
3.2. Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1979;
Địa chỉ: Khóm D, phường A, tỉnh Đồng Tháp.
3.3. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
3.4. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965;
Địa chỉ: Số A, đường T, phường A, tỉnh Đồng Tháp.
3.5. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1970;
Địa chỉ: Khóm T, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
3.6. Ông Trần Thanh Q, sinh năm 1970;
Địa chỉ: Ấp R, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
3.7. Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Đồng Tháp;
Địa chỉ: Xã T, tỉnh Đồng Tháp.
3.8. Ủy ban nhân dân xã A, tỉnh Đồng Tháp;
Địa chỉ: Xã A, tỉnh Đồng Tháp.
(Bà Nguyễn Thị M, ông Lê Văn L1, anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị D, chị Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn S, ông Trần Thanh Q có mặt tại phiên tòa. Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Đồng Tháp, Ủy ban nhân dân xã A, tỉnh Đồng Tháp vắng mặt tại phiên tòa không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 26-12-2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 03-02–2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Tích L và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị M trình bày:
Năm 1978, ông L và bà G có chung sống nhưng đến thời điểm hiện nay thì chưa đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống thì ông L và bà G có 02
con chung tên Nguyễn Thị D, sinh năm 1979 và Nguyễn Thị H1, sinh năm 1984. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng dần về sau thì vợ chồng có nhiều mâu thuẫn. Nay bà G yêu cầu ly hôn thì ông L có ý kiến như sau:
- Về hôn nhân: Ông L thống nhất ly hôn với bà Nguyễn Thị G.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị D, sinh năm 1979 và Nguyễn Thị H1, sinh năm 1984, đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng, ông Nguyễn Tích L và bà Nguyễn Thị G có các tài sản chung nhưng không thống nhất về việc phân chia. Nay ông L yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như sau:
Thứ nhất: Căn nhà, diện tích đất 139,3m², thửa số 07, tờ bản đồ 58, loại đất ở đô thị, tọa lạc tại khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Ngày 29-7-2020, đã tặng cho anh Nguyễn Văn H, hiện bà G và anh H đang quản lý sử dụng, tiếp tục giao cho anh H quản lý sử dụng. Ông L không yêu cầu chia tài sản chung này.
Thứ 2: Diện tích đất 5.365,7m² tại thửa 925, tờ bản đồ số 08, loại đất nuôi trồng thủy sản, được Sở T2 cấp giấy ngày 13-12-2021 cho hộ ông Nguyễn Tích L, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn S diện tích 3.941,3m². Còn lại diện tích 1.424,4m², có căn nhà và mồ mã ông bà, cha mẹ của ông L. Ông L yêu cầu được nhận đất, tài sản trên đất và toàn bộ tài sản trong căn nhà, ông L đồng ý chia cho bà G ½ giá trị tài sản.
Thứ 3: Diện tích đất 10.670,4m², tại thửa 121, tờ bản đồ số 02, loại đất chuyên trồng lúa nước, được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy ngày 10-12-2013 cho hộ ông Nguyễn Tích L, tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Ông L và bà G cho anh H nhưng anh H không nhận. Ông L yêu cầu chia cho vợ chồng ông L, bà G mỗi người được hưởng 5.335,2m².
Thứ 4: Diện tích đất 9.894,1m², tại thửa 128, tờ bản đồ số 02, loại đất chuyên trồng lúa nước, được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy ngày 10-12-2013 cho hộ ông Nguyễn Tích L, tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Ông L và bà G cho anh H nhưng anh H không nhận. Ông L yêu cầu chia 2 cho vợ chồng ông L, bà G mỗi người được hưởng 4.947,05m².
Thứ 5: Diện tích đất 25.972,9m², tại thửa 886, tờ bản đồ số 08, loại đất chuyên trồng lúa nước, được Sở T2 cấp giấy ngày 13-12-2021 cho hộ ông Nguyễn Tích L, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, hiện ông L, chị D, chị H1, ông S đang quản lý, sử dụng. Trước đây vợ chồng ông L thống nhất cho con Nguyễn Thị D và Nguyễn Thị H1 mỗi người 10.000m2, phần diện tích 700,1m² thì ông L đồng ý chuyển nhượng cho ông S và đã giao cho ông S quản lý, sử dụng nên cũng thống nhất tiếp tục chuyển nhượng cho ông S. Phần còn
lại diện tích 5.272,8m², ông L yêu cầu chia 2 cho vợ chồng ông L, bà G mỗi người được hưởng 2.636,4m².
Thứ 6: Diện tích đất 18.405,6m², tại thửa 924, tờ bản đồ số 08, loại đất nuôi trồng thủy sản, được Sở T2 cấp giấy ngày 13-12- 2021 cho hộ bà Nguyễn Thị G, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn S diện tích 15.206,1m2. Diện tích còn lại là 3.199,5m², ông L yêu cầu chia 2 cho vợ chồng mỗi người được hưởng là 1.599,75m².
Về nợ chung và người khác nợ:
Số tiền chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Văn S, ông L và bà G đã nhận trước là 3.200.000.000 đồng đã trả cho Ngân hàng N là 2.824.066.850 đồng, còn lại là 375.933.000 đồng (đã làm tròn). Ông L và bà G đã tiêu xài chung khi vợ chồng còn chung sống hiện ông L không còn giữ nên ông L không đồng ý chia 1/2 số tiền này theo yêu cầu của bà G.
Nợ ông Trần Thanh Q, sinh năm 1970, Địa chỉ: Ấp R, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp số tiền gốc là 350.000.000 đồng và tiền lãi 84.000.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 434.000.000 đồng. Ông L thống nhất cùng bà G trả cho ông Q.
Đối với số tiền chuyển nhượng đất ông Nguyễn Văn S còn nợ là 2.555.775.000 đồng. Sau khi trả nợ cho ông Q còn lại số tiền là 2,121,775.000 đồng. Ông L yêu cầu chia đôi mỗi người được hưởng 1.060.888.000 đồng (đã làm tròn).
Theo đơn yêu cầu phản tố ngày 05-6-2023 quá trình giải quyết vụ và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn Nguyễn Thị G và đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Lê Văn L1 trình bày:
Năm 1978, ông L và bà G có chung sống nhưng đến thời điểm hiện nay thì chưa đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống thì ông L và bà G có 02 con chung tên Nguyễn Thị D, sinh năm 1979 và Nguyễn Thị H1, sinh năm 1984. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng dần về sau thì vợ chồng có nhiều mâu thuẫn. Nay bà Nguyễn Thị G đề nghị Tòa án xem xét yêu cầu phản tố:
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị G yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Tích L.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị D, sinh năm 1979 và Nguyễn Thị H1, sinh năm 1984, đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Bà G thống nhất khi chung sống bà G và ông L có các tài sản như ông L trình bày và bà G có ý kiến như sau:
Thứ nhất: Căn nhà, diện tích đất 139,3m², thửa số 07, tờ bản đồ 58, loại đất ở đô thị, tọa lạc tại khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Ngày 29-7-2020, đã tặng cho anh Nguyễn Văn H, hiện bà G và anh H đang quản lý
sử dụng, tiếp tục giao cho anh H quản lý sử dụng. Bà G thống nhất không chia tài sản chung này.
Thứ 2: Diện tích đất 5.365,7m², thuộc thửa 925, tờ bản đồ số 08, loại đất nuôi trồng thủy sản, được Sở T2 cấp giấy ngày 13-12-2021 cho hộ ông Nguyễn Tích L, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn S diện tích 3.941,3m². Còn lại diện tích 1.424,4m², trên đất có căn nhà và mồ mã ông bà, cha mẹ của ông L. Bà G thống nhất để nhà, đất, 01 nhà kho trên đất và toàn bộ tài sản trong nhà cho ông L quản lý, sử dụng. Bà G yêu cầu nhận giá trị nhà và đất.
Thứ 3: Diện tích đất 10.670,4m², thuộc thửa 121, tờ bản đồ số 02, loại đất chuyên trồng lúa nước, được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy ngày 10-12-2013 cho hộ ông Nguyễn Tích L, tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Hiện anh H đang quản lý, sử dụng. Anh H đồng ý giao trả cho ông L và bà G nên bà G yêu cầu chia theo quy định.
Thứ 4: Diện tích đất 9.894,1m², thuộc thửa 128, tờ bản đồ số 02, loại đất chuyên trồng lúa nước, được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy ngày 10-12-2013 cho hộ ông Nguyễn Tích L, tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, hiện anh H đang quản lý, sử dụng. Anh H đồng ý giao trả cho ông L và bà G nên bà G yêu cầu chia theo quy định.
Thứ 5: Diện tích đất 25.972,9m², thuộc thửa 886, tờ bản đồ số 08, loại đất chuyên trồng lúa nước, được Sở T2 cấp giấy ngày 13-12- 2021 cho hộ ông Nguyễn Tích L, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, hiện ông L, chị D, chị H1, ông S đang quản lý, sử dụng. Bà G không thống nhất tặng cho chị D, chị H1 và không thống nhất chuyển nhượng cho ông S, yêu cầu chị D, chị H1 và ông S trả lại để Tòa án xem xét chia đôi theo quy định của pháp luật.
Thứ 6: Thửa đất diện tích 18.405,6m², tại thửa 924, tờ bản đồ số 08, loại đất nuôi trồng thủy sản, được Sở T2 cấp giấy ngày 13-12-2021 cho hộ bà Nguyễn Thị G, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn S diện tích 15.206,1m². Diện tích còn lại là 3.199,5m², bà G yêu cầu chia đôi theo quy định của pháp luật.
Về nợ chung và người khác nợ:
Số tiền chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Văn S là 5.552.746.000 đồng. Ông L đã nhận trước là 3.200.000.000 đồng. Còn lại số tiền là 2.352.746.000 đồng yêu cầu chia đôi số tiền mỗi người được hưởng là 1.176.373.000 đồng.
Số tiền chuyển nhượng, ông L và bà G đã nhận trước là 3.200.000.000 đồng đã trả cho Ngân hàng N là 2.824.066.850 đồng, còn lại là 375.933.000 đồng (đã làm tròn). Bà G cho rằng ông L đã tiêu xài cá nhân. Nay bà G yêu cầu ông L trả lại 1/2 của số tiền 375.933.000 đồng : 2 = 187.967.000 đồng (đã làm tròn).
Đối với tiền nợ của ông Trần Thanh Q, sinh năm 1970; Địa chỉ: Ấp R, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, số tiền gốc là 350.000.000 đồng và tiền lãi 84.000.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 434.000.000 đồng thì bà G không biết việc ông L vay của ông Q và ông L cũng không nói lại với bà G là có vay tiền của ông Q nên bà G không thống nhất cùng ông L trả cho ông Q.
- Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn H trình bày: Thống nhất theo lời trình bày của bà Nguyễn Thị G và ông Nguyễn Tích L, anh H thống nhất nhận căn nhà, diện tích đất 139,3m², thửa số 07, tờ bản đồ 58, loại đất ở đô thị, tọa lạc tại khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp đã tặng cho anh H.
Đối với phần tài sản anh H đang quản lý sử dụng gồm:
1. Diện tích đất 10.670,4m², tại thửa 121, tờ bản đồ số 02, loại đất chuyên trồng lúa nước, được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy ngày 10-12-2013 cho hộ ông Nguyễn Tích L, tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Anh H thống nhất trả lại cho ông L và bà G để chia theo quy định của pháp luật.
2. Diện tích đất 9.894,1m², tại thửa 128, tờ bản đồ số 02, loại đất chuyên trồng lúa nước, được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy ngày 10-12-2013 cho hộ ông Nguyễn Tích L, tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Anh H thống nhất trả lại cho ông L và bà G để chia theo quy định của pháp luật.
- Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị D trình bày:
Năm 2005, cha mẹ chị D là ông Nguyễn Tích L và bà Nguyễn Thị G có tặng cho chị D phần đất diện tích theo đo đạc thực tế là 10.000,1m², thuộc một phần thửa 886, tờ bản đồ số 8, mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước (nhưng thực tế là đất ao), tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Chị D đã quản lý, sử dụng từ khi được tặng cho đến năm 2015 thì cha mẹ cần vay tiền nuôi cá nên đem giấy chứng nhận đi thế chấp Ngân hàng. Do đó, không thực hiện thủ tục chuyển quyền theo quy định được. Đến ngày 29-8-2022, cha mẹ đi làm thủ tục tặng cho chị D nhưng anh H con riêng của bà G không đồng ý nên hồ sơ chưa được công chứng, chứng thực và chưa được cấp giấy chứng nhận.
Nay, chị Nguyễn Thị D yêu cầu ông Nguyễn Tích L và bà Nguyễn Thị G tiếp tục thực hiện hợp đồng tặng cho phần đất diện tích theo đo đạc thực tế là 10.000,1m², thuộc một phần thửa 886, tờ bản đồ số 08, loại đất chuyên trồng lúa nước, được Sở T2 cấp giấy ngày 13-12-2021 cho hộ ông Nguyễn Tích L, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H1 trình bày:
Năm 2005, cha mẹ chị H1 là ông Nguyễn Tích L và bà Nguyễn Thị G có tặng cho chị H1 phần đất diện tích theo đo đạc thực tế là 9.999,6m², thuộc một
phần thửa 886, tờ bản đồ số 8, mục đích sử dụng: đất chuyên trồng lúa nước (nhưng thực tế là đất ao), tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Chị H1 đã quản lý, sử dụng từ khi tặng cho đến năm 2015 thì cha mẹ cần vay tiền để nuôi cá nên đem giấy chứng nhận đi thế chấp Ngân hàng. Do đó, không thực hiện thủ tục chuyển quyền theo quy định. Đến ngày 29-8-2022, cha mẹ đi làm thủ tục tặng cho chị H1 nhưng anh H con riêng của bà G không đồng ý nên hồ sơ chưa được công chứng, chứng thực và chưa được cấp giấy chứng nhận.
Nay chị H1 yêu cầu ông Nguyễn Tích L và bà Nguyễn Thị G tiếp tục thực hiện hợp đồng tặng cho phần đất diện tích theo đo đạc thực tế là 9.999,6m², thuộc một phần thửa 886, tờ bản đồ số 08, loại đất chuyên trồng lúa nước, được Sở T2 cấp giấy ngày 13-12-2021 cho hộ ông Nguyễn Tích L, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T trình bày:
Năm 1993, bà T được cha mẹ cho một phần diện tích đất theo đo đạc thực tế 7.906,8m², thửa 111, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Từ khi cha mẹ cho thì bà T vẫn quản lý, sử dụng cho đến nay.
Trước đó, khi nhà nước cho đi đăng ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì vợ chồng bà G và ông L nói cần vốn làm ăn nên cho vợ chồng bà G đứng tên trong giấy chứng nhận để đi vay vốn vì bà T là em ruột bà Nguyễn Thị G nên bà T cũng đồng ý.
Đến ngày 29-8-2022, vợ chồng ông L và bà G lập thủ tục chuyển quyền sử dụng đất qua cho bà T thì anh H là con riêng của bà G không thống nhất ký tên nên không lập thủ tục chuyển quyền cho bà T được.
Nay, bà Nguyễn Thị T yêu cầu ông L và bà G thực hiện chuyển quyền phần đất diện tích 7.906,8m², thuộc thửa đất 111, tờ bản đồ số 02, loại đất chuyên trồng lúa, tại ấp A, xã A, huyện T đất do hộ ông Nguyễn Tích L đứng tên cho bà T đứng tên theo quy định.
- Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Thanh Q trình bày:
Từ năm 2021 đến năm 2022 thì ông L và bà G có hỏi vay của ông Q nhiều lần và có trả được một phần. Đến ngày 19-01-2022, ông Nguyễn Tích L có đến nhà ông Q chốt nợ và ghi lại biên nhận là có hỏi vay ông Trần Thanh Q số tiền là 350.000.000 đồng, mục đích mua thức ăn cho cá và hứa 08 tháng sau khi ông L bán cá sẽ trả cả gốc và lãi, lúc vay thỏa thuận lãi suất là 2%/tháng. Đến ngày 19-8-2022, ông L bán cá nhưng bị lỗ nên không có tiền trả cho ông Q, nên ông L hẹn đến 02 tháng sau khi chuyển nhượng (bán) đất cho ông S sẽ trả cho ông Q tiền gốc và lãi.
Nhưng từ đó đến nay thì ông L không trả gốc lãi gì cho ông Q. Trước đó, ông Q có đến nhà yêu cầu trả tiền thì bà G hỏi thiếu bao nhiêu thì ông Q có nói
là 350.000.000 đồng. Nhận thấy việc vay tiền của ông Q là để sử trong gia đình, bà G cũng biết rõ. Nhưng nay ông L và bà G khởi kiện chia tài sản tại Tòa án thì bà G cho rằng không biết số tiền này thì ông Q không thống nhất.
Nay ông Trần Thanh Q yêu cầu ông L và bà G trả số tiền vay còn thiếu gốc là 350.000.000 đồng và lãi là 84.000.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 434.000.000 đồng. Mỗi người trả cho ông Q số tiền gốc là 175.000.000 đồng, tiền lãi là 42.000.000 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 217.000.000 đồng.
- Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn S trình bày:
Vào ngày 13-8-2022, ông Nguyễn Tích L và bà Nguyễn Thị G có làm Hợp đồng chuyển nhượng cho ông S phần đất diện tích tạm tính là 21.000m², với giá là 290.000.000đồng/1.000m², khi ký hợp đồng có đưa trước cho vợ chồng ông L và bà G số tiền cọc là 200.000.000 đồng. Số tiền còn lại sẽ đưa khi ra công chứng hoàn thiện hồ sơ. Đến ngày 15-9-2022, hai bên hẹn lên Ủy ban nhân xã T ký thủ tục chuyển quyền thì ông S có đưa thêm cho vợ chồng ông Tích L và bà G số tiền 3.000.000.000 đồng. Khi giao tiền là giao tại nhà ông L và bà G, bà G là người trực tiếp nhận tiền và đem tiền trả Ngân hàng N chi nhánh huyện T. Khi đó, bà G có nói về kêu các con ký đủ thủ tục để ông S giao số tiền còn lại. Tuy nhiên, sau đó gia đình ông L và bà G kỳ kèo không ký thủ tục sang nhượng cho ông S theo lời đã thỏa thuận mà các bên xảy ra tranh chấp tại Tòa án. Đến ngày 01-6-2023, khi Tòa án mời hòa giải vụ việc của vợ chồng ông Tích L và bà G về việc tranh chấp tài sản thì ông L, bà G và các con đều thống nhất chuyển nhượng cho ông S. Tuy nhiên, đến ngày hẹn ký hợp đồng chuyển nhượng thì gia đình ông L và bà G lại không thống nhất.
Nay ông Nguyễn Văn S yêu cầu ông Nguyễn Tích L và bà Nguyễn Thị G tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 19.847,5m², thuộc một phần thửa 925, một phần thửa 924 và một phần thửa 886, tờ bản đồ số 8, mục đích sử dụng: Đất nuôi trồng thủy sản và đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Đối với số tiền chuyển nhượng còn lại 2.555.775.000 đồng thì ông S đồng ý trả cho ông L và bà G mỗi người là 1.277.888.000 đồng (đã làm tròn).
- Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân huyện T có ý kiến: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, Ủy ban nhân dân Huyện đã cung cấp các thông tin, tài liệu, chứng cứ để phục vụ công tác xét xử, cũng như bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình theo đúng quy định. Ủy ban nhân dân Huyện giữ nguyên những thông tin, tài liệu đã cung cấp cho Tòa án.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân xã T có ý kiến: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, Ủy ban nhân dân Xã đã cung cấp các thông tin, tài liệu, chứng cứ để phục vụ công tác xét xử, cũng như bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình theo dáng quy định. Ủy ban nhân dân Xã giữ nguyên những thông tin, tài liệu đã cung cấp cho Tòa án.
Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 45/2025/HNGĐ-ST ngày 24 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Đồng Tháp), quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H1.
Không chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị D.
Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T.
Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn S.
Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Thanh Q.
Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Nguyễn Tích L.
Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị G.
1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Tích L và bà Nguyễn Thị G.
2. Về con chung: Bà G và ông L có 02 con chung tên Nguyễn Thị D, sinh năm 1979 và Nguyễn Thị H1, sinh năm 1984, đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về tài sản chung:
Ông Nguyễn Tích L được quyền sở hữu các tài sản:
Thứ nhất: Diện tích đất 1.424,4m², thuộc một phần thửa 925, tờ bản đồ số 08, loại đất nuôi trồng thủy sản, được Sở T2 cấp giấy ngày 13-12-2021 cho hộ ông Nguyễn Tích L, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp trên phần đất có căn nhà cấp 4, mái tol, trần tol, khung bê tông cốt thép, tường xây gạch diện tích 125,1m² + 79,1m² và mái che diện tích 63,2m² và toàn bộ vật dụng trong nhà. Ông L có nghĩa vụ trả cho bà G ½ giá trị tài sản số tiền là 501.601.000 đồng (đã làm tròn).
Có vị trí trong phạm vi các mốc: Từ M29 đến M30, M31, M32, M29.
Thứ 2: Diện tích đất 3.199,5m², thuộc một phần thửa 924, tờ bản đồ số 08, loại đất nuôi trồng thủy sản, được Sở T2 cấp giấy ngày 13-12-2021 cho hộ bà Nguyễn Thị G, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Ông L có nghĩa vụ trả cho bà G ½ giá trị tài sản với số tiền là 110.658.000 đồng (đã làm tròn).
Có vị trí trong phạm vị các mốc: Từ M27 đến M28, M33, M27.
Thứ 3: Diện tích đất 15.273,2m², thuộc một phần thửa 886, tờ bản đồ số 08, loại đất chuyên trồng lúa nước, được Sở T2 cấp giấy ngày 13-12-2021 cho hộ ông Nguyễn Tích L, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Ông L có nghĩa vụ trả lại cho bà G số tiền chênh lệch là 355.968.000 đồng.
Có vị trí trong phạm vi các mốc: Từ M27 đến M33, M11, M12, M13, M114, M15, M16, M24, M23, M27.
(Có Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 27-03-2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng; Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 27-03-2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T kèm theo)
Thứ 4: Diện tích đất 10.670,4m², tại thửa 121, tờ bản đồ số 02, loại đất chuyên trồng lúa nước, được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy ngày 10-12-2013 cho hộ ông Nguyễn Tích L, tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Ông L có nghĩa vụ trả lại cho bà G ½ giá trị tài sản với số tiền là 358.354.000 đồng (đã làm tròn).
Có vị trí trong phạm vi các mốc: Từ M2 đến M3, M7, M8, M2.
(Có Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 25-01-2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng; Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 25-01-2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T kèm theo)
Bà Nguyễn Thị G được quyền sở hữu các tài sản:
Thứ 1: Phần đất diện tích là 9.999,6m², thuộc một phần thửa 886, tờ bản đồ số 08, loại đất chuyên trồng lúa nước, được Sở T2 cấp giấy ngày 13-12-2021 cho hộ ông Nguyễn Tích L, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Có vị trí trong phạm vi các mốc: Từ M16 đến M17, M18, M19, M25, M24, M16.
(Có Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 27-3-2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng; Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 27-3-2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T kèm theo)
Thứ 2: Phần đất diện tích 9.894,1m², tại thửa 128, tờ bản đồ số 02, loại đất chuyên trồng lúa nước, được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy ngày 10-12-2013 cho hộ ông Nguyễn Tích L, tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Bà G có nghĩa vụ trả lại cho ông L ½ giá trị tài sản với số tiền là 333.926.000 đồng.
Có vị trí trong phạm vi các mốc: M1 đến M2, M8, M9, M10, M11, M12, M13, M14, M1.
(Có Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 25-01-2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng; Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 25-01-2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T kèm theo)
4 . Buộc hộ ông Nguyễn Tích L và hộ bà Nguyễn Thị G tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn S diện tích 19.847,5m² (Trong đó: Diện tích 3.941,3m², thuộc một phần thửa 925, trong phạm vi mốc giới: Từ mốc M1 đến M2, M30, M31, M1; diện tích 15.206,1m², thuộc một phần thửa 924, trong phạm vi mốc giới: Từ mốc M30 đến M2, M3, M4, M5, M6, M7, M8, M9, M10, M33, M28, M29, M30; diện tích 700,1m², thuộc một phần thửa 886, trong phạm vi mốc giới: Từ mốc M10 đến M11, M33, M10), tờ bản đồ số 8, mục đích sử dụng: Đất nuôi trồng thủy sản và đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
(Có Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 27-3-2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng; Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 27-3-2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T kèm theo)
Trong trường hợp hộ ông Nguyễn Tích L và hộ bà Nguyễn Thị G không cùng đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký điều chỉnh các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xác lập thủ tục chuyển quyền cho ông S theo Bản án đã tuyên thì đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Tích L gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS02273, số phát hành DĐ 166273
thửa 925, tờ bản đồ số 08, diện tích 5.365,7m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T2 cấp ngày 13-12-2021, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để cấp cho ông L diện tích 1.424,4 m², cấp cho ông S diện tích 3.941,3m²; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH01716, số phát hành BP 603716 thửa 121, tờ bản đồ số 02, diện tích 10.670,4m² do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 10-12-2013, tọa lại tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để cấp cho ông L; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH01717, số phát hành BP 603717, thửa 128, tờ bản đồ số 02, diện tích 9.894,1m² do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 10-12-2013, tọa lại tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để cấp cho bà G; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS02274, số phát hành DĐ 166274 thửa 886, tờ bản đồ số 08, diện tích 26.029,7m² (đo đạc thực tế là 25.972,9m²) do Sở T2 cấp giấy ngày 13-12-2021, tọa lại tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để cấp cho ông L diện tích 15.273,2m², cấp cho ông S diện tích 700,1m² và cấp cho bà G diện tích 9.999,6m² và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ bà Nguyễn Thị G số vào sổ CS02277, số phát hành DĐ 166277, thửa 924, tờ bản đồ số 08, diện tích 18.405,6m² do Sở T2 cấp giấy ngày 13-12-2021, tọa lại tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để cấp lại cho ông L diện tích 3.199,5m² và cấp cho ông S diện tích 15.206,1m² theo Bản án đã tuyên.
5. Buộc hộ ông Nguyễn Tích L và hộ bà Nguyễn Thị G thực hiện chuyển quyền phần đất diện tích đo đạc thực tế 7.906,8m², tại thửa đất 111, tờ bản đồ số 02, loại đất chuyên trồng lúa, tại ấp A, xã A, huyện T cho bà Nguyễn Thị T.
Có vị trí trong phạm vi các mốc: Từ M3 đến M4, M5, M6, M7, M3.
(Có Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 25-01-2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 25-01-2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T kèm theo)
Trong trường hợp hộ ông Nguyễn Tích L và hộ bà Nguyễn Thị G không cùng đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xác lập thủ tục chuyển quyền cho bà T thì đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Tích L số vào sổ CH01715, số phát hành BP 603715, thửa 111, tờ bản đồ số 02, diện tích 9.042m² (đo đạc thực tế là 7.906,8m²) do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 10-12-2013, tọa lại tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp cấp lại cho bà Nguyễn Thị T theo quy định.
6. Buộc ông Nguyễn Văn S có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Tích L và bà Nguyễn Thị G mỗi người là 1.277.888.000 đồng (đã làm tròn) (Một tỷ hai trăm bảy mươi bảy triệu tám trăm tám mươi tám nghìn đồng).
7. Buộc ông L và bà G mỗi người trả cho ông Q số tiền là gốc là 175.000.000 đồng, tiền lãi là 42.000.000 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 217.000.000 đồng (Hai trăm mười bảy triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà bên thi hành án chưa thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền
lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Sau khi khấu trừ qua lại giữa ông L và bà G thì ông L còn phải trả cho bà G số tiền là 992.655.000 đồng (đã làm tròn) (Chín trăm chín mươi hai triệu sáu trăm năm mươi lăm nghìn đồng).
(Tất cả giá trị đất và tài sản tính theo biên bản định giá ngày 26-11-2024).
Không chấp nhận yêu cầu của bà G về việc yêu cầu ông L trả số tiền 187.966.000 đồng.
Đối với phần diện tích đất là 710,3m² thể hiện là hộc lộ, các đương sự thống nhất không có tranh chấp, Ủy ban nhân dân xã T và Ủy ban nhân dân huyện T không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
8. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc: Do ông L tạm ứng và đã chi xong. Bà G phải trả lại cho ông L ½ số tiền xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc là 18.176.000 đồng. Đối với chi phí định giá tài sản: Do ông L tạm ứng và đã chi xong. Bà G phải trả lại cho ông L ½ số tiền chi phí định giá tài sản là 600.000 đồng.
9. Về án phí:
Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình: Ông Nguyễn Tích L và bà Nguyễn Thị G được miễn tiền tạm ứng án phí, án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Nguyễn Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu không được chấp nhận là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000731 ngày ngày 05-4-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 12). Chị H1 đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Chị Nguyễn Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu không được chấp nhận là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000729 ngày ngày 05-4-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 12). Chị D đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000730 ngày 05-4-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 12).
Ông Nguyễn Văn S phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 83.115.520 đồng. Nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002645 ngày ngày 11-7-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 12). Ông Nguyễn Văn S còn phải nộp tiếp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 82.816.000 đồng (đã làm tròn).
Ông Trần Thanh Q không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông Trần Thanh Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.680.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0002644 ngày 10-7-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 12).
Án phí dân sự phúc thẩm: Bà G được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, tiền án phí dân sự phúc thẩm do thuộc trường hợp người cao tuổi.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thành Tôn |
Bản án số 74/2025/HNGĐ-PT ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn, tranh chấp hợp đồng tặng cho qsdđ, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng qsdđ, tranh chấp qsdđ, tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 74/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn, tranh chấp hợp đồng tặng cho QSDĐ, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ, tranh chấp QSDĐ, tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo, sửa một phần bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm
