|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 74/2025/DS-PT
Ngày: 05-6-2025
“V/v Tranh chấp đòi lại tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Thật
Các thẩm phán:
Ông Võ Đình Phương
Ông Nguyễn Hồng Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hồng Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 15/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”;
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 72/2024/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 80/2025/QĐPT-DS ngày 03 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 96/2025/QĐ-PT ngày 22 tháng 4 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 1867/TB-TA ngày 12 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trương Thị D, sinh năm: 1972
Nơi cư trú: Số G L, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Lưu Thị Trâm N, sinh năm: 1974
Nơi cư trú: Số F đường Q, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có đơn xin vắng mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Trần Thị Kim L - Luật sư Văn phòng L1 - thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K. Có mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Lưu Thị Trâm N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trương Thị D trình bày:
Do chỗ quen biết nên tôi có cho bà Lưu Thị Trâm N, trú tại địa chỉ 6 Q, L, N mượn nhiều lần với tổng số tiền là 3.000.000.000 đồng (bằng chữ: Ba tỷ đồng). Sau đó, bà N chốt nợ tôi với số tiền 3.000.000.000 đồng và hẹn trả trước 1.500.000.000 đồng vào ngày 30/12/2013 theo Giấy hẹn trả nợ ngày 20/12/2013 nhưng đến nay vẫn chưa thanh toán cho tôi một đồng nào. Mặc dù tôi đã nhiều lần tới nhà bà N đòi nhưng bà N chây ỳ không trả, cố tình trốn tránh và lấy lý do chữa bệnh. Tôi có thiện chí muốn hòa giải, đã nhiều lần có mặt theo giấy triệu tập của Tòa nhưng phía bị đơn đều vắng mặt.
Nay, tôi yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lưu Thị Trâm N phải trả cho tôi số tiền còn nợ là 3.000.000.000 đồng (bằng chữ: Ba tỷ đồng) và lãi suất phát sinh từ ngày 30/12/2013 tạm tính đến ngày Tòa án xét xử là 9% x 10 năm là 2.700.000.000 đồng (Hai tỷ bảy trăm triệu đồng). Tổng cộng tôi yêu cầu bà Lưu Thị Trâm N phải trả cho tôi là 5.700.000.000 đồng (Năm tỷ bảy trăm triệu đồng).
Việc bà Lưu Thị Trâm N yêu cầu áp dụng thời hiệu là không đúng. Bà N1 chiếm dụng tiền của tôi nhiều năm nay lại muốn quỵt nợ thì không ai có thể chấp nhận được. Pháp luật cũng không có quy định nào để chấp nhận cho hành vi quỵt nợ này. Dù hứa trả trước cho tôi 1.500.000.000 đồng vào ngày 30/12/2013 nhưng đến nay vẫn không trả một đồng nào trong tổng số tiền là 3.000.000.000 đồng (bằng chữ: Ba tỷ đồng) là đã xâm phạm toàn bộ quyền lợi của tôi. Thời hiệu khởi kiện là khi tôi biết toàn bộ quyền của mình bị xâm phạm. Ngày tôi biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm cũng là ngày tôi khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Lưu Thị Trâm N trình bày:
Tôi có nhận được Thông báo của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang về việc Thụ lý hồ sơ vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” số 411/2023/TLST-DS ngày 02/11/2023 do bà Trương Thị D khởi kiện.
Do tôi bị bệnh phải điều trị bệnh tại các bệnh viện ở Khánh Hòa và Thành phố Hồ Chí Minh nên không có điều kiện tham gia tố tụng. Tuy nhiên, các khoản vay của bà D trước đây tôi cũng đã có trả nợ, cụ thể việc trả nợ thế nào hiện tôi không nhớ vì tôi đang điều trị bệnh tại bệnh viện. Tôi đề nghị Q tòa xem xét áp dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật. Trong khoảng thời gian của năm 2011, tôi có vay tiền của bà Trương Thị D nhiều lần để kinh doanh, hai bên thỏa thuận lãi 10%/tháng. Số tiền lãi tôi đã trả rất nhiều tới nổi việc kinh doanh dẫn đến thua lỗ, tôi phải bán hết tài sản để trả nợ, đi ở nhờ nhà người thân. Nay, bà D khởi kiện tôi không đồng ý.
Thứ nhất: Tôi đã trả cho bà Trương Thị D khoản tiền lãi 10%/tháng rất nhiều rồi hơn cả tiền gốc.
Thứ hai: Từ ngày 01/01/2014, nguyên đơn bà Trương Thị D đã biết được quyền
và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm nhưng vẫn không khởi kiện, đến ngày 20/02/2023 mới gửi đơn khởi kiện và Tòa thụ lý, bà D cũng không gửi thông báo đòi nợ hay gửi cho tôi bản sao đơn khởi kiện và các chứng cứ kèm theo khoản 9 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự: “Có nghĩa vụ gửi cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ, trừ tài liệu, chứng cứ mà đương sự khác đã có, tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 điều 109 Bộ luật này”. Tại Điều 429 BLDS quy định: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”. Tại khoản 2 Điều 184 BLTTDS quy định: “Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc.” Vì vậy, tôi làm đơn này kính trình Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thời hiệu của vụ án trước khi xét xử vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa tôi và bà Trương Thị D.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 72/2024/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã căn cứ các điều 122, 471, 474, 477 Bộ luật Dân sự 2005; quyết định: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Buộc bà Lưu Thị Trâm N phải trả cho bà Trương Thị D số tiền gốc là 3.000.000.000 đồng (bằng chữ: Ba tỷ đồng) và lãi suất phát sinh từ ngày 30/12/2013 đến ngày 01/01/2024 là 9% x 10 năm là 2.700.000.000 đồng (Hai tỷ bảy trăm triệu đồng). Tổng cộng số tiền bà Lưu Thị Trâm N phải trả cho bà Trương Thị D là 5.700.000.000 đồng (Năm tỷ bảy trăm triệu đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quy định chung và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 26/8/2024, bị đơn bà Lưu Thị Trâm N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Trần Thị Kim L đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị đơn Lưu Thị Trâm N, sửa bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng thời hiệu khởi kiện, không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đối với số tiền nợ gốc xác định thời hạn trả ngày 30/12/2013 là 1.500.000.000₫ và khoản tiền lãi 2.700.000.000đ vì đã hết thời hiệu khởi kiện. Bà N1 thống nhất trả cho bà D số tiền nợ gốc không xác định thời hạn trả còn lại 1.500.000.000đ theo giấy hẹn ngày 20/12/2013.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát xác định Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn Lưu Thị Trâm N sửa bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng thời hiệu khởi kiện, thay đổi quan hệ tranh chấp là “đòi lại tài sản”, buộc bà Lưu Thị Trâm N phải trả tiền nợ gốc là 3.000.000.000đ cho bà Trương Thị D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Ngày 15/8/2024, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang tuyên Bản án số 72/2024/DS-ST. Ngày 26/8/2024, bị đơn Lưu Thị Trâm N kháng cáo là trong thời hạn luật định nên được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Bà Trương Thị D và bà Lưu Thị Trâm N đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng có đơn xin vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[1.2] Về thời hiệu khởi kiện: Tại Giấy hẹn trả nợ đề ngày 20/12/2013 có chữ ký, chữ viết của bà Lưu Thị Trâm N xác định, bà N mượn bà Trương Thị D số tiền 3.000.000.000đ và trả trước số tiền 1.500.000.000đ vào ngày 30/12/2013. Bản chất giấy hẹn trả nợ là hợp đồng vay có kỳ hạn theo Điều 478 Bộ luật Dân sự 2005 (tương ứng Điều 470 Bộ luật Dân sự 2015). Đến thời hạn ngày 30/12/2013, bà N không trả 1.500.000.000₫ là vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với bà D nên bà D có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình từ ngày 01/01/2014 theo quy định về thời hiệu khởi kiện tại khoản 1 Điều 159 Bộ luật Dân sự 2005. Tuy nhiên, đến ngày 20/02/2023 bà D làm đơn khởi kiện là hết thời hiệu khởi kiện (02 năm) theo quy định tại Điều 427 Bộ luật Dân sự 2005 (03 năm theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015); việc bị đơn yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu là đúng quy định tại khoản 2 Điều 184 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên cần xem xét áp dụng thời hiệu khởi kiện để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
[1.3] Tại giai đoạn sơ thẩm xác định quan hệ “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Tuy nhiên, bị đơn Lưu Thị Trâm N yêu cầu áp dụng thời hiệu là có căn cứ nên việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền lãi là không có cơ sở chấp nhận vì thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu lãi suất đã hết nên cần đình chỉ đối với yêu cầu này. Đối với số tiền 3.000.000.000₫ liên quan đến quyền sở hữu của bà D nên không áp dụng thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định lại quan hệ tranh chấp là “tranh chấp đòi lại tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung: Tại Giấy hẹn trả nợ đề ngày 20/12/2013 có chữ ký, chữ viết của bà Lưu Thị Trâm N xác định, bà N mượn bà Trương Thị D số tiền 3.000.000.000₫ và trả trước số tiền 1.500.000.000đ vào ngày 30/12/2013. Bà N1 xác nhận có mượn tiền của bà D và đã trả tiền lãi với số tiền nhiều hơn cả tiền gốc nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh và bà D không thừa nhận. Do đó, Hội đồng xét xử xác định nội dung, hình thức giấy hẹn trả nợ là hợp đồng vay có kỳ hạn theo Điều 478 Bộ luật Dân sự 2005 (tương ứng Điều 470 Bộ luật Dân sự 2015), có giá trị pháp lý phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Mặc dù đến ngày 20/02/2023 bà D mới khởi kiện là đã hết thời hiệu khởi kiện nhưng thời hiệu khởi kiện không áp dụng đối với quyền sở hữu là số tiền nợ gốc 3.000.000.000đ. Do đó, việc bà D yêu cầu bà N1 phải trả số tiền 3.000.000.000đ là có căn cứ.
[3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xác định Bản án số: 72/2024/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ nên cần sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Lưu Thị Trâm N.
[4] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm là có căn cứ nên cần chấp nhận.
[5] Về án phí: Bị đơn Lưu Thị Trâm N kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm. Tuy nhiên, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả 3.000.000.000₫ theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ các khoản 1 Điều 159, Điều 427, Điều 478 của Bộ luật Dân sự 2005.
- - Căn cứ các Điều 166, Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
- - Căn cứ điểm e, khoản 1 Điều 217, Điều 147, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Lưu Thị Trâm N, sửa Bản án sơ thẩm số 72/2024/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang.
-
Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn: Buộc Lưu Thị Trâm N phải trả cho bà Trương Thị D số tiền nợ gốc 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng).
Ngoài ra, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị D đối với bà Lưu Thị Trâm N về việc yêu cầu trả tiền lãi suất 2.700.000.000đ (hai tỷ bảy trăm triệu đồng).
-
Về án phí:
- - Bà Lưu Thị Trâm N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Bà N1 phải chịu 92.000.000đ (chín mươi hai triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Ký hiệu: BLTU/23, số: 0002863 ngày 09/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Bà N1 phải tiếp tục nộp số tiền 91.700.000đ (chín mươi mốt triệu bảy trăm nghìn đồng).
- - H lại cho bà Trương Thị D số tiền 56.715.000 đồng (Năm mươi sáu triệu bảy trăm mười lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số: AA/2023/0000258 ngày 26/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
* Quy định chung: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hánh án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Thật |
Bản án số 74/2025/DS-PT ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 74/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà N mượn tiền bà D nhưng đến hạn bà D không trả tiền và khi bà D khởi kiện thì hết thời hiệu, nên bà D chỉ yêu cầu trả lại tiền nợ gốc
