|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 74/2024/HS-ST Ngày 31-7-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Anh Vũ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đường Ngọc Đại và ông Nguyễn Xuân Thịnh
Thư ký phiên toà: Ông Đinh Xuân Tú – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/2024/HSST ngày 21 tháng 6 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2024/QÐST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị P (Tên gọi khác; K), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1969; nơi sinh: Phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; cư trú tại: Tổ dân phố Y, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn thể: Không; trình độ văn hóa: 02/10; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị P1; có chồng là Đinh Xuân P2 (đã ly hôn) và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại, “có mặt”.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Nguyễn Huy H, sinh năm 1987; cư trú tại: Tổ dân phố Y, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt” có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1967; cư trú tại: Số nhà C, đường T, tổ dân phố Y, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt” có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ông Nguyễn Việt H1, sinh năm 1978; cư trú tại: Tổ G, phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt” có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bà Trần Thị Y, sinh năm 1979; cư trú tại: Tổ B, phường X, thành phố P, “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị P mở cửa hàng kinh doanh dịch vụ cầm đồ tại nhà ở của mình. Tại đây ngoài việc kinh doanh dịch vụ cầm đồ, P còn cho vay nặng lãi để thu lợi bất chính với cách thức như sau: Từ đầu tháng 10 năm 2020 đến cuối năm 2023, P cho một số người vay tiền theo hình thức vay tín chấp, với mức lãi suất trên 3.000 đồng/1.000.00 đồng/1 ngày = 109,5%/năm, gấp 5 lần quy định của Bộ luật Dân sự.
Nguyễn Thị P cho vay tiền và thu lãi bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản qua tài khoản số: 2890383841969 và số tài khoản 2890205213557, Ngân hàng A, chủ tài khoản Nguyễn Thị P, cụ thể như sau:
-
Anh Nguyễn Huy H, sinh năm 1987, trú tại phường X, P: Đầu tháng 10 năm 2020, anh H vay của P 10.000.000 đồng (tiền mặt), lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày = 900.000 đồng tiền lãi/01tháng (30 ngày) = 109,5%/năm, hai bên thỏa thuận trả tiền lãi trong tháng (anh H có thể trả tiền lãi bất kỳ ngày nào trong tháng, từ ngày mùng 1 đến ngày 30 hàng tháng).
- Tiền lãi anh H đã trả cho P = 36 tháng (gồm tháng 10, 11, 12 năm 2020; 12 tháng năm 2021; 12 tháng năm 2022; tháng 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 năm 2023) = 36 tháng × 900.000 đồng/ tháng = 32.400.000 đồng, trong đó:
- Tiền lãi được thu tối đa (đã trả) theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự là: (10.000.000 đồng × 20%)/365 × 1.080 ngày = 5.917.808 đồng.
+ Tiền lãi thu lợi bất chính (đã trả): 32.400.000 đồng – 5.917.808 đồng = 26.482.192 đồng.
- Tiền lãi anh H chưa trả cho P từ đầu tháng 10 năm 2023 đến 20/12/2023 (ngày bị phát hiện, xử lý) = 80 ngày × 30.000 đồng/ngày = 2.400.000 đồng, trong đó:
+ Tiền lãi được thu tối đa (chưa trả) = (10.000.000 đồng × 20%)/365 × 80 ngày = 438.356 đồng.
+ Tiền lãi thu lợi bất chính (chưa trả) = 2.400.000 đồng – 438.356 đồng = 1.961.644 đồng. Chưa trả tiền gốc = 10.000.000 đồng.
* Như vậy:
- Tổng số tiền lãi anh H đã trả và phải trả là: 32.400.000 đồng + 2.400.000 đồng = 34.800.000 đồng.
- Tổng số tiền lãi P được thu tối đa: 5.917.808 đồng + 438.356 đồng = 6.356.164 đồng.
- Tổng số tiền lãi P thu lợibất chính: 34.800.000 đồng – 6.356.164 đồng = 28.443.836 đồng.
-
Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1967, trú tại phường X, P:
* Khoảng đầu tháng 02 năm 2022, ông V vay của P 10.000.000 đồng, lãi suất là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày = 900.000 đồng tiền lãi/01 tháng = 109,5%/năm. Văn viết biên nhận vay 10.000.000 đồng vào quyển sổ của P, rồi nhận 10.000.000 đồng tiền mặt. Hai bên thỏa thuận trả lãi trong tháng (ông V có thể trả tiền lãi bất kỳ ngày nào trong tháng, từ ngày mùng 1 đến ngày 30 hàng tháng).
- Tiền lãi ông V đã trả cho P = 04 tháng (gồm các tháng: 2, 3, 4, 5 năm 2022) = 3.600.000 đồng, trong đó:
+ Tiền lãi được thu tối đa (đã trả): (10.000.000 đồng x 20%)/365 × 120 ngày = 657.534 đồng.
+ Tiền lãi thu lợi bất chính (đã trả): 3.600.000 đồng - 657.534 đồng = 2.942.466 đồng.
* Tháng 6 năm 2022, ông V vay thêm của P 10.000.000 đồng, lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01ngày, P gộp 02 lần vay thành 20.000.000 đồng, mỗi tháng ông V phải trả 1.800.000 đồng tiền lãi. Ông V viết nội dung vay thêm 10.000.000 đồng vào 01 quyển sổ của P, rồi nhận 10.000.000 đồng tiền mặt.
- Tiền lãi ông V đã trả = 11 tháng (gồm tháng: 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 năm 2022; tháng 01, 8, 9,10 năm 2023 = 19.800.000 đồng, trong đó:
+ Tiền lãi được thu tối đa (đã trả): (20.000.000 đồng gốc vay × 20%)/365 ngày × 330 ngày = 3.616.438 đồng.
+ Tiền lãi thu lợi bất chính (đã trả): 19.800.000 đồng - 3.616.438 đồng = 16.183.562 đồng.
- Tiền lãi ông V chưa trả: gồm tháng: 2, 3, 4, 5, 6, 7, 11 năm 2023 và từ ngày 01/12/2023 đến ngày 20/12/2023 (ngày bị phát hiện, xử lý) = 07 tháng 20 ngày = 230 ngày × 60.000 đồng/ngày = 13.800.000 đồng, trong đó:
+ Tiền lãi được thu tối đa (chưa trả): (20.000.000 đồng × 20%)/365 ngày × 230 ngày = 2.520.547 đồng
+ Tiền lãi thu lợi bất chính (chưa trả) là: 13.800.000 đồng – 2.520.547 đồng = 11.279.453 đồng. Chưa trả tiền gốc 20.000.000 đồng.
* Như vậy:
- Tổng số tiền lãi đã trả và phải trả là: 3.600.000 đồng + 19.800.000 đồng + 13.800.000 đồng = 37.200.000 đồng
- Tiền lãi được thu tối đa theo quy định: 657.534 đồng + 3.616.438 đồng + 2.520.547 đồng = 6.794.519 đồng
- T lãi thu lợi bất chính: 37.200.000 đồng – 6.794.519 đồng = 30.405.481 đồng.
-
Nguyễn Việt H1, sinh năm 1978, trú tại phường X, P:
* Khoảng đầu tháng 7 năm 2022 ông H1 vay của P 10.000.000 đồng, lãi suất 3.000 đồng /1.000.000 đồng /01 ngày = 900.000 đồng tiền lãi/1 tháng (30 ngày) = 109,5%/năm. Ông H1 viết nội dung vay 10.000.000 đồng vào 01 quyển sổ của P, rồi nhận 10.000.000 đồng tiền mặt, hai bên thỏa thuận trả lãi trong tháng (ông H có thể trả tiền lãi bất kỳ ngày nào trong tháng, từ ngày mùng 1 đến ngày 30 hàng tháng).
- Tiền lãi ông H1 đã trả P = 16 tháng (gồm tháng: 7, 8, 9, 10, 11, 12 năm 2022 và tháng: 01, 02, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 năm 2023 là 14.400.000 đồng, trong đó:
+ Tiền lãi được thu tối đa (đã trả): (10.000.000 đồng tiền gốc vay × 20%)/365 ngày × 480 ngày = 2.630.136 đồng.
+ Tiền lãi thu lợi bất chính (đã trả): 14.400.000 đồng - 2.630.136 đồng = 11.769.864 đồng.
* Tháng 11 năm 2023, ông H1 vay thêm của P 10.000.000 đồng, lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, P gộp 02 lần vay thành 20.000.000 đồng, tiền lãi phải trả = 1.800.000 đồng/1 tháng.
Ông H1 xé bỏ tờ giấy ghi nội dung vay 10.000.000 đồng, rồi viết nội dung vay 20.000.000 đồng vào quyển sổ của P. P sử dụng tài khoản số 2890383841969, Ngân hàng A, mang tên chủ tài khoản là Nguyễn Thị P chuyển khoản 10.000.000 đồng đến số tài khoản: 4260548707, ngân hàng B, mang tên ông Nguyễn Việt H1 là chủ tài khoản.
- Tiền lãi đã trả 01 tháng (tháng 11/2023) là 1.800.000 đồng, trong đó:
+ Tiền lãi được thu tối đa (đã trả): (20.000.000 đồng × 20%)/365 ngày × 30 ngày = 328.767 đồng.
Tiền lãi thu lợi bất chính (đã trả): 1.800.000 đồng – 328.767 đồng = 1.471.233 đồng.
Tiền lãi ông H1 chưa trả từ ngày 01/12/2023 đến ngày 20/12/2023 (ngày bị phát hiện, xử lý) = 20 ngày × 60.000/ngày = 1.200.000 đồng, trong đó:
+ Tiền lãi được thu tối đa (chưa trả): (20.000.000 đồng × 20%)/365 ngày × 20 ngày = 219.178 đồng.
- T thu lợi bất chính (chưa trả) là: 1.200.000 đồng – 219.178 đồng = 980.822 đồng. H1 chưa trả tiền gốc là 20.000.000 đồng.
* Như vậy:
- Tổng số tiền lãi đã trả và phải trả là: 14.400.000 đồng + 1.800.000 đồng + 1.200.000 đồng = 17.4000.000 đồng.
- Tiền lãi được thu tối đa: 2.630.136 đồng + 328.767 đồng + 219.178 đồng = 3.178.081 đồng.
- Tiền lãi thu lợi bất chính: 17.400.000 đồng – 3.178.081 đồng = 14.221.919 đồng.
* Tổng hợp vụ án:
+ Tổng số tiền gốc bị cáo Nguyễn Thị P đã cho 03 người vay là 50.000.000 đồng;
+ Tiền lãi được thu cao nhất theo quy định (20%/năm theo điều 468 Bộ luật Dân sự) là: 6.356.164 đồng+ 6.794.519 đồng+ 3.178.081 đồng = 16.328.764 đồng.
+ T thu lợi bất chính (tiền lãi thu vượt quá 20%/năm quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự) = 28.443.836 đồng + 30.405.481 đồng + 14.221.919 đồng = 73.071.236 đồng (trong đó: Tiền thu lợibất chính đã thu là 26.482.192 đồng + 19.126.028 đồng + 13.241.097 đồng = 58.849.317 đồng; tiền thu lợibất chính chưa thu của người vay là 1.961.644 đồng + 11.279.453 đồng + 980.822 đồng = 14.221.919 đồng).
* Thu giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng:
- Ngày 20 tháng 12 năm 2023, P tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8T 5G, là phương tiện bị cáo P sử dụng vào việc phạm tội.
- Thu giữ 01 hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (khi khám xét nơi ở của P), của bà Trần Thị Y, sinh năm 1979; trú tại: Tổ B, phường X, thành phố P.
- Đối với 01 quyển sổ P sử dụng để cho những người vay tiền ghi nội dung vay nợ, bị ngấm nước mưa và rách nát, nên P đã vứt bỏ, không thu giữ được.
- Truy thu sung quỹ nhà nước đối với bị cáo Nguyễn Thị P: tiền lãi được thu tối đa (đã thu): 5.917.808 đồng + 4.273.972 đồng + 2.958.903 đồng = 13.150.683 đồng.
- Đối với số tiền thu lợi bất chính (tiền lãi thu vượt quy định) mà bị cáo P đã nhận của những người vay, đề nghị: Buộc bị cáo P phải hoàn trả cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (người vay), cụ thể: Trả cho anh Nguyễn Huy H là 26.482.192 đồng; ông Nguyễn Văn V là 19.126.028 đồng; ông Nguyễn Việt H1 là 13.241.097 đồng.
- Truy thu sung công quỹ nhà nước đối với những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (người vay) tổng số tiền gốc chưa trả bị cáo Nguyễn Thị P là 50.000.000 đồng, cụ thể: Truy thu đối với anh Nguyễn Huy H là 10.000.000 đồng; ông Nguyễn Văn V là 20.000.000 đồng; ông Nguyễn Việt H1 là 20.000.000 đồng.
- Truy thu sung công quỹ nhà nước tiền lãi (được thu tối đa) nhưng chưa trả đối với anh Nguyễn Huy H là 438.356 đồng; đối với ông Nguyễn Văn V là 2.520.547 đồng; đối với ông Nguyễn Việt H1 là 219.178 đồng.
Tại bản cáo trạng số 71/CT-VKSPY ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị P về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Thị P về tội danh như đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt tiền bị cáo P từ 90.000.000 đồng – 120.000.000 đồng. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên của Cơ quan điều tra – Công an thành phố P, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo, phê chuẩn quyết định khởi tố bị cáo, áp dụng biện pháp ngăn chặn, lấy lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng, kết luận điều tra, ban hành cáo trạng. Thời hạn điều tra, truy tố đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như sau:
Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 10 năm 2020 đến ngày 20 tháng 12 năm 2023, tại nhà của mình ở Tổ dân phố Y, X, P, Nguyễn Thị P đã có hành vi cho 03 người vay lãi nặng trái với quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự số tiền gốc là 50.000.000 đồng, thu lợibất chính 73.071.236 đồng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên. Phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở để kết luận Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị P về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan sai.
Điều 201 Bộ luật Hình sự qui định: “1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng.... thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”.
[3] Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo vì mục đích tư lợi cá nhân đã có hành vi cho vay lãi nặng vượt quá quy định của Bộ luật Dân sự với tổng số tiền thu lợi bất chính là 73.071.236 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm đến lợi ích công dân được pháp luật bảo vệ. Gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt hội đồng xét xử cũng cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Xét thấy:
Nguyễn Thị P trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo còn có bố đẻ ông Nguyễn Văn L là người có công với cách mạng, được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì; bản thân bị cáo là người có bệnh tật lại là lao động duy nhất trong gia đình phải nuôi ba con nhỏ nên cần xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, chỉ cần áp dụng hình phạt tiền dưới mức đề nghị của đại diện viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa cũng đủ điều kiện để giáo dục, răn đe bị cáo trở thành một công dân có ích cho gia đình, xã hội.
[4] Về các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8T 5G, là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu, bán phát mại sung ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (khi khám xét nơi ở của P), của chị Trần Thị Y cần trả lại cho chị Y.
- Đối với 01 quyển sổ P sử dụng để cho những người vay tiền ghi nội dung vay nợ, bị ngấm nước mưa và rách nát, nên P đã vứt bỏ, không thu giữ được.
- Đối với tiền lãi theo quy định của bị cáo Nguyễn Thị P (đã thu) là 5.917.808 đồng + 4.273.972 đồng + 2.958.903 đồng= 13.150.683 đồng cần truy thu sung ngân sách nhà nước.
- Đối với số tiền thu lợibất chính (tiền lãi thu vượt quy định) mà bị cáo P đã nhận của những người vay, cần buộc bị cáo P phải hoàn trả cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (người vay), cụ thể: Trả cho anh Nguyễn Huy H số tiền là 26.482.192 đồng; trả cho ông Nguyễn Văn V số tiền là 19.126.028 đồng; trả cho ông Nguyễn Việt H1 số tiền là 13.241.097 đồng.
- Truy thu sung ngân sách nhà nước đối với số tiền gốc chưa trả bị cáo Nguyễn Thị P của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (người vay) tổng cộng là 50.000.000 đồng, cụ thể: Truy thu đối với anh Nguyễn Huy H số tiền là 10.000.000 đồng; Nguyễn Văn V số tiền là 20.000.000 đồng; Nguyễn Việt H1 số tiền là 20.000.000 đồng.
- Đối với số tiền lãi (được thu tối đa) của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa trả cho bị cáo P, cụ thể: Đối với anh Nguyễn Huy H là 438.356 đồng; đối với ông Nguyễn Văn V là 2.520.547 đồng; đối với ông Nguyễn Việt H1 là 219.178 đồng cần truy thu, sung ngân sách nhà nước.
[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tại phiên tòa về tội danh cũng như mức hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị P số tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng).
Về các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu, bán phát mại sung ngân sách nhà nước đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8T 5G thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị P.
- - Trả lại cho bà Trần Thị Y 01 (Một) hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.
- - Truy thu, sung ngân sách nhà nước đối với số tiền lãi theo quy định của bị cáo Nguyễn Thị P (đã thu) là 13.150.683 đồng (Mười ba triệu một trăm năm mươi nghìn sáu trăm tám mươi ba đồng).
- - Buộc bị cáo Nguyễn Thị P phải hoàn trả cho những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án (người vay) số tiền thu lợi bất chính (tiền lãi thu vượt quy định) mà bị cáo đã thu của những người vay, cụ thể: Trả cho anh Nguyễn Huy H số tiền là 26.482.192 đồng (Hai mươi sáu triệu bốn trăm tám mươi hai nghìn một trăm chín mươi hai đồng); trả cho ông Nguyễn Văn V số tiền là 19.126.028 đồng (Mười chín triệu một trăm hai mươi sáu nghìn không trăm hai mươi tám đồng); trả cho ông Nguyễn Việt H1 số tiền là 13.241.097 đồng (Mười ba triệu hai trăm bốn mươi mốt nghìn không trăm chín mươi bảy đồng).
- - Truy thu, sung ngân sách nhà nước đối với số tiền gốc (chưa trả) của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (người vay) tổng cộng là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), cụ thể: Truy thu đối với anh Nguyễn Huy H số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng); Nguyễn Văn V số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng); Nguyễn Việt H1 số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
- - Truy thu, sung ngân sách nhà nước đối với số tiền lãi theo quy định (chưa trả) của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cụ thể: Truy thu đối với anh Nguyễn Huy H số tiền là 438.356 đồng (Bốn trăm ba mươi tám nghìn ba trăm năm mươi sáu đồng); đối với ông Nguyễn Văn V số tiền là 2.520.547 đồng (Hai triệu năm trăm hai mươi nghìn năm trăm bốn mươi bảy đồng); đối với ông Nguyễn Việt H1 số tiền là 219.178 đồng (Hai trăm mười chín nghìn một trăm bảy mươi tám đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với từng khoản tiền nêu trên cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh do chậm trả của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Các vật chứng, tài sản nêu trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 90 ngày 10 tháng 7 năm 2024 lập tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Anh Vũ |
9
Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự - cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 74/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Phương cho vay lãi nặng
