Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ DUY TIÊN

TỈNH HÀ NAM

Bản án số: 74/2024/HSST

Ngày 24 – 6 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đông.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Quốc Phòng và ông Đỗ Văn Đông.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Vy – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Hoa – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 66/2024/TLST – HS ngày 27/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 70/2024/QĐXXST – HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 đối với:

- Bị cáo: Tống Văn N (tên gọi khác: Không), sinh năm 1988, nơi ĐKHKTT: Khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, chỗ ở: Tổ dân phố N, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; con ông Tống Văn H, sinh năm 1957 và bà Đào Thị C, sinh năm 1959; vợ: Bùi Thị Thu H1, sinh năm 1990 (đã ly hôn); con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án: Ngày 16/11/2022, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 20/12/2023, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 15/01/2020, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 16/4/2020, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm, đã được xóa án tích.

Tạm giữ: Từ ngày 15/3/2024 đến ngày 24/3/2024 chuyển sang tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thị xã D, tỉnh Hà Nam. Có mặt.

- Bị hại:

1. Anh Lã Đức H2, sinh ngày 18/7/2006, nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện B, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt;

Người đại diện theo pháp luật cho anh Lã Đức H2: Anh Lã Đức H3, sinh năm 1999, nơi cư trú: Xóm F, xã H, huyện B, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt;

2. Anh Lê Đình G, sinh năm 2004, nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty TNHH G1, địa chỉ: Khu công nghiệp Đ, phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Người đại diện theo pháp luật: Ông Yu Hsiao C1 – Tổng giám đốc. Người đại diện theo uỷ quyền: Anh Bùi Văn Đ, sinh năm 1999, nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt;

2. Anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1987, nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố Đ, phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt;

3. Anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1974, nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tống Văn N làm công nhân thời vụ tại Công ty TNHH G1 - Khu công nghiệp Đ thuộc phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam từ ngày 27/02/2024, được khoảng 10 ngày thì nghỉ việc. Khoảng 08 giờ ngày 14/3/2024, N đi bộ từ phòng trọ thuê tại tổ dân phố N, phường B, thị xã D (N không đăng ký tạm trú) vào Công ty G1 để lấy một số đồ dùng cá nhân còn trong tủ. Do quy định của Công ty yêu cầu công nhân thời vụ không được mang điện thoại di động vào khu làm việc nên toàn bộ công nhân phải để điện thoại di động ở trên bàn bảo vệ ở khu vực xưởng 1 do anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1974, trú tại thôn G, xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam trông coi, hết giờ làm mới được nhận lại điện thoại. N1 quan sát thấy trên bàn bảo vệ có khoảng hơn chục chiếc điện thoại di động. Lợi dụng lúc anh Nguyễn Văn N1 đi kiểm tra công nhân, không ngồi ở vị trí bàn bảo vệ, N1 đi đến vị trí bàn lấy 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S Plus của anh Lê Đình G, sinh năm 2004, trú tại: Tổ dân phố G, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam đưa lên tai giả vờ nghe điện thoại rồi đi về khu vực tủ đồ cá nhân cất vào túi quần bên trái đang mặc. Quan sát thấy anh N1 đi kiểm tra công nhân chưa về vị trí bàn bảo vệ, N1 quay lại bàn lấy 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh của anh Lã Đức H2, sinh ngày 18/7/2006, trú tại: Đ, xã H, huyện B, tỉnh Hà Nam, đưa lên tai giả vờ nghe điện thoại rồi đi về khu vực tủ cá nhân cất vào túi quần bên trái đang mặc. Sau đó, N1 đi bộ ra khỏi công ty, mang 02 chiếc điện thoại trộm cắp được ra cửa hàng điện thoại của anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1987 ở tổ dân phố Đ, phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam bán chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax. N1 nói với anh Đ1: "Anh có mở khóa được điện thoại này không?", anh Đ1 nói: "Để xem đã". Trong lúc anh Đ1 kiểm tra điện thoại, N1 nói: "Anh có mua máy này không?", anh Đ1

nói: "Máy này của ai?". N1 nói: "Máy này của bạn em, nó nợ tiền em, giờ về quê rồi, em mở khóa để bán", anh Đ1 nói: "Nếu đúng như thế thì anh mua", N1 nói: "Anh mua được bao nhiêu?". Anh Đ1 nói: "Máy này chỉ mua được 4.000.000 đồng thôi". N1 đồng ý bán. Anh Đ1 đưa N1 08 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Sau đó, N1 đi bộ ra gầm cầu vượt Đ bắt xe bus lên Hà Nội để tìm cửa hàng mở khóa chiếc điện thoại Iphone 6S Plus. N1 vào một cửa hàng điện thoại không quen biết ở khu vực N thuộc huyện T, thành phố Hà Nội (N1 không biết tên chủ cửa hàng và tên cửa hàng), N1 cầm chiếc chiếc điện thoại Iphone 6S Plus hỏi chủ cửa hàng: "Anh có mở được khóa điện thoại này không?". Chủ cửa hàng nói "Mở khóa màn hình hết 150.000 đồng, còn mở cả khóa Icloud thì hết 150.000 đồng nữa, tổng hết 300.000 đồng". N1 đồng ý thuê mở khóa hết 300.000 đồng. Sau khi mở được khóa chiếc điện thoại Iphone 6S Plus, N1 bắt xe buýt về phòng trọ. Số tiền bán chiếc điện thoại Iphone 13 Promax Ngọc đã ăn tiêu cá nhân hết 1.200.000 đồng.

Khoảng 10h00' ngày 04/3/2024, anh Lã Đức H2 và anh Lê Đình G nghỉ giải lao, ra bàn bảo vệ lấy điện thoại thì anh H2 và anh G phát hiện bị mất chiếc điện thoại 13 Promax và Iphone 6S Plus nên đã báo quản lý an ninh Công ty. Qua rà soát camera an ninh của Công ty đã xác định Tống Văn N là người đã lấy trộm chiếc điện thoại Iphone 13 Promax và Iphone 6S Plus của anh H2 và anh G. Anh Lã Đức H2 và anh Lê Đình G làm đơn trình báo Công an phường D, thị xã D. Đến khoảng 11h30' ngày 15/3/2024, Công an phường D, thị xã D triệu tập Tống Văn N đến làm việc. Tại đây, N tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại Iphone 6S Plus và số tiền 2.800.000 đồng. Vụ việc được chuyển lên Cơ quan CSĐT Công an thị xã D giải quyết theo quy định của pháp luật

Vật chứng, đồ vật thu giữ, tạm giữ gồm:

  • Anh Bùi Văn Đ – đại diện theo ủy quyền Công ty TNHH G1 giao nộp: 01 đoạn trích camera an ninh tại vị trí ra vào cổng kiểm soát của Công ty TNHH G1, thời gian từ 08 giờ 00 phút đến 08 giờ 04 phút 28 giây trong ngày 14/3/2024 và 01 thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Tống Văn N.
  • Anh Nguyễn Văn Đ1 tự nguyện giao nộp: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13Promax, màu xanh, phiên bản 128GB, số IMEI 353027941075596, trong máy không lắp sim, bên ngoài có ốp bằng nhựa màu xanh lá cây, mặt ngoài ốp có dòng chữa "Better me", máy đã qua sử dụng và 01 đoạn trích camera tại khu vực sửa chữa.
  • Bị cáo Tống Văn N tự nguyện giao nộp: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, màu trắng bạc, phiên bản 128GB, số IMEI 35859407044214, trong máy có lắp sim điện thoại số thuê bao 0362.940.xxx, bên ngoài có ốp nhựa màu đen, mặt ngoài ốp có dòng chữ "L bear" và số tiền 2.800.000 đồng gồm 05 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 03 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 14/KL – HĐ ngày 21/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã D, tỉnh Hà Nam

kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13Promax, màu xanh, phiên bản 128GB, số IMEI 353027941075596, trong máy không lắp sim, máy đã qua sử dụng có giá trị: 12.500.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, màu trắng bạc, phiên bản 128GB, số IMEI 35859407044214, máy đã qua sử dụng có giá trị: 1.500.000 đồng; 02 ốp nhựa: 01 ốp bằng nhựa màu xanh lá cây, mặt ngoài ốp có dòng chữa "Better me”, 01 ốp nhựa màu đen, mặt ngoài ốp có dòng chữ "Lovely bear", mỗi chiếc có giá trị 10.000 đồng; 01 sim điện thoại số thuê bao 0362.940.xxx có giá trị 0 đồng. Tổng giá trị tài sản là: 14.020.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Ngày 25/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D đã trả lại chiếc Iphone 13 Promax và số tiền 2.800.000 đồng cho anh Lã Đức H2, trả lại chiếc điện thoại Iphone 6 Plus cho anh Lê Đình G. Anh H2, anh G đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Đối với 01 đoạn trích camera an ninh tại vị trí ra vào cổng kiểm soát của Công ty TNHH G1, thời gian từ 08h00' đến 08h04'28" ghi lại hình ảnh Tống Văn N trộm cắp điện thoại của anh Lã Đức H2 và anh Lê Đình G, 01 đoạn trích camera do anh Đ1 giao nộp được lưu trữ trong hồ sơ vụ án phục vụ công tác xét xử. Đối với 01 căn cước công dân của Tống Văn N được chuyển theo hồ sơ vụ án để xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, anh Lã Đức H2 đã bỏ số tiền 4.000.000 đồng để chuộc chiếc điện thoại Iphone 13Promax của mình cho anh Nguyễn Văn Đ1 là chủ cửa hàng điện thoại. Do vậy, số tiền 2.800.000 đồng mà Tống Văn N giao nộp là tiền có được do đã bán chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13Promax cho anh Nguyễn Văn Đ1 mà có. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Lã Đức H2. Anh H2 có yêu cầu N phải tiếp tục trả anh số tiền còn thiếu 1.200.000 đồng, đến nay N chưa bồi thường. Anh Nguyễn Văn Đ1 đã nhận đủ số tiền do anh H2 trả để nhận lại điện thoại Iphone 13Promax, nay anh Đ1 không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Anh Lê Đình G đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì.

Cáo trạng số 73/CT – VKS – DT ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS; điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS; Điều 38 BLHS. Tuyên bố bị cáo Tống Văn N phạm tội "Trộm cắp tài sản". Xử phạt bị cáo Tống Văn N mức án từ 18 đến 24 tháng tù.
  2. Về trách nhiệm dân sự:

    Áp dụng Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Tống Văn N phải bồi thường, trả anh Lã Đức H2 số tiền 1.200.000₫.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí trong vụ án.

Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng: Bị cáo N chỉ xin giảm nhẹ hình phạt mà không có ý kiến tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, những người tiến hành tố tụng nêu trên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 08h00' ngày 14/3/2024, tại Công ty TNHH G1 - Khu công nghiệp Đ thuộc phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam, lợi dụng bảo vệ của công ty S trong việc trông coi tài sản, Tống Văn N đã lén lút đến bàn bảo vệ khu vực xưởng 1 của công ty T chiếc điện thoại Iphone 13 Promax của anh Lã Đức H2 có giá trị 12.510.000đ và chiếc điện thoại Iphone 6 Plus của anh Lê Đình G có giá trị 1.510.000đ. Tổng giá trị tài sản mà Tống Văn N chiếm đoạt của anh H2 và anh G là 14.020.000đ.

Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác được được pháp luật bảo hộ, đồng thời ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):

Về nhân thân: Bị cáo là người có một tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nên là người có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền bán chiếc điện thoại di động Iphone 13 promax và giao nộp chiếc điện thoại Iphone 6S Plus do trộm cắp mà có cho Cơ quan điều tra để khắc phục hậu quả, ngoài ra trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục thành khẩn khai báo, ăn năn

hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt:

Hình phạt chính: Từ những nhận định trên, xét bị cáo là người có nhân thân xấu, ham chơi, lười lao động, không chịu tu dưỡng bản thân, coi thường pháp luật, vì vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp thực tế và khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Anh Lã Đức H2 đã bỏ số tiền 4.000.000 đồng để chuộc chiếc điện thoại Iphone 13Promax của mình cho anh Nguyễn Văn Đ1 là chủ cửa hàng điện thoại. Quá trình điều tra, anh H2 đã nhận lại chiếc điện thoại Iphone 13 Promax màu xanh và số tiền 2.800.000 đồng là tiền N bán chiếc điện thoại cho anh Đ1 mà có. Nay anh H2 có yêu cầu N phải tiếp tục trả anh số tiền còn thiếu 1.200.000 đồng. Xét thấy yêu cầu của anh H2 là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này.

Anh Lê Đình G, Nguyễn Văn Đ1 không có yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng vụ án:

Đối với 01 thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Tống Văn N đang được lưu trong hồ sơ vụ án: Xét thấy không có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo là có căn cứ.

Đối với 01 đoạn trích camera an ninh tại vị trí ra vào cổng kiểm soát của Công ty TNHH G1, thời gian từ 08 giờ 00 phút đến 08 giờ 04 phút 28 giây trong ngày 14/3/2024 và 01 đoạn trích camera do anh Nguyễn Văn Đ1 giao nộp: Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án phục vụ công tác xét xử ở các cấp tiếp theo.

[7] Về các tình tiết khác:

Đối với anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1987 ở tổ dân phố P, phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam là người đã mua chiếc điện thoại Iphone 13Promax mà Tống Văn N mang đến bán: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, xác định được anh Đ1 không hứa hẹn trước, không biết đó là tài sản do N phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D không có căn cứ xử lý anh Đ1 về hành vi "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" là đúng quy định của pháp luật.

[8] Về án phí hình sự, dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Tống Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt: Bị cáo Tống Văn N 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2024.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Tống Văn N phải bồi thường cho bị hại là anh Lã Đức H2 số tiền 1.200.000 (Một triệu hai trăm ngàn) đồng.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn lại phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Trả lại cho bị cáo: 01 thẻ căn cước công dân mang tên Tống Văn N.

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm: Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội: Buộc bị cáo Tống Văn N phải nộp án phí hình sự sơ thẩm: 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 đồng.

Án xử công khai sơ thẩm: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên;
  • - VKSND thị xã Duy Tiên;
  • - Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
  • - Cơ quan THAHS Công an tx Duy Tiên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tiến Đông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HSST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 74/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tống Văn N phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger