TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 74/2025/DS-ST Ngày: 26/5/2025 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Tuấn Kiệt
Bà Dư Thị Út
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tô Hồng Đức – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 162/2025/TLST-DS, ngày 11/3/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2025/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển Thành phố H. Hội sở chính: Số B, N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo uỷ quyền: Châu Văn T - Nhân viên Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển Thành phố H chi nhánh B.
- Bị đơn: Anh Dương Minh N, sinh năm 2001
Địa chỉ: Khóm F, thị trấn G, huyện N, tỉnh Cà Mau.
(anh T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh N vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 19/02/2025 nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển Thành phố H (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) – Người đại diện theo ủy quyền anh Châu Văn T trình bày: Ngày 06/6/2024 Ngân hàng cùng anh Dương Minh N có ký hợp đồng tín dụng số 20580/24MN/HĐTD, vay số tiền 2.700.000.000 đồng, mục đích bổ sung vốn nuôi tôm, thời hạn vay 12 tháng. Để đảm bảo cho khoản vay anh N có ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 15746/24/MN/HĐBĐ, ngày 06/6/2024. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện là 02 phần đất: Phần đất thứ nhất: Có diện tích 2774,9m2, thuộc thửa 395, tờ bản đồ 3, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DO 757395, cấp cho ông Dương Minh N. Đất toạ lạc tại: Ấp C, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Phần đất thứ hai: Có diện tích 2390,6m2, thuộc thửa 394, tờ bản đồ 3, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DO 757396, cấp cho ông Dương Minh N. Đất toạ lạc tại: Ấp C, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu
Hợp đồng tín dụng đã hết hạn thanh toán nhưng anh N không thanh toán nợ gốc và lãi cho Ngân hàng, người vay đã vi phạm hợp đồng về nghĩa vụ thanh toán theo thoả thuận. Do đó, Ngân hàng yêu cầu Toà án giải quyết buộc anh N phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 2.990.358.141 đồng (Trong đó: nợ vay gốc là: 2.700.000.000 đồng; lãi trong hạn là 284.147.258 đồng; số tiền lãi chậm trả 6.210.883 đồng, thời gian tín lãi đến ngày 26/5/2025) và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán dứt nợ. Trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và sau khi bản án có hiệu lực pháp luật mà anh N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên bán đấu giá tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Bị đơn anh Dương Minh N:
Đã được Toà án triệu tập hợp lệ để làm việc nhưng đều vắng mặt, không có lý do chính đáng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thực hiện đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử, việc gửi các văn bản cho Viện kiểm sát đầy đủ, đúng thời hạn. Tại phiên tòa hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định đảm bảo quyền lợi cho những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Từ khi thụ lý đến khi xét xử nguyên đơn tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên toà sơ thẩm người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng; buộc anh N có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 2.990.358.141 đồng (Trong đó: nợ vay gốc là: 2.700.000.000 đồng; lãi trong hạn là 284.147.258 đồng; số tiền lãi chậm trả 6.210.883 đồng, thời gian tín lãi đến ngày 26/5/2025) và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán dứt nợ. Trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và sau khi bản án có hiệu lực pháp luật mà anh N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên bán đấu giá tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ yêu cầu của đương sự tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ tranh chấp: Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển Thành phố H khởi kiện yêu cầu anh N có trách nhiệm trả nợ vay như đã ký kết hợp đồng tín dụng. Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
[2] Về tố tụng: Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn và bị đơn.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Căn cứ hợp đồng tín dụng hạn mức số hợp đồng tín dụng số 20580/24MN/HĐTD, ngày 06/6/2024 và khế ước nhận nợ ngày 07/6/2024 vay số tiền 2.700.000.000 đồng, mục đích bổ sung vốn nuôi tôm, thời hạn vay 12 tháng. Căn cứ bản sao kê theo dõi của Ngân hàng, hợp đồng tín dụng đã hết hạn thanh toán nhưng anh N không thanh toán vốn gốc và lãi nên anh N đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc anh N phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền 2.990.358.141 đồng (Trong đó: nợ vay gốc là: 2.700.000.000 đồng; lãi trong hạn là 284.147.258 đồng; số tiền lãi chậm trả 6.210.883 đồng, thời gian tín lãi đến ngày 26/5/2025) và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán dứt nợ.
[3.2] Để đảm bảo cho khoản vay anh N có ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 15746/24/MN/HĐBĐ, ngày 06/6/2024. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện là 02 phần đất: Phần đất thứ nhất: Có diện tích 2774,9m2, thuộc thửa 395, tờ bản đồ 3, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DO 757395, được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện H cấp cho ông Dương Minh N, ngày 29/5/2024. Đất toạ lạc tại: Ấp C, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Phần đất thứ hai: Có diện tích 2390,6m2, thuộc thửa 394, tờ bản đồ 3, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số số DO 757396, được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện H cấp cho ông Dương Minh N, ngày 29/5/2024. Đất toạ lạc tại: Ấp C, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Hội đồng xét xử xem xét hợp đồng thế chấp nhận thấy: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh N, khi ký kết hợp đồng thế chấp anh N cũng là người trực tiếp quản lý sử dụng. Hợp đồng thế chấp các bên đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về công chứng, chứng thực, đã được đăng ký giao dịch bảo đảm việc đăng ký giao dịch bảo đảm giữa Ngân hàng và anh N thực hiện theo đúng các quy định. Do đó, trong trường hợp xử lý tài sản thế chấp thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý đối với tài sản gắn liền với đất.
[4] Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc yêu cầu trả nợ vay và được quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp khi anh N không thanh toán đầy đủ nợ cho Ngân hàng.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu là phù hợp với quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn là anh N phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ngân hàng không phải chịu án phí.
[7] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đã chi hết 1.250.000 đồng: Ngân hàng đã dự nộp 1.250.000 đồng. Căn cứ Điều 157 và Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 anh N phải có trách nhiệm hoàn lại số tiền trên cho Ngân hàng.
[8]. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch anh N phải chịu là 91.807.162 đồng.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ các Điều 26, 35, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
- - Các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ khoản 2 Điêu 100, Điều 103 Luật Các tổ chức tín dụng;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển Thành phố H đối với anh Dương Minh N về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Buộc anh Dương Minh N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển Thành phố H số tiền vay 2.990.358.141 đồng (Trong đó: nợ vay gốc là: 2.700.000.000 đồng; lãi trong hạn là 284.147.258 đồng; số tiền lãi chậm trả 6.210.883 đồng, thời gian tín lãi đến ngày 26/5/2025).
Kể từ ngày 27/5/2025 anh Dương Minh N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và các giấy nhận nợ cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì lãi suất mà anh Dương Minh N phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án, anh Dương Minh N không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển Thành phố H thì Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển Thành phố H có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bán đấu già tài sản thế chấp để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cụ thể như sau:
- - Phần đất thứ nhất: Có diện tích 2774,9m2, thuộc thửa 395, tờ bản đồ 3, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DO 757395, được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện H cấp cho ông Dương Minh N, ngày 29/5/2024. Đất toạ lạc tại: Ấp C, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
- - Phần đất thứ hai: Có diện tích 2390,6m2, thuộc thửa 394, tờ bản đồ 3, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số số DO 757396, được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện H cấp cho ông Dương Minh N, ngày 29/5/2024. Đất toạ lạc tại: Ấp C, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
- Buộc anh Dương Minh N có trách nhiệm giao tài sản thế chấp đã nêu ở mục 3 tại phần Quyết định của bản án để thực hiện nghĩa vụ phát mãi tài sản khi có đơn yêu cầu.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 1.250.000 đồng: Buộc anh Dương Minh N có trách nhiệm hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển Thành phố H số tiền 1.250.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch anh Dương Minh N phải nộp 91.807.162 đồng .
- Án dân sự sơ thẩm có giá ngạch Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển Thành phố H không phải chịu, Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển Thành phố H đã dự nộp tạm ứng án phí 45.000.000 đồng, tại Biên lai thu số: 0000184 ngày 10 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu được hoàn lại toàn bộ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thúy |
Bản án số 74/2025/DS-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 74/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng H khởi kiện yêu cầu anh N trả nợ vay
