Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2025/DS-PT

Ngày: 06/6/2025

V/v: “Tranh chấp QSDĐ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nam.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Bình.

Ông Đỗ Thế Bình.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 97/2025/TLPT - DS, ngày 05/02/2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1959 (Có mặt).

Bà Đặng Thị G, sinh năm 1963 (Vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bà G: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1959 (Có mặt).

HKTT: Khu Đ, thôn A, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1960 (Có mặt).

Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1961 (Có mặt).

HKTT: Khu Đ, thôn A, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Cụ Nguyễn Văn K1, sinh năm 1938 (Vắng mặt).
  2. Anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1987 (Vắng mặt).
  3. Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1988 ( mặt).
  4. Chị Nguyễn Thanh P, sinh năm 1983 (Vắng mặt).
  5. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1985 (Vắng mặt).
  6. Anh Nguyễn Thanh B, sinh năm 1991 (Vắng mặt).
  7. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1994 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn A, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo ủy quyền của cụ K1, anh C1, chị Q, chị P, chị T, anh B, chị H: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1959 (Có mặt).

HKTT: Khu Đ, thôn A, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.

  1. Anh Nguyễn Văn B1, sinh năm 1983 (Vắng mặt).
  2. Chị Dương Thị T1, sinh năm 1984 (Vắng mặt).
  3. Anh Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1986 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Khu Đ, thôn A, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.

  1. Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1992 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:

Ông Nguyễn Văn K và bà Đặng Thị G trình bày:

Ông bà là hàng xóm của ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị L. Năm 1982, ông bà lập gia đình nên được hợp tác xã thôn A, xã L cấp cho 01 thửa đất tại Khu Đ, thôn A, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh với diện tích là nửa sào Bắc Bộ (tương đương 180 m²). Năm 1998, hộ ông bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 87, tờ bản đồ 10P, diện tích là 435 m² (sau đây gọi tắt là thửa đất số 87). Cùng với gia đình ông bà có hộ gia đình nhà ông Nguyễn Văn C cũng được cấp 01 thửa đất tại Khu Đ, thôn A, xa L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.

Năm 1983, bố ông là Nguyễn Văn K1 có xây 01 ngôi nhà cấp IV trên thửa đất. Sau vài năm thì có xây thêm một số công trình phụ gồm: 01 chuồng lợn, 01 nhà vệ sinh, khi xây chuồng lợn...do vị trí xây gần nhà ông C nên bố ông bà có xây lùi lại một phần đất, xây dựng chưa hết phần đất của gia đình.

Năm 1997, UBND huyện T đo đạc lại thửa đất để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ, gia đình ông được cấp với diện tích là 435 m², đối với phần đất dôi dư diện tích 255m² ông bà không phải nộp tiền thêm tiền. Cạnh thửa đất của gia đình ông bà có 01 ao của hợp tác mọi người đều sắn đất để tâng nền đối với các thửa đất được chia. Năm 2010, ông bà có mua thêm phần ao này của hợp tác xã với giá 50.000 đồng/m², đến nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Toà án đã tiến hành yêu cầu ông bà cung cấp tài liệu chứng cứ nhưng ông không cung cấp cho Toà án được, phần đất này không liên quan đến phần đất tranh chấp.

Năm 2021, UBND huyện T có tiến hành đo đạc lại đối với 2 thửa đất trên để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hai bên có ký giáp ranh tuy nhiên sau đó ông phát hiện việc ký đó không đúng, gia đình ông thiếu đất nên đã làm đơn trình báo ra UBND xã và huỷ văn bản đó đến nay hai bên chưa cấp lại được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Năm 2023, vợ chồng ông bà có lên UBND xã L để chuyển nhượng một phần đất cho con trai ông bà là anh Nguyễn Văn C1 thì được biết chính xác, gia đình ông C đang sử dụng một phần đối với thửa đất của ông bà. Sau đó ông bà làm đơn ra UBND xã L tiến hành hòa giải giữa gia đình ông bà và gia đình nhà ông C nhưng không được. Phần đất tranh chấp nằm ở vị trí phí T của gia đình nhà ông bà giáp phần đất phía Đông của nhà ông C khoảng 10 m². Trên phần đất tranh chấp ông C có xây dựng công trình phụ gồm: 01 bể nước xây gạch, 01 nhà vệ sinh từ năm 2016. Trên phần đất của gia đình ông bà còn có móng của chuồng lợn và nhà vệ sinh xây dựng khoảng năm 1995-1996.

Hiện nay trên thửa đất đang tranh chấp có bố ông bà là ông ông Nguyễn Văn K1, vợ chồng ông bà, con trai thứ nhất là anh Nguyễn Văn C1, con dâu là chị Nguyễn Thị Q; con trai thứ 2 là anh Nguyễn Thanh B, con dâu là chị Nguyễn Thị H. Ông có con gái là chị Nguyễn Thanh P và chị Nguyễn Thị T, các tài sản trên phần đất tranh chấp đều do ông C xây dựng gia đình ông không có tài sản gì.

Nay vợ chồng ông bà làm đơn đề nghị TAND huyện Tiên Du giải quyết yêu cầu buộc gia đình ông C, bà L phải trả lại phần đất khoảng 10 m² đã lấn chiếm của gia đình ông bà và tháo dỡ các công trình phụ trên phần đất này trả cho ông theo đúng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho gia đình ông. Ông đã biết được kết quả đo đạc diện tích thực tế là 14,9 m² ông yêu cầu gia đình ông C phải trả cho ông diện tích đất trên theo giấy chứng nhận đã được cấp. Trường hợp ông C đồng ý hoà giải thì vợ chồng ông bà chỉ yêu cầu ông C bà L phải trả phần đất đã xây bể nước còn phần ông bà đã xây dựng làm nhà vệ sinh, công trình phụ ông bà không yêu cầu trả bằng đất, chỉ yêu cầu trả giá trị bằng tiền. Trường hợp ông bà không đồng ý đề nghị Toà án giải quyết theo pháp luật. Ngoài ra ông không có ý kiến yêu cầu gì.

Ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị L trình bày:

Ông bà là hàng xóm của ông Nguyễn Văn K và bà Đặng Thị G. Năm 1982, ông bà lập gia đình nên được hợp tác xã thôn A, xã L cấp cho 01 thửa đất tại Khu Đ, thôn A, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh với diện tích là nửa sào Bắc Bộ (tương đương 180m²). Năm 1998, ông bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 89, tờ bản đồ 10P, diện tích là 354 m² (sau đây gọi tắt là thửa đất số 89). Cùng với gia đình ông bà thì hộ gia đình nhà ông Nguyễn Văn K cũng được cấp 01 thửa đất tại Khu Đ, thôn A, xa L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.

Năm 1989, gia đình ông bà có xây dựng 01 cấp IV trên thửa đất. Đến năm 2017, ông bà có phá bỏ căn nhà cấp IV và dây dựng 01 căn nhà 2 tầng và 01 nhà vệ sinh. Thửa đất trên gia đình ông bà sử dụng từ năm 1982 đến nay không có tranh chấp gì với gia đình ông K.

Năm 1997, UBND huyện T đo đạc lại thửa đất để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ, gia đình ông bà có nộp thêm tiền đối với phần đất dôi dư diện tích 140 m² ông bà phải nộp tiền, tuy nhiên không còn giấy tờ gì. Đến năm 1998 thì gia đình ông bà được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích là 354 m². Cạnh thửa đất của gia đình ông bà có 01 ao của hợp tác mọi người đều sắn đất để tâng nền đối với các thửa đất được chia thì gia đình ông bà có sử dụng thêm phần giáp ranh ao để làm vườn trồng Xoan. Sau đó gia đình ông bà có chặt hết cây Xoan trong vườn để xây công trình phụ gồm: 01 bể nước xây gạch, 01 nhà vệ sinh năm 2016.

Năm 2021, UBND huyện T có tiền hành đo đạc lại đối với 2 thửa đất trên để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông bà và ông K đã thống nhất xác định ranh giới hiện trạng thửa đất, không ai có ý kiến gì.

Năm 2023, ông K bà G có đơn đề nghị tranh chấp đất đai, ông bà được UBND xã L mời lên hòa giải, ông K cho rằng gia đình nhà ông bà có lấn chiếm một phần thửa đất của gia đình ông K (Phần đất tranh chấp nằm ở vị trí phí Đông của gia đình nhà ông bà giáp phần đất phía Tây Nam của nhà ông K khoảng 10 m²). Trên phần đất tranh chấp gia đình ông bà có xây dựng công trình phụ gồm 01 bể nước xây gạch, 01 nhà vệ sinh, khu phụ, bể phốt từ năm 2016. Trên phần đất của ông bà không còn tường hay móng cổ gì, còn trên phần đất nhà ông K đã xây dựng trước năm 1997 vẫn còn móng của chuồng lợn và nhà vệ sinh.

Đối với thửa đất trên thì gia đình ông bà đã sử dụng từ năm 1982 đến nay không có tranh chấp với bất kỳ ai, khi ông bà xây nhà và các công trình phụ ông K có biết và không có ý kiến gì.

Hiện nay trên thửa đất đang tranh chấp có: ông bà, con trai là anh Nguyễn Văn B1, con dâu là chị Dương Thị T1, cháu Nguyễn Ngọc V, cháu Nguyễn Ngọc V1 và cháu Nguyễn Thị Ngọc T3 còn nhỏ đang sinh sống. Con trai thứ 2 là anh Nguyễn Ngọc M, con dâu Vũ Thị A, ở trên thửa đất khác gần đó. Con gái thứ 3 là chị Nguyễn Thị T2, đã kết hôn hiện nay có địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Toàn bộ tài sản trên phần đất tranh chấp là của ông bà các con không có công sức gì.

Nay ông K, bà G làm đơn đề nghị TAND huyện Tiên Du yêu cầu gia đình ông bà phải trả lại phần đất khoảng 10m², đo đạc thực tế 14,9 m² đã lấn chiếm ông bà không đồng ý. Do gia đình ông bà sử dụng thửa đất của gia đình từ năm 1982 đến nay không lấn chiếm của bất kỳ ai. Khi ông K xây nhà và các công trình phụ đều làm trước ông bà và giữ nguyên hiện trạng thửa đất giữa hai nhà như hiện nay, không tranh chấp gì. Ngoài ra ông bà không có ý kiến yêu cầu gì khác.

Ông Dương Văn H1 trình bày:

Ông nhất trí với lời trình bày của ông C và bà L. Ông nhận thấy phần đất bị đơn đang sử dụng và có tranh chấp đã được bị đơn xây dựng, sử dụng từ lâu. Nguyên đơn cùng chính quyền địa phương cũng đã biết nhưng không có ý kiến gì. Quá trình sử dụng ổn định lâu dài, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hiện trạng thực tế thửa đất để làm căn cứ xét xử theo đúng quy định pháp luật. Ngoài ra ông không có ý kiến yêu cầu gì.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Dương Thị T1, anh Nguyễn Ngọc M, anh Nguyễn Văn B1, chị Nguyễn Thị T2 trình bày:

Anh chị là con của ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị L. Anh chị nhất trí với lời trình bày của ông C, bà L. Nay ông K, bà G đòi lại phần đất tranh chấp này anh chị không đồng ý. Do gia đình anh chị đã xây dựng công trình phụ nêu trên từ năm 2016 trên phần vườn Xoan của gia đình anh chị. Việc xây dựng diễn ra công khai gia đình ông K cũng không có ý kiến vì nó nằm hoàn toàn bên phần đất của nhà anh chị. Đồng thời năm 2021, gia đình anh chị được U lại các bên gia đình đã ký giáp ranh và không có ý kiến gì. Ngoài ra không có ý kiến yêu cầu gì.

Toà án tiến hành xác minh với cán bộ địa chính xã L cung cấp:

Thửa đất số 87, tờ bản đồ số 10p, diện tích 435 m² mang tên hộ ông Nguyễn Văn K đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) năm 1998; thửa đất số 89, tờ bản đồ số 10p, diện tích 354 m² mang tên hộ ông Nguyễn Văn C đã được cấp GCNQSDĐ năm 1998. Ngoài hai hộ ông kiểm và hộ ông C tranh chấp quyền sử dụng đất thì các hộ liền kề không có tranh chấp với hai hộ này.

UBND xã đến nay lưu trữ bản đồ năm 1997 là cũ nhất không còn bản đồ nào trước đó, theo nbản đồ năm 1997 thửa đất số 89, tờ bản đồ số 10p, diện tích 354 m² mang tên hộ ông Nguyễn Văn C đã được cấp GCNQSDĐ năm 1998. Hồ sơ cấp GCNQSDĐ còn lưu trữ tại UBND xã theo đơn xin cấp giấy chưng nhận thì nguồn gốc thửa đất là được cấp cho hộ ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị L. Tuy nhiên không còn lưu trữ tài liệu nào thể hiện việc nộp tiền thêm phần đất dôi dư, đơn xin cấp của ông C thể hiện diện tích xin cấp là 354 m². Hiện trạng sử dụng đất của hai hộ gia đình nhà ông K và nhà ông C đều không trùng khớp với hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ. Theo bản đồ năm 1997, phần đất phía Nam của 2 hộ gia đình ông K và gia đình ông C là thửa đất số 105, tờ bản đồ 10p diện tích 928 m² là đất mặt nước chưa sử dụng do UBND xã L quản lý. Theo bản đồ năm 2007, phần đất phía Nam nêu trên gia đình ông K đã sử dụng phần đất số thửa 141, diện tích 348m² được đo đạc chỉnh lý trên bản đồ địa chính. Gia đình ông C đã sử dụng phần đất số thửa 140, diện tích 136m² được đo đạc chỉnh lý trên bản đồ địa chính. Ông đã được Tòa án cho biết kết quả trích đo thửa đất nhà ông K cạnh phía Bắc và phía Nam dài hơn so với hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ về phía Đông. Phía Đông thửa đất nhà ông K là tường nhà cấp IV và tường bao đã được xây dựng từ nhiều năm trước và sử dụng ổn định trong quá trình sử dụng thì UBND xã không nhận dược phản ánh của người dân về việc gia đình ông K sử dụng lấn chiếm ra phần đất ngõ của xóm.

Thửa đất của ông K theo hồ sơ cấp GCNQSDĐ là thửa đất số 87, tờ bản đồ số 10p, diện tích 435m² tuy nhiên theo đo đạc, tính toán lại trên cơ sở hồ sơ cấp GCNQSDĐ thì thửa đất có diện tích 410,7m² giảm so với hồ sơ cấp giấy. Thửa đất của ông C theo hồ sơ cấp GCNQSDĐ là thửa đất số 89, tờ bản đồ số 10p, diện tích 354m² tuy nhiên theo đo đạc, tính toán lại trên cơ sở hồ sơ cấp GCNQSDĐ thì thửa đất có diện tích 362,5m² tăng so với hồ sơ cấp giấy. Việc tăng, giảm diện tích do phương pháp đo đạc và tính diện tích khác nhau nên có sự chênh lệch về diện tích. Tuy nhiên hình thể, kích thước trên hồ sơ cấp giấy và hồ sơ đo đạc không thay đổi. Ngoài ra ông không cung cấp gì thêm.

Từ những nội dung trên bản án sơ thẩm đã căn cứ các Điều 26, 35, 39, 144, 147, 157, 158, 161, 165, 166, 227, 228, 235, 262, 264, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Căn cứ các Điều 158, 164, 166, 175, 176, 190 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 97, 100, 106, 166, 170, 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn K, bà Đặng Thị G. Xác định hộ ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị L đã sử dụng 1 phần đất có diện tích 14,9 m² thuộc thửa đất số 87, tờ bản đồ 10 P, đã được cấp GCNQSDĐ mang tên hộ ông Nguyễn Văn K, năm 1998; toạ lạc tại thôn A, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.

Giao cho hộ ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị L được quản lý, sử dụng phần tranh chấp có diện tích 14,9 m² (được giới hạn bởi các điểm 8,9,10,11, D,D',8,11 có sơ đồ chi tiết kèm theo) nhưng ông C, bà L phải có nghĩa vụ trích trả bằng tiền cho gia đình ông K, bà G số tiền là 119.200.000 đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 27/8/2024, bị đơn là ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị L kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án buộc bị đơn là ông C và bà L phải trả lại cho gia đình ông diện tích đã lấn chiếm theo GCNQSDĐ mà gia đình ông đã được cấp theo bản án của Tòa án huyện Tiên Du đã xét xử. Bị đơn là ông C và bà L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo không đồng ý với đề nghị của nguyên đơn và đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm chấp nhận đơn kháng cáo của ông C và bà L bác đơn khởi kiện của ông K bà Ghi

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]: Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị L nộp trong hạn luật định, đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng nên được xem xét giải quyết theo trình tự xét xử phúc thẩm.

[2]. Về nội dung:

Ông Nguyễn Văn K, bà Đặng Thị G và ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị L là hàng xóm của nhau. Năm 1982 hộ ông K và hộ ông C được hợp tác xã thôn A, xã L cấp cho mỗi hộ 01 thửa đất tại khu Đ, thôn A, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, mỗi một thửa đất có diện tích là nửa sào Bắc Bộ (tương đương 180m²). Năm 1998, hộ gia đình ông K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 87, tờ bản đồ 10P, diện tích 435m²; hộ gia đình ông C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 89, tờ bản đồ số 10P, diện tích 354m². Năm 1983 bố ông K là ông Nguyễn Văn K1 có xây 01 ngôi nhà cấp IV trên thửa đất. Sau vài năm thì có xây thêm một số công trình phụ gồm: 01 chuồng lợn, 01 nhà vệ sinh, khi xây chuồng lợn do vị trí gần nhà ông C nên bố ông bà có xây lùi lại một phần đất, xây dựng chưa hết phần đất của gia đình. Theo lời trình bày của nguyên đơn thì năm 2023 vợ chồng ông bà có lên UBND xã L để chuyển nhượng một phần đất cho con trai thì được biết chính xác gia đình ông C đang sử dụng một phần đất của thửa đất nhà ông bà. Phần đất tranh chấp nằm ở phía Tây Nam của gia đình nhà ông K giáp phần đất phía Đông của nhà ông C khoảng 10m². Trên phần đất tranh chấp ông C có xây dựng công trình phụ gồm: 01 bể nước xây gạch, 01 nhà vệ sinh từ năm 2016. Sau khi Toà án nhân dân huyện Tiên Du đo đạc thực tế diện tích thửa đất thể hiện phần đất mà gia đình ông C lấn sang gia đình nhà ông K là 14,9m², ông K đề nghị Toà án giải quyết buộc gia đình ông C, bà L phải trả lại phần diện tích 14,9m² của gia đình nhà ông đã được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trường hợp ông C muốn hoà giải thì vợ chồng ông chỉ yêu cầu ông C bà L phải trả phần đất đã xây bể nước, còn phần đất ông C bà L đã xây dựng làm nhà vệ sinh, công trình phụ ông không yêu cầu trả bằng đất, chỉ yêu cầu trả giá trị bằng tiền. Trường hợp ông C bà L không đồng ý đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xác định hộ ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị L đã sử dụng 1 phần đất có diện tích 14,9 m² thuộc thửa đất số 87, tờ bản đồ 10 P, đã được cấp GCNQSDĐ mang tên hộ ông Nguyễn Văn K, năm 1998; toạ lạc tại thôn A, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.

Giao cho hộ ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị L được quản lý, sử dụng phần tranh chấp có diện tích 14,9 m² (được giới hạn bởi các điểm 8,9,10,11, D,D',8,11 có sơ đồ chi tiết kèm theo) nhưng ông C, bà L phải có nghĩa vụ trích trả bằng tiền cho gia đình ông K, bà G số tiền là 119.200.000 đồng.

Sau khi bản án sơ thẩm xử, ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị L là bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án.

Xét kháng cáo của ông C, bà L, Hội đồng xét xử thấy:

Năm 1982 hộ gia đình ông K và hộ gia đình ông C đều được hợp tác xã thôn A, xã L cấp cho mỗi hộ gia đình 01 thửa đất tại Khu Đ, thôn A, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Tại lời trình bày của ông K xác nhận năm 1983 bố ông là cụ Nguyễn Văn K1 có xây 01 ngôi nhà cấp IV trên thửa đất, sau đó vài năm thì có xây thêm một số công trình phụ gồm 01 chuồng lợn, 01 nhà vệ sinh, khi xây dựng các công trình bố ông có xây lùi lại một phần đất. Còn về phía gia đình ông C sau khi nhận đất năm 1982 thì đến năm 1989 gia đình ông C mới xây dựng 01 ngôi nhà cấp IV trên đất. Đến năm 2017, ông C bà L đã phá bỏ căn nhà cấp IV và xây dựng 01 căn nhà 2 tầng và 01 nhà vệ sinh, khu phụ, bể nước. Tại thời điểm năm 1989 cũng như thời điểm năm 2017 khi gia đình ông C xây dựng công trình trên đất gia đình ông K có biết nhưng không có ý kiến gì, hai gia đình không xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp. Như vậy có thể thấy nhà ông K ra ở trên đất và xây dựng các công trình trên đất trước, quá trình gia đình ông C xây dựng cũng như sinh sống tại thửa đất từ năm 1989 đến nay phía gia đình ông K cũng như chính quyền địa phương biết nhưng không có ý kiến gì, hai gia đình quản lý sử dụng thửa đất ổn định, cho đến năm 2022 mới xảy ra tranh chấp.

Năm 2021 UBND huyện T tiến hành đo đạc lại 02 thửa đất để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hộ gia đình ông C và gia đình ông K đã thống nhất xác định ranh giới hiện trạng thửa đất, không ai có ý kiến gì. Phía nguyên đơn cho rằng sau khi hai gia đình ký giáp ranh nhưng sau đó phía nguyên đơn thấy thiếu đất nên đã trình báo ra UBND xã để huỷ văn bản đó tuy nhiên phía nguyên đơn không xuất trình được tài liệu chứng cứ.

Ngoài ra tại lời trình bày của cán bộ địa chính xã L thể hiện: Thửa đất số 87, tờ bản đồ số 10p, diện tích 435m² của hộ gia đình ông K theo kết quả đo đạc, thì thửa đất hiện tại có diện tích 410,7m² giảm so với giấy CNQSDĐ được cấp là 24,3m²; thửa đất số 89, tờ bản đồ 10p, diện tích 354m² của hộ gia đình ông C theo kết quả đo đạc hiện tại là 362,5m² tăng so với giấy CNQSDĐ được cấp là 8,5m²;. Việc tăng, giảm diện tích này là do phương pháp đo đạc thủ công và bằng máy nên diện tích khác nhau chính vì thế đã có sự chênh lệch về diện tích. Tuy nhiên hình thể, kích thước trên hồ sơ cấp giấy và hồ sơ đo đạc không thay đổi.

Bên cạnh đó Toà án cấp sơ thẩm cũng đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với 02 thửa đất trên tuy nhiên hiện trạng sử dụng đất của cả hai hộ gia đình không trùng khớp với hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 02 hộ, ông C bà L sử dụng ngoài ranh giới quyền sử dụng đất phần đất phía Đông sang 1 phần thửa đất số 87 của gia đình ông K, hiện nay gia đình ông C xây dựng làm bể nước, nhà vệ sinh, kho, so sánh với hồ sơ kỹ thuật thửa đất ngày 21/8/1998, bản đồ cấp giấy năm 1997 phần đất trên có diện tích 14,9m². Như vậy, hồ sơ kỹ thuật thửa đất năm 1998, bản đồ cấp giấy năm 1997 và giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 89, tờ bản đồ 10p, diện tích 354m² của hộ ông C, giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 87, tờ bản đồ 10p, diện tích 435m² của hộ ông K là không đúng với hiện trạng thực tế mà chủ sử dụng 02 thửa đất sử dụng từ trước đến nay. Do cả hai hộ đã sử dụng ổn định từ năm 1998 cho đến nay, hơn nữa năm 2021 khi UBND huyện T thực hiện việc đo đạc bản đồ thì giữa hai hộ đã ký giáp ranh và không có ý kiến gì nên có thể thấy Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ, do vậy cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của ông C, bà L sửa bản án dân sự sơ thẩm số 24/2024/DSST ngày 19/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Tiên Du theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3]. Về án phí: Do sửa bản án dân sự sơ thẩm do đó ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị L, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 24/2024/DSST ngày 19/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Tiên Du.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn K, bà Đặng Thị G.

Giao cho hộ ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị L được quản lý, sử dụng phần tranh chấp có diện tích 14,9 m² ( được giới hạn bởi các điểm 8,9,10,11, D,D',8,11 có sơ đồ chi tiết kèm theo)

Các bên đương sự có quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để điều chỉnh biến động hoặc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí và chi phí tố tụng:

Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn K, bà Đặng Thị G.

Miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị L.

-Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn K, bà Đặng Thị G phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản. Xác nhận ông K, bà G đã nộp đủ 20.000.000đ chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND huyện Tiên Du;
  • - Chi cục THADS huyện Tiên Du;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2025/DS-PT ngày 06/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 74/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger