|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 74/2024/HNGĐ-ST Ngày: 21/8/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung”. |
|
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN |
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Lưu Triều
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đỗ Văn Hoà
- Bà Nguyễn Thị Viết Sáu
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Châu – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Như Uyên – Kiểm sát viên.
Vào hồi 08 giờ 30 phút, ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 191/2024/TLST-HNGĐ ngày 09/5/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 497/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa 156/2024/QĐST-DS ngày 26/7/2024 giữa:
Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Thùy N – sinh năm: 1991
Địa chỉ: Chung cư H N, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K – sinh năm: 1994
Địa chỉ: H L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Bà Gia có mặt, vắng mặt ông K tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 8 năm 2023 nguyên đơn là bà Bùi Thị Thùy N và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm đều trình bày:
Bà Bùi Thị Thùy N vaø ông Nguyễn Văn K tự nguyện tìm hiểu, chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận nên được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 253 ngày 14/10/2019.
Quá trình chung sống vợ chồng chỉ hạnh phúc được thời gian đầu. Nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn vì ông K không quan tâm đến vợ con, nguyên nhân là do ông K đi sớm về trễ, làm ra tiền về không phụ với vợ để chăm lo cho gia đình mà chỉ lo cho bản thân nên vợ chồng thường cãi vã, đời sống không hòa hợp, do đó mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được mặc dù gia đình hai bên cũng như vợ chồng tự hòa giải nhiều lần nhưng mâu thuẫn vẫn không hề giảm mà ngày càng phát sinh trầm trọng hơn nên từ đó bà N, ông K sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau nữa.
Nay bà N nhận thấy tình trạng gia đình đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được nên làm đơn yêu cầu được ly hôn với ông K.
Về con chung: Bà Bùi Thị Thùy N vaø ông Nguyễn Văn K có 01 người con chung tên Nguyễn Mộc An N1, sinh ngày 15/4/2019. Hiện nay cháu N1 đang sống với bà N nên sau khi ly hôn bà N muốn tiếp tục nuôi dưỡng con và không yêu cầu ông K cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung: Bà Bùi Thị Thùy N và ông Nguyễn Văn K chưa có yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nghĩa vụ dân sự và nợ chung: Bà Bùi Thị Thùy N xác định không có nợ chung và không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục triệu tập hợp lệ đối với ông Nguyễn Văn K. Tuy nhiên, ông K không đến Toà án để tham gia tố tụng. Do vậy, ông K không có lời khai tại hồ sơ và không có lời khai tại phiên toà.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử, nghị án và tuyên bản án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, đồng thời chấp hành tốt nội quy phiên tòa. Bị đơn đã được tòa án triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng cố tình vắng mặt không có lý do nên việc xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Thùy N được ly hôn ông Nguyễn Văn K.
Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Mộc An N1, sinh ngày 15/4/2019 cho bà Bùi Thị Thùy N trực tiếp nuôi dưỡng.
với bà N nên sau khi ly hôn giao người con cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, do bà N chưa có yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên chưa xem xét.
Về tài sản chung: Bà Bùi Thị Thùy N, ông Nguyễn Văn K chưa có yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nghĩa vụ dân sự và nợ chung: Bà Bùi Thị Thùy N xác định không có nợ chung và không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa cũng như căn cứ vào kết quả tranh trụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Bùi Thị Thùy N có đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Văn K, ông K có nơi cư trú tại thành phố P, tỉnh Bình Thuận nên đây là vụ án Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, theo quy định tại khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn là ông Nguyễn Văn K đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nên biết rõ việc Bùi Thị T Ngân khởi kiện yêu cầu giải quyết việc ly hôn nhưng ông K vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để ông K tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn K.
[2] Về nội dung vụ án:
Bà Bùi Thị T Ngân vaø ông Nguyễn Văn K tự nguyện tìm hiểu, chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận nên được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 253 ngày 14/10/2019.
Quá trình chung sống vợ chồng chỉ hạnh phúc được thời gian đầu. Nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn vì ông K không quan tâm đến vợ con, nguyên nhân là do ông K đi sớm về trể, làm ra tiền về không phụ với vợ để chăm lo cho gia đình mà chỉ lo cho bản thân nên vợ chồng thường cãi vã, đời sống không hòa hợp, do đó mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được mặc dù gia đình hai bên cũng như vợ chồng tự hòa giải nhiều lần nhưng mâu thuẫn vẫn không hề giảm mà ngày càng phát sinh trầm trọng hơn nên từ đó bà N, ông K sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau nữa.
Nay bà N nhận thấy tình trạng gia đình đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được nên làm đơn yêu cầu được ly hôn với ông K.
Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình quy định:
“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ cùng chung sức, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững; thực hiện tốt nghĩa vụ đối với cha mẹ, con và các thành viên khác của gia đình; sống có trách nhiệm với cộng đồng; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân và tuân thủ pháp luật.”
Điều 21 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau”.
Khoản 01 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để tạo điều kiện cho ông K và bà N trở về đoàn tụ với nhau nhưng ông K cố tình vắng mặt không có lý do đồng thời bà N xác định không còn tình cảm với ông K vì hoàn cảnh gia đình đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được. Việc ông K có hành vi xâm phạm đến bà N và cố tình vắng mặt trong các buổi hòa giải cho thấy ông K không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ bà N nên đủ cơ sở nhận định tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông K đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Từ những lý do trên cho thấy việc bà N làm đơn yêu cầu ly hôn ông K là có căn cứ và đúng quy định pháp luật. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N, phù hợp với Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Bà Bùi Thị Thùy N và ông Nguyễn Văn K có 01 người con chung tên Nguyễn Mộc An N1, sinh ngày 15/4/2019. Hiện nay cháu N1 đang sống với bà N nên sau khi ly hôn bà N muốn tiếp tục nuôi dưỡng.
Xét thấy, hiện nay cháu N1 đang được bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Bà N có nơi cư trú, công việc thu nhập ổn định và nếu cần, bà có quyền lợi về mọi mặt đối với cháu. Do đó, việc giao cháu N1 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng và ông K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung là phù hợp với Điều 81 và Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà Bùi Thị Thùy N chưa có yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên chưa xem xét.
Về tài sản chung: Bà Bùi Thị Thùy N vaø ông Nguyễn Văn K chưa có yêu cầu giải quyết nên chưa xem xét.
Về nghĩa vụ dân sự và nợ chung: Bà Bùi Thị Thùy N xác định không có nợ chung và không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai nên chưa xem xét giải quyết.
[3] Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết: Ý kiến của Kiểm sát viên về trình tự thủ tục cũng như nội dung giải quyết vụ án là phù hợp với quy định pháp luật.
[4] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Gia phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
I/ Áp dụng:
Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 233, Điều 262, Điều 264 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Điều 51, Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Thùy N được ly hôn ông Nguyễn Văn K.
1.2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Mộc An N1, sinh ngày 15/4/2019 cho bà Bùi Thị Thùy N trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông Nguyễn Văn K có quyền thăm nom con. Trong trường hợp lạm dụng việc thăm nom con để gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con thì bà N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con và ngược lại vì lợi ích của con, khi cần thiết có bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
1.3. Về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà Bùi Thị Thùy N chưa có yêu cầu ông Nguyễn Văn K cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên chưa xem xét.
1.4. Về tài sản chung: Bà Bùi Thị Thùy N, ông Nguyễn Văn K chưa có yêu cầu Tòa án giải quyết.
1.5. Về nghĩa vụ dân sự và nợ chung: Bà Bùi Thị Thùy N, ông Nguyễn Văn K xác định không có nợ chung và không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Theo quy định tại khoản 04 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Bùi Thị Thùy N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0001692 ngày 09/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết, bà Bùi Thị Thùy N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/8/2024), bà Bùi Thị Thùy N có quyền kháng cáo. Ông Nguyễn Văn K có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật
4. Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án:
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự, trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa NGUYỄN LƯU TRIỀU |
Bản án số 74/2024/HNGĐ-ST ngày 21/08/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Số bản án: 74/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
