Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 74/2025/DS - ST

Ngày: 25-6-2025.

V/v tranh chấp: "Hợp đồng tín dụng".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Sửu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Thuỷ

Ông Lê Quang Chính

Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quen - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên tòa;

Bà Trần Thị Mai Lan - Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 79/2025/TLST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2025, về việc tranh chấp: "Hợp đồng tín dụng". theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2025/QĐST-DS,ngày 10/6/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển Thành phố H.

Địa chỉ: số B B đường N khai, phường B, Quận A, T.P H.

Đại diện theo pháp luật: Ông Phùng Hoàng N, Giám đốc Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển Thành phố H - Chi nhánh N2.

Địa chỉ: số B đường N, phường T, T.P P - tháp C, Ninh Thuận.

Đại diện theo ủy quyền lại: Bà Phan Thị Huyền T, Chức vụ: Chuyên viên quan hệ khách hàng Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển Thành phố H - Chi nhánh N2.

Địa chỉ: số B đường N, phường T, T.P P - T, Ninh Thuận (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Trần Văn T1, sinh năm: 1961 (vắng mặt,có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bà Nguyễn Thị Hoàng Y, sinh năm: 1963 (có mặt).

Cùng địa chỉ: V, P, N, Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai có trong hồ sơ và tại phiên toà người đại diện theo ủy quyền (bà T) trình bày: Ngày 24 tháng 4 năm 2024 ông Trần Văn T1, bà Nguyễn Thị Hoàng Y có ký hợp đồng tín dụng số: 10256/24MB/HĐTD; vay Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển Thành phố H số tiền 850.000.000 đồng, hợp đồng thẻ tín dụng nợ số tiền 27.962.863 đồng, lãi suất 11.9%/năm, thời hạn vay 12 tháng.

Hợp đồng thế chấp số:115722MB/HĐBĐ ngày 19/4/2022 và Hợp đồng thế chấp số:115722MB/HĐBĐ/PL01ngày 22/4/2024; Tài sản thế chấp gồm: Giấy chứng nhận QSDĐ và TSKGLVĐ số CO 655538 do UBND huyện N cấp 06/12/2018 thuộc thửa đất 1183, TBĐ số 5, tọa lạc P, P

Tài sản thế chấp gồm: Giấy chứng nhận QSDĐ và TSKGLVĐ số CO 655537 do UBND huyện N cấp 06/12/2018 thuộc thủa đất 1182, TBĐ số 5, tọa lạc P, P.

Trong quá trình vay ông T1, bà Y không trả gốc, lãi đầy đủ.

Tính đến ngày 25/2/2025 ông T1, bà Y còn nợ Ngân hàng cả gốc lẫn lãi tổng cộng: 901.480.589 đồng.

Trong đó: nợ gốc: 850.000.000 đồng; nợ lãi quá hạn số tiền: 23.324.025 đồng, phạt chậm trả 193.701 đồng, thẻ tín dụng 27.962.863 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng.

Nay Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển Thành phố H yêu cầu ông T1, bà Y phải trả Ngân hàng cả gốc lẫn lãi tính đến ngày 25/2/2025 tổng cộng: 901.480.589 đồng.

Trong đó: nợ gốc: 850.000.000 đồng; nợ lãi quá hạn số tiền: 23.324.025 đồng, phạt chậm trả 193.701 đồng, thẻ tín dụng 27.962.863 đồng, từ ngày 26/2/2025 trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng và yêu cầu đảm bảo tài sản thế chấp gồm: thuộc thửa đất 1183, TBĐ số 5, thuộc thủa đất 1182, TBĐ số 5, tọa lạc P, P đẻe trả nợ cho Ngân hàng.

- Bị đơn bà Y trình bày:

Theo Ngân hàng trình bày ngày 24 tháng 4 năm 2024 ông Trần Văn T1, bà Nguyễn Thị Hoàng Y có ký hợp đồng tín dụng số: 10256/24MB/HĐTD vay Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển Thành phố H số tiền 850.000.000 đồng, hợp đồng thẻ tín dụng số tiền 27.962.863 đồng, lãi suất 11.9%/năm, thời hạn vay 12 tháng.

Hợp đồng thế chấp số:115722MB/HĐBĐ ngày 19/4/2022 và Hợp đồng thế chấp số:115722MB/HĐBĐ/PL01 ngày 22/4/2024; tài sản thế chấp gồm: Giấy chứng nhận QSDĐ và TSKGLVĐ số CO 655538 do UBND huyện N cấp 06/12/2018 thuộc thửa đất 1183 và Giấy chứng nhận QSDĐ và TSKGLVĐ số CO 655537 do UBND huyện N cấp 06/12/2018 thuộc thủa đất 1182, tờ bản đồ số 5, tọa lạc P, P, Ninh Thuận.

Trong quá trình vay ông T1, bà Y không trả gốc, lãi đầy đủ.

Tính đến ngày 25/2/2025 ông T1, bà Y còn nợ Ngân hàng cả gốc lẫn lãi tổng cộng: 901.480.589 đồng.

Trong đó: nợ gốc: 850.000.000 đồng; nợ lãi quá hạn số tiền: 23.324.025 đồng, phạt chậm trả 193.701 đồng, thẻ tín dụng 27.962.863 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng.

Nay Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển Thành phố H yêu cầu ông T1 và tôi Y phải trả Ngân hàng cả gốc lẫn lãi tính đến ngày 25/2/2025 tổng cộng: 901.480.589 đồng.

Trong đó: nợ gốc: 850.000.000 đồng; nợ lãi quá hạn số tiền: 23.324.025 đồng, phạt chậm trả 193.701 đồng, thẻ tín dụng 27.962.863 đồng, từ ngày 26/2/2025 trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng và yêu cầu đảm bảo tài sản thế chấp gồm: thuộc thửa đất 1183, TBĐ số 5, thuộc thủa đất 1182, tờ bản đồ số 5, tọa lạc P, P để trả nợ Ngân hàng.

Tôi công nhận theo Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển Thành phố H trình bày như trên là đúng, tôi xác nhận vợ chồng có thiếu nợ Ngân hàng cả gốc lẫn lãi tính đến ngày 25/2/2025 tổng cộng: 901.480.589 đồng.

Tôi đồng ý trả nợ cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển Thành phố H, đồng ý trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng và đồng ý đảm bảo tài sản thế chấp để bảo đảm trả nợ cho Ngân hàng.

Nhưng hiện nay gia đình gặp khó khăn không có tiền trả xin bảo đảm tài sản để trả nợ Ngân hàng.

-Đối với bị đơn ông T1:

Tòa án làm việc trực tiếp với bà Y vợ ông T1, tống đạt các thông báo theo thủ tục tố tụng hợp lệ cho ông T1, nhưng ông T1 không có mặt, chứng tỏ đương sự tự từ bỏ quyền của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước phát biểu: Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử phiên tòa dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước thực hiện đúng thủ tục tố tụng từ khi triệu tập, thụ lý, lấy lời khai, thu thập chứng cứ, hòa giải và các thủ tục khác cũng được thực hiện đầy đủ đúng quyền, nghĩa vụ của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đối với nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Buộc ông Trần Văn T1, bà Nguyễn Thị Hoàng Y phải trả cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển Thành phố H cả gốc lẫn lãi tính đến ngày 25/02/2025 tổng cộng: 901.480.589 đồng.

Trong đó: nợ gốc: 850.000.000 đồng; nợ lãi quá hạn số tiền: 23.324.025 đồng, phạt chậm trả 193.701 đồng, nợ thẻ tín dụng 27.962.863 đồng,từ ngày 26/02/2025 trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng và tiếp tục duy trì đảm bảo tài sản thế chấp gồm: thuộc thửa đất 1183 và thửa đất 1182, tờ bản đồ số 5, tọa lạc P, P, N để trả nợ cho Ngân hàng.

Về án phí dân sự sơ thẩm buộc ông T1, bà Y phải chịu theo quy định pháp luật. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển Thành phố H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên,

[1] Hội đồng xét xử xét thấy: Đây là vụ kiện tranh chấp "hợp đồng tín dụng”

[2] Về phần thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt các thông báo theo thủ tục tố tụng ông T1 không có mặt tại Tòa án để làm việc, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử đưa ra xét xử vắng mặt theo luật định; Hơn nữa Toà án tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cho bà Y vợ ông T1 đã nhận nhưng ông T1 không có văn bản trả lời, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì cho Tòa án xem xét là tự từ bỏ quyền lợi của mình.

Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, HĐXX thấy rằng:

[3] Xét hợp đồng tín dụng: ngày 24 tháng 4 năm 2024 ông Trần Văn T1, bà Nguyễn Thị Hoàng Y có ký hợp đồng tín dụng số:10256/24MB/HĐTD; vay Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển Thành phố H số tiền 850.000.000 đồng, hợp đồng thẻ tín dụng nợ số tiền 27.962.863 đồng, lãi suất 11.9%/năm, thời hạn vay 12 tháng.

Hợp đồng thế chấp số:115722MB/HĐBĐ ngày 19/4/2022 và Hợp đồng thế chấp số:115722MB/HĐBĐ/PL01 ngày 22/4/2024; tài sản thế chấp gồm: Giấy chứng nhận QSDĐ và TSKGLVĐ số CO 655538 do UBND huyện N cấp 06/12/2018 thuộc thửa đất 1183, tờ bản đồ số 5, tọa lạc P, P

Tài sản thế chấp gồm: Giấy chứng nhận QSDĐ và TSKGLVĐ số CO 655537 do UBND huyện N cấp 06/12/2018 thuộc thủa đất 1182, tờ bản đồ số 5, tọa lạc P, P.

Khi vay có lập Hợp đồng thế chấp số:115722MB/HĐBĐ ngày 19/4/2022 và Hợp đồng thế chấp số:115722MB/HĐBĐ/PL01 ngày 22/4/2024; tài sản thế chấp gồm: Giấy chứng nhận QSDĐ và TSKGLVĐ số CO 655538 do UBND huyện N cấp 06/12/2018 thuộc thửa đất 1183, Giấy chứng nhận QSDĐ và TSKGLVĐ số CO 655537 do UBND huyện N cấp 06/12/2018 thuộc thủa đất 1182, tờ bản đồ số 5, tọa lạc P, P đứng tên bà Y.

Tại phiên toà Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển Thành phố H tính đến ngày 25/2/2025 ông T1, bà Y còn nợ Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển Thành phố H cả gốc lẫn lãi tổng cộng: 901.480.589 đồng, yêu cầu ông T1,bà Y phải trả.

Trong đó: nợ gốc: 850.000.000 đồng; nợ lãi quá hạn số tiền: 23.324.025 đồng, phạt chậm trả 193.701 đồng, thẻ tín dụng 27.962.863 đồng, Ngân hàng yêu cầu từ ngày 26/02/2025 ông T1, bà Y phải trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng và yêu cầu đảm bảo tài sản thế chấp gồm: thuộc thửa đất 1183, tờ bản đồ số 5, thuộc thủa đất 1182, tờ bản đồ số 5, tọa lạc P, P do bà Y đứng tên để trả nợ cho Ngân hàng là có căn cứ.

[3.1] Xét nợ gốc: Theo trình bày đại diện hợp pháp của nguyên đơn cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã nhận đủ số tiền vay số tiền 850.000.000 đồng, hợp đồng thẻ tín dụng nợ số tiền 27.962.863 đồng từ Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển Thành phố H.

Trong đó:

- Hợp hợp đồng tín dụng số 10256/24MB/HĐTD ngày 24/4/2024 ông T1, bà Y có ký vay số tiền 850.000.000 đồng, hợp đồng thẻ tín dụng nợ số tiền 27.962.863 đồng, từ khi nhận nợ đến nay, bị đơn trả nợ gốc cho nguyên đơn chưa đầy đủ.

Tại phiên toà Ngân hàng tính đến hết ngày 25/2/2025 ông T1, bà Y còn nợ Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển Thành phố H nợ gốc của hợp đồng số tiền nợ gốc: 850.000.000 đồng và nợ thẻ tín dụng nợ số tiền 27.962.863 đồng yêu cầu trả là có căn cứ;

[3.2] Xét nợ lãi: Quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn đã trả lãi không đầy đủ.

Tại phiên tòa nguyên đơn tính đến hết ngày 25/2/2025 ông T1, bà Y còn nợ Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển Thành phố H lãi quá hạn số tiền: 23.324.025 đồng, phạt chậm trả 193.701 đồng và yêu cầu từ ngày 26/02/2025 tiếp tục trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết tại Ngân hàng là có căn cứ.

Xét thấy mức lãi suất hai bên đã thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng là phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng, ông T1, bà Y đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi theo thỏa thuận tại khoản 2 Điều 4 của hợp đồng tín dụng, số tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi phát sinh mà nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả là phù hợp với thỏa thuận tại Điều 2 và Điều 9 của hợp đồng tín dụng.

Xét về tài sản tín chấp gồm: 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 1183, diện tích 463m², tờ bản đồ số 5, thuộc thủa đất 1182, diện tích 150m², tờ bản đồ số 5, tọa lạc P, P do bà Y đứng tên được chuyển nhượng từ bà Hán Quãng Thị Khánh L, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện Ngân hàng đang giữ để bảo đảm các khoản vay, tiếp tục duy trì tài sản thế chấp để trả nợ cho Ngân hàng; khi nào ông T1, bà Y thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có nghĩa vụ giao trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho bà Y.

[4] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông T1, bà Y phải liên đới chịu số tiền 39.044.417 đồng (đã làm tròn). Nhưng do ông T1, bà Y là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí.

Hoàn trả cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển Thành phố H số tiền 18.750.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số: 0001511 ngày 01/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước.

[6] Về quan điểm đề xuất giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa có căn cứ, phù hợp với quan điểm giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Kiểm sát viên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, các Điều 157, 158, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015,

Căn cứ các Điều 303, 307, 317, 318, 319, 320, 351 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng và Điều 100,103 Luật tổ chức tín dụng 2024.

Căn cứ Nghị quyết 326 UBTVQH 14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển Thành phố H).

Buộc ông Trần Văn T1, bà Nguyễn Thị Hoàng Y phải liên đới trả nợ cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển Thành phố H cả gốc lẫn lãi tính đến ngày 25/2/2025 tổng cộng: 901.480.589 đồng.

Trong đó: nợ gốc: 850.000.000 đồng; nợ lãi quá hạn số tiền: 23.324.025 đồng, phạt chậm trả 193.701 đồng, nợ thẻ tín dụng 27.962.863 đồng, từ ngày 26/02/2025 trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng và tiếp tục duy trì tài sản thế chấp tại Ngân hàng gồm: thuộc thửa đất 1183, diện tích 463m² và thửa đất 1182, diện tích 150m², tờ bản đồ số 5, tọa lạc P, P, N để trả nợ cho Ngân hàng.

Ngay sau khi ông Trần Văn T1, bà Nguyễn Thị Hoàng Y thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ; Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển Thành phố H có nghĩa vụ phải giao trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 1183, diện tích 463m² và thửa đất 1182, diện tích 150m², tờ bản đồ số 5, tọa lạc P, P, N cho bà Y, do Ngân hàng đang giữ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Văn T1, bà Nguyễn Thị Hoàng Y là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên được miễn toàn bộ án phí sơ thẩm.

Hoàn trả cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển Thành phố H số tiền 18.750.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số: 0001511 ngày 01/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước.

Về chi phí thẩm định tài sản: Buộc vợ chồng ông Trần Văn T1, bà Nguyễn Thị Hoàng Y phải liên đới chịu số tiền 1.150.000 đồng để hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển Thành phố H.

Án xử công khai sơ thẩm người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; có mặt bị đơn bà Y, vắng mặt đồng bị đơn ông T1 (có đơn xin xét xử vắng mặt). Báo cho người có mặt biết quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25-6-2025). Riêng những người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án theo thủ tục tố tụng.

"...trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Ngọc Minh; Lê Quang Chính

Đoàn Sửu

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Ninh Thuận;

- VKSND huyện Ninh Phước;

- THADS huyện Ninh Phước (để thi hành);

- Các đương sự (để thi hành);

- Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa.

Đoàn Sửu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2025/DS - ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 74/2025/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger