Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2024/HS - PT

Ngày: 12 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Công Đoàn.

Các Thẩm phán: Ông Trần Văn San và ông Nguyễn Mạnh Hùng.

Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Hoà - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Phạm Quang Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 12/12/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam mở phiên toà xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 86/2024/HSPT ngày 15/10/2024 đối với bị cáo Phạm Ngọc T, Đỗ Văn T1 và Nguyễn Văn C, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HSST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Phạm Ngọc T, sinh năm 1981; nơi thường trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; nơi ở hiện nay: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T2 và bà Nguyễn Thị S; có vợ là Phạm Thị L; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 26/12/2019, Công an huyện T, tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/02/2024 đến 03/3/2024 chuyển tạm giam sau đó ngày 23/5/2024 được tại ngoại, hiện nay đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

  2. Đỗ Văn T1, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Xuân T3 (đã chết) và bà Ngô Thị Hồng L1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 06/3/2013, Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chấp hành xong bản án ngày 30/11/2018.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/4/2024 đến ngày 26/4/2024 chuyển tạm sau đó ngày 23/5/2024 được tại ngoại, hiện nay đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

  3. Nguyễn Văn C, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Vũ Thị T4; có vợ là Lương Thị Hương L2; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền sự: Không.

    Tiền án: Ngày 19/5/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xử phạt 03 năm tù về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong bản án ngày 26/01/2024.

    Nhân thân: Ngày 22/12/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội “Đánh bạc”; tạm giữ, tạm giam: Không.

    Bị cáo hiện nay đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

Các bị cáo không kháng cáo:

  1. Phạm Văn C1, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  2. Đào Văn C2, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  3. Đào Văn T5, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  4. Đinh Mạnh T6, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  5. Nguyễn Văn Q, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  6. Nguyễn Văn H, sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  7. Trần Đức L3, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  8. Dương Văn Q1, sinh năm 1984; nơi cư trú: Tiểu khu T, thị trấn K, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  9. Vũ Văn L4, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  10. Phạm Công S1, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  11. Vũ Mạnh D, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  12. Đào Văn S2, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  13. Đặng Văn C3, sinh năm 1978; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  14. Trần Văn N, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  15. Đinh Quốc C4, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  16. Nguyễn Văn Q2, sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  17. Trần Văn D1, sinh năm 1966; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  18. Phạm Văn K, sinh năm 1969; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  19. Trần Văn T7, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo:

  1. Chị Phạm Thị L, sinh năm 1985; nơi thường trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; nơi ở hiện tại: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  2. Ông Phạm Văn L5, sinh năm 1957; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  3. Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1959; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  4. Bà Ngô Thị Hồng L1, sinh năm 1958; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong các ngày 09, 10 và 11/02/2024, tại chỗ ở của Phạm Ngọc T ở thôn N và lán tôn nhà kho của gia đình ông Phạm Văn L5 ở thôn T, đều thuộc xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; Phạm Ngọc T đã cùng các đối tượng khác rủ nhau đánh bạc với hình thức chơi “Xóc đĩa” được thua bằng tiền. Cách thức, quy mô của từng lần đánh bạc cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 15 giờ ngày 09/02/2024, tại phòng khách nhà Phạm Ngọc T, trong lúc ngồi uống nước cùng với Phạm Văn C1, Đinh Mạnh T6, Đỗ Văn T1 và Đào Văn L6 - sinh năm 1985, trú tại thôn Đ, xã T, huyện T; T đã rủ 04 người này đánh bạc được thua bằng tiền với hình thức chơi “Xóc đĩa”, thì cả nhóm đồng ý. T sử dụng bộ dụng cụ đục quân vị có sẵn, đục vỏ bao thuốc lá Thăng Long thành 04 quân vị hình tròn (01 mặt màu trắng, 01 mặt màu vàng), rồi lấy 01 bát sứ, 01 đĩa sứ trong phòng bếp mang xuống gian phòng ngủ phía cuối nhà. Thái trải chiếu cói ra nền phòng, rồi cùng với C1, L6, Đinh Mạnh T6, Đỗ Văn T1 bắt đầu đánh bạc với cách thức: khi bắt đầu chơi, người cầm cái để 04 quân vị vào lòng đĩa, rồi úp bát lại, dùng hai tay bê đĩa và bát đang úp vào nhau xóc nhiều lần, sau đó đặt xuống để người chơi đặt tiền theo cửa “chẵn” (đặt ở phía trong vị trí để bát, gần người cầm cái) hoặc cửa “lẻ” (đặt phía bên ngoài bát) tuỳ theo cách phán đoán của mỗi người và không giới hạn số tiền đặt cửa. Khi mọi người đặt cửa xong, thì người cầm cái mở bát; nếu cả 04 quân vị cùng màu (đều là mặt vàng hoặc trắng) hoặc có 02 quân vị mặt vàng và 02 quân vị mặt trắng, thì kết quả là “chẵn”; nếu có 03 quân vị cùng màu, 01 quân vị khác màu thì kết quả là “lẻ”. Khi kết quả là “chẵn” hoặc “lẻ” theo đúng cửa đã đặt trước đó, thì người cầm cái sẽ phải trả cho người chơi số tiền bằng số tiền người chơi đã đặt cửa; ngược lại, nếu kết quả không như người chơi đã đặt cửa trước đó, thì người chơi bị thua toàn bộ số tiền đặt cửa cho người cầm cái. Người cầm cái có thể bán cái cho người khác, người mua cái sẽ thanh toán trả tiền cho người đặt cửa như người cầm cái. Ngoài ra, người cầm cái có thể bán toàn bộ cửa “lẻ” hoặc “chẵn” cho người đặt cửa ngược lại; khi kết quả trùng với cửa của người mua, thì người cầm cái sẽ chỉ được số tiền của người chơi đặt cửa không đúng, còn người mua toàn bộ cửa “lẻ” hoặc “chẵn” sẽ phải trả số tiền đặt cửa cho những người chơi đặt cửa đúng như kết quả “chẵn” hoặc “lẻ”.

Khi bắt đầu đánh bạc, C1 là người cầm cái và sử dụng 8.000.000 đồng để đánh bạc, còn các đối tượng khác tham gia đặt cửa; trong đó, T sử dụng 380.000 đồng, Đinh Mạnh T6 sử dụng 3.000.000 đồng, Đỗ Văn T1 sử dụng 5.000.000 đồng vào việc đánh bạc. Tiếp đó, có Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn H lần lượt đến nhà T ngồi xem, rồi tham gia đánh bạc cùng T và những người khác; Q sử dụng 100.000 đồng, H sử dụng 1.000.000 đồng vào việc đánh bạc. Sau đó, do thua hết số tiền 8.000.000 đồng, nên C1 đi về, thì T cầm cái xóc đĩa cho những người còn lại đặt cửa; cả nhóm tiếp tục đánh bạc đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì nghỉ. Tổng số tiền Phạm Ngọc T, Phạm Văn C1, Đinh Mạnh T6, Đỗ Văn T1, Nguyễn Văn Q và Nguyễn Văn H sử dụng vào việc đánh bạc là 17.480.000 đồng, chưa xác định được số tiền Đào Văn L6 sử dụng vào việc đánh bạc là bao nhiêu.

Vụ thứ hai: Sáng ngày 10/02/2024, Phạm Ngọc T cùng vợ là chị Phạm Thị L và con đến nhà bố mẹ vợ T là ông Phạm Văn L5, bà Nguyễn Thị M1 ở thôn T, xã T, huyện T chúc Tết, ăn cơm trưa ở đây. Sau đó, ông L5 đi làm, bà M1 đi chúc Tết, chị L đưa các con về nhà, còn T ở lại nhà ông L5 chơi; T không được vợ chồng ông L5 giao trông coi, quản lý tài sản, nhà cửa. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Đỗ Văn T1, Đào Văn L6 và Nguyễn Văn Q đến nhà ông L5 chơi, uống nước với T, rồi rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền với hình thức chơi “Xóc đĩa”. T cầm theo 01 chiếc kéo, 01 bát, 01 đĩa đều bằng sứ và cùng cả nhóm đi sang khu vực lán tôn là nhà kho để không (cách đó khoảng 20m) của nhà ông L5. T dùng kéo cắt vỏ bao thuốc lá Thăng Long thành 04 quân vị hình tròn dùng để đánh bạc. Cũng với cách thức nêu trên, T cầm cái xóc đĩa và sử dụng số tiền 13.000.000 đồng có được do thắng bạc ngày 09/02/2024 vào việc đánh bạc, những người còn lại tham gia đặt cửa; trong đó Đỗ Văn T1 sử dụng 3.000.000 đồng, Nguyễn Văn Q sử dụng 200.000 đồng để đánh bạc.

Sau đó, trong khoảng thời gian từ 18 giờ 30 phút đến 20 giờ cùng ngày, lần lượt có Trần Đức L3, Vũ Văn L4, Dương Văn Q1, Phạm Công S1, Vũ Mạnh D, Nguyễn Văn C lần lượt đến nhà ông L5, tự vào khu vực lán tôn, rồi tham gia đánh bạc cùng với T và các đối tượng khác; trong đó, Trần Đức L3 sử dụng 300.000 đồng, Vũ Văn L4 sử dụng 500.000 đồng, Q1 sử dụng 400.000 đồng, D sử dụng 400.000 đồng, C sử dụng 500.000 đồng, Phạm Công S1 sử dụng 150.000 đồng vào việc đánh bạc. Từ khoảng 21 giờ đến 23 giờ 30 phút cùng ngày, có Nguyễn Văn H, Đặng Văn C3, Trần Văn T7, Trần Văn N, Đào Văn S2, Đào Văn C2, Đào Văn T8, Đinh Quốc C4, Đinh Mạnh T6, Trần Văn D1, Nguyễn Văn Q2, Phạm Văn K đến tham gia đánh bạc cùng; trong đó, H sử dụng 2.000.000 đồng, C3 sử dụng 1.800.000 đồng, T7 sử dụng 1.000.000 đồng, N sử dụng 400.000 đồng, Đào Văn S2 sử dụng 400.000 đồng, C2 sử dụng 1.700.000 đồng, T8 sử dụng 2.000.000 đồng, C4 sử dụng 900.000 đồng, Đinh Mạnh T6 sử dụng 3.400.000 đồng, D1 sử dụng 150.000 đồng, Q2 sử dụng 400.000 đồng, K sử dụng 1.500.000 đồng vào việc đánh bạc. Trong quá trình chơi, do thua hết tiền, nên Dương Văn Q1, Trần Đức L3, Phạm Công S1 nghỉ ở các thời điểm 19 giờ 30 phút, 20 giờ, 21 giờ và đi về. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, do có người nhà gọi, nên Nguyễn Văn H nghỉ chơi và cầm theo số tiền 1.500.000 đồng đi về. Vũ Mạnh D, Vũ Văn L4, Đào văn S2, Đinh Quốc C4, Nguyễn Văn C5, Trần Văn T7, Trần Văn D1, Trần Văn N, Nguyễn Văn C, Phạm Văn K nghỉ không tham gia chơi nữa ở các thời điểm 22 giờ và 23 giờ cùng ngày, rồi đi về. Đinh Mạnh T6, Đặng Văn C3 sau khi chơi hết tiền thì ngồi lại xem. Nguyễn Văn C sau khi đi về lại tiếp tục quay lại đánh bạc với nhóm còn lại. Khi T thua hết số tiền 13.000.000 đồng thì T nghỉ; lúc này, Đào Văn C2 cầm cái xóc đĩa cho các đối tượng tham gia đặt cửa, sau đó C2 cũng nghỉ do thua hết tiền. T tiếp tục cầm cái xóc đĩa, nhưng bán cái cho người đặt cửa (tức là số người đặt cửa “chẵn” hoặc cửa “lẻ” tự thanh toán thắng thua cho nhau); trong quá trình đánh bạc thì cứ mỗi ván bạc có khoảng 06-07 đối tượng cùng tham gia đặt cửa. Đến khoảng 01 giờ ngày 11/02/2024, thì các đối tượng nghỉ đánh bạc; lúc này, Đỗ Văn T1 ngồi tại vị trí đánh bạc đếm tiền, rồi thông báo với cả nhóm là mình thắng được 30.000.000 đồng và có tổng số tiền 33.000.000 đồng; các đối tượng còn lại đều thua hết số tiền đã sử dụng vào việc đánh bạc. Tổng số tiền các đối tượng trên sử dụng vào việc đánh bạc là 34.500.000 đồng, chưa xác định được số tiền dùng để đánh bạc của Đào Văn L6.

Vụ thứ ba: Khoảng 20 giờ ngày 11/02/2024, cũng tại nhà ở của Phạm Ngọc T ở thôn N; trong lúc ngồi uống nước cùng với Đỗ Văn T1, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn H, Đào Văn C2, Đinh Quốc C4 và Đào Văn T5, T đã rủ mọi người chơi đánh bạc được thua bằng tiền với hình thức chơi “Xóc đĩa”, thì T1, Q, H, C4 và T5 đồng ý. T lấy bộ dụng cụ đục quân vị có sẵn, đục 04 quân vị hình tròn (01 mặt màu trắng, 01 mặt màu vàng) bằng vỏ bao thuốc lá Thăng Long, rồi lấy 01 bát sứ, 01 đĩa sứ trong phòng bếp mang xuống phòng ngủ, lấy chiếu trải xuống nền nhà, sau đó cùng với T1, Q, H, C4 và T5 đánh bạc được thua bằng tiền với hình thức chơi “Xóc đĩa” cũng với cách thức nêu trên. Khi bắt đầu chơi thì T5 là người cầm cái và sử dụng 500.000 đồng, T sử dụng 8.000.000 đồng, H sử dụng 1.500.000 đồng, Q sử dụng 500.000 đồng, C4 sử dụng 800.000 đồng, Đỗ Văn T1 sử dụng 4.000.000 đồng vào việc đánh bạc và là những người đặt cửa, còn C2 ngồi xem. Sau đó, Đào Văn T8 đến, sử dụng 1.700.000 đồng đánh bạc cùng T và những người khác. Một lúc sau, C2 vay Thinh 1.000.000 đồng, rồi thay T5 cầm cái xóc đĩa cho những người còn lại đặt cửa; quá trình đánh bạc thì C2 đã trả cho T8 số tiền này. Sau đó, T thay C2 cầm cái xóc đĩa đến khoảng 02 giờ ngày 12/02/2024 thì nghỉ; khi đó, Đỗ Văn T1 thắng được 13.000.000 đồng và có tổng số tiền 17.000.000 đồng, số còn lại đều thua hết tiền dùng để đánh bạc. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là 17.000.000 đồng.

Ngày 26/02/2024, Đinh Mạnh T6 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đầu thú, khai nhận hành vi của bản thân cùng đồng phạm và tự nguyện giao nộp số tiền 6.000.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc ngày 09/02/2024; ngày 04/6/2024, Nguyễn Văn C đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đầu thú. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Ngọc T tại thôn N, xã T, nhà ở của ông Phạm Văn L5 tại thôn T, xã T và chỗ ở của Đỗ Văn T1 tại thôn N, xã T, nhưng không thu giữ gì. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm đối với những đồ vật, công cụ liên quan trong vụ án là chiếu cói, bát, đĩa sứ, các quân vị và dụng cụ đục quân vị, nhưng không thu giữ được do Phạm Ngọc T đã vứt toàn bộ số vật chứng trên xuống sông Đ.

Ngày 04/5/2024, mẹ đẻ của Đỗ Văn T1 là bà Ngô Thị Hồng L1 tự nguyện giao nộp thay cho Đỗ Văn T1 số tiền 50.000.000 đồng mà Đỗ Văn T1 đã sử dụng và có được từ việc đánh bạc trong 02 ngày 10 và 11/02/2024 còn Nguyễn Văn H tự nguyện giao nộp số tiền 1.500.000 đồng.

Căn cứ vào các tài liệu đã thu thập, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với các bị can và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Đào Văn L6, nhưng không thi hành được do L6 bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 28/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định truy nã và ngày 01/7/2024 ra Quyết định tách vụ án hình sự đối với Đào Văn L6.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HSST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 (đối với tất cả các bị cáo), khoản 2 Điều 51 (đối với Phạm Ngọc T, Đỗ Văn T1, Nguyễn Văn C), điểm g khoản 1 Điều 52 (đối với Phạm Ngọc T, Đỗ Văn T1), điểm h khoản 1 Điều 52 đối với Nguyễn Văn C, Điều 38 (đối với Phạm Ngọc T, Đỗ Văn T1, Nguyễn Văn C) và điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, các điều 292, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố các bị cáo Phạm Ngọc T, Đỗ Văn T1, Nguyễn Văn C phạm tội “Đánh bạc”.

  • - Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T 15 (Mười lăm) tháng tù, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam (từ ngày 26/02/2024 đến ngày 23/5/2024), thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
  • - Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T1 12 (Mười hai) tháng tù, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam (từ ngày 20/4/2024 đến ngày 23/5/2024), thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 07 (bẩy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo khác trong vụ án, tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

Ngày 16/9/2024, bị cáo Phạm Ngọc T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Ngày 20/9/2024, bị cáo Đỗ Văn T1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Ngày 16/9/2024, bị cáo Nguyễn Văn C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo rút toàn bộ đơn kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và điển c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Ngọc T và Đỗ Văn T1; sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HSST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam về phần hình phạt; xử phạt bị cáo T từ 08 đến 09 tháng tù, bị cáo T1 từ 07 đến 08 tháng tù. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Văn C, bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HSST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo Nguyễn Văn C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về nội dung đơn kháng cáo: Bị cáo Phạm Ngọc T, Đỗ Văn T1 và Nguyễn Văn C kháng cáo trong thời hạn luật định, đơn thể hiện đầy đủ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết.

[2]. Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Phạm Ngọc T, Đỗ Văn T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân đúng như bản án sơ thẩm. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 15 giờ đến 17 giờ ngày 09/02/2024, tại phòng ngủ trong nhà Phạm Ngọc T có địa chỉ tại thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam, T đã cùng với Phạm Văn C1, Đinh Mạnh T6, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn Q, Đỗ Văn T1 đánh bạc với hình thức chơi “Xóc đĩa” được thua bằng tiền, với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 17.480.000 đồng.

Trong khoảng thời gian từ 16 giờ ngày 10/02/2024 đến 01 giờ ngày 11/02/2024, tại lán tôn nhà kho để không của gia đình ông Phạm Văn L5 có địa chỉ tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; Phạm Ngọc T đã cùng với Đỗ Văn T1, Nguyễn Văn Q, Trần Đức L3, Vũ Văn L4, Dương Văn Q1, Nguyễn Văn H, Phạm Công S1, Vũ Mạnh D, Đào Văn S2, Đào Văn C2, Nguyễn Văn C, Đào Văn T8, Đinh Quốc C4, Đinh Mạnh T6, Trần Văn T7, Trần Văn N, Đặng Văn C3, Trần Văn D1, Nguyễn Văn Q2, Phạm Văn K đánh bạc với hình thức chơi “Xóc đĩa” được thua bằng tiền, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 34.500.000 đồng.

Trong khoảng thời gian từ 20 giờ ngày 11/02/2024 đến 02 giờ ngày 12/02/2024 tại phòng ngủ của Phạm Ngọc T, T cùng với Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn Q, Đào Văn C2, Đinh Quốc C4, Đỗ Văn T1, Đào Văn T5, Đào Văn T8 đánh bạc với hình thức chơi “Xóc đĩa” được thua bằng tiền, tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 17.000.000 đồng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự địa phương. Bản án sơ thẩm tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc T, Đỗ Văn T1 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3]. Xét kháng cáo của các bị cáo: Phạm Ngọc T, Đỗ Văn T1; Hội đồng xét xử thấy:

Bị cáo Phạm Ngọc T, Đỗ Văn T1 có nhân thân xấu; bản thân Phạm Ngọc T, Đỗ Văn T1 “Phạm tội 02 lần trở lên” phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Khi lượng hình Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T 15 tháng tù, bị cáo Đỗ Văn T1 12 tháng tù về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Trong quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo Phạm Ngọc T xuất trình tài liệu mới vào ngày 17/9/2024 bản thân bị cáo đã đóng góp và ủng hộ khắc phục ảnh hưởng lũ lụt do cơn bão số 3 gây ra cho UBMTTQ xã T số tiền 700.000 đồng. Bị cáo Đỗ Văn T1 xuất trình tài liệu mới vào ngày 04/11/2024 bản thân bị cáo đã đóng góp và ủng hộ tiền xây dựng di tích lịch sử lưu niệm danh nhân Đinh Công T9 thôn N số tiền 2.000.000 đồng (đều có xác nhận của chính quyền địa phương). Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, do đó cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tại phiên toà, để các bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội nên đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận. Đối với kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo thấy; các bị cáo có nhân thân xấu, phạm tội 02 lần trở lên, theo Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo, các bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự; vì vậy đơn kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo không được chấp nhận.

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn C rút toàn bộ đơn kháng cáo, việc rút đơn kháng cáo là tự nguyện nên HĐXX căn cứ vào quy định của pháp luật, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo.

[4]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo T, T1 được chấp nhận, bị cáo C rút kháng cáo nên các bị cáo không phải chịu.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điển c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Ngọc T, Đỗ Văn T1; sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HSST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam về phần hình phạt chính đối với bị cáo T và T1.

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Văn C, bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HSST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo Nguyễn Văn C.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Tuyên bố các bị cáo Phạm Ngọc T, Đỗ Văn T1 phạm tội “Đánh bạc”.
    • - Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T 08 (Tám) tháng tù, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam (từ ngày 26/02/2024 đến ngày 23/5/2024), thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
    • - Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T1 07 (Bẩy) tháng tù, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam (từ ngày 20/4/2024 đến ngày 23/5/2024), thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
  2. Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Phạm Ngọc T, Đỗ Văn T1 và Nguyễn Văn C không phải chịu.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng KTNV và THA Tòa án tỉnh Hà Nam;
  • - TAND, VKSND huyện Thanh Liêm;
  • - Công an huyện Thanh Liêm;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Liêm;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Trần Công Đoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HS - PT ngày 12/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 74/2024/HS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ 15 giờ đến 17 giờ ngày 09/02/2024, tại phòng ngủ trong nhà Phạm Ngọc T có địa chỉ tại thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam, T đã cùng với Phạm Văn C1, Đinh Mạnh T6, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn Q, Đỗ Văn T1 đánh bạc với hình thức chơi “Xóc đĩa” được thua bằng tiền, với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 17.480.000 đồng. Trong khoảng thời gian từ 16 giờ ngày 10/02/2024 đến 01 giờ ngày 11/02/2024, tại lán tôn nhà kho để không của gia đình ông Phạm Văn L5 có địa chỉ tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; Phạm Ngọc T đã cùng với Đỗ Văn T1, Nguyễn Văn Q, Trần Đức L3, Vũ Văn L4, Dương Văn Q1, Nguyễn Văn H, Phạm Công S1, Vũ Mạnh D, Đào Văn S2, Đào Văn C2, Nguyễn Văn C, Đào Văn T8, Đinh Quốc C4, Đinh Mạnh T6, Trần Văn T7, Trần Văn N, Đặng Văn C3, Trần Văn D1, Nguyễn Văn Q2, Phạm Văn K đánh bạc với hình thức chơi “Xóc đĩa” được thua bằng tiền, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 34.500.000 đồng. Trong khoảng thời gian từ 20 giờ ngày 11/02/2024 đến 02 giờ ngày 12/02/2024 tại phòng ngủ của Phạm Ngọc T, T cùng với Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn Q, Đào Văn C2, Đinh Quốc C4, Đỗ Văn T1, Đào Văn T5, Đào Văn T8 đánh bạc với hình thức chơi “Xóc đĩa” được thua bằng tiền, tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 17.000.000 đồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger