Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 74/2024/HS-ST

Ngày: 29-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Kim Sang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Duy Thành;

2/ Ông Lê Thanh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Anh Thư– Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:Ông Phạm Thanh Giúp - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 11/2024/QÐST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn T; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không có; sinh năm:

1986; tại: tỉnh Tây Ninh. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 04/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Con ông Phạm Văn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị L1 (đã chết); có vợ tên Nguyễn Thị Hoài N, sinh năm 1984 và có 03 người con; lớn nhất sinh năm 2005; nhỏ nhất sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Chưa có; bị cáo bị bắt và bị tạm giam ngày 24/5/2024; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo T: Luật sư Lê Việt Hoàng N1- Văn phòng L2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T; có mặt.

- Bị hại: ông Phạm Văn C, sinh năm 1976; trú tại: Khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1981; trú tại: Ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 7/2022, ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1981, ngụ ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh liên hệ với ông Phạm Văn C, sinh năm 1976, ngụ khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh (hiện đang làm Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển quỹ đất thị xã T) để mượn số tiền 5,5 tỷ đồng. Ông C nhắn tin cho cháu ruột là Phạm Văn T, giới thiệu ông T1 hỏi mượn số tiền nêu trên thì Thông đồng ý. Sau đó, T và ông T1 liên lạc, trao đổi thỏa thuận với nhau về việc mượn tiền. Khi đã thống nhất, ông T1 nhắn tin số tài khoản 66110002676663 của ông T1 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (B) cho T, T nhiều lần chuyển khoản cho ông T1 mượn số tiền 5,5 tỷ đồng.

Đến khoảng tháng 7/2023, ông T1 đã nhiều lần chuyển khoản trả cho T tổng số tiền 4,9 tỷ đồng thì không còn khả năng trả nữa. Tuy nhiên do ông T1 chuyển khoản nhiều lần, T không rõ số tiền ông T1 đã trả là bao nhiêu, nên T đã tự tính, xác định ông T1 đã trả được 3,5 tỷ đồng, còn nợ lại 02 tỷ đồng. Sau đó, T nhiều lần đòi tiền nhưng ông T1 không trả, nên tức giận và khoảng 14 giờ 30 phút ngày 10/01/2024, T đến nơi làm việc và nhà của ông C đòi số tiền 02 tỷ đồng (lý do ông C là người giới thiệu cho ông T1 vay tiền của T). Do không gặp được ông C, nên T đã sử dụng điện thoại phát sóng trực tiếp (livestream), đăng bài trên mạng xã hội Facebook bằng tài khoản “Thông Bành Văn” la chửi, xúc phạm nhằm mục đích buộc ông C phải giao 02 tỷ đồng cho T.

Đến khoảng 17 giờ ngày 06/02/2024, T tiếp tục phô tô nhiều tờ giấy A4, A5 có nội dung tin nhắn giữa T với vợ chồng ông C và tờ rơi yêu cầu ông C trả nợ số tiền 02 tỷ đồng đến rải trước cổng nhà ông C, Thông sử dụng điện thoại phát sóng trực tiếp (livestream) trên mạng xã hội Facebook la chửi, xúc phạm buộc ông C trả tiền. Sau đó, T dán 02 tờ giấy A4 phô tô vào cổng rào nhà ông C với nội dung “Chú Còn ơi trả tiền cho con. Chú mượn tiền mua đất, sao C1 không trả tiền lại cho con. Có 2 tỷ mà bất chấp đi đòi”. Lúc này, chị Nguyễn Thị Hoài N (vợ của T) xem trên mạng xã hội Facebook thấy T đứng trước cổng nhà ông C quay video phát trực tiếp la chửi, xúc phạm buộc ông C phải trả tiền. Chị N lo sợ T và ông C xảy ra mâu thuẫn xô xát đánh nhau, nên điều khiển xe mô tô đến nhà ông C để chở T về nhà.

Do nhiều lần bị T đến nơi làm việc, nhà riêng quay video phát trực tiếp, đăng bài trên mạng xã hội Facebook, rải, dán tờ rơi la chửi, xúc phạm làm cho ông C và gia đình bị suy sụp tinh thần, ảnh hưởng đến uy tính, danh dự, nhân phẩm, nên ông C đã làm đơn tố cáo gửi đến Công an thị xã T, tỉnh Tây Ninh.

Tại Bản Cáo trạng số: 33/CT-VKS-P3 ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 170 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Văn T theo nội dung Cáo trạng.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

* Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

* Về hình phạt chính:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 170; điểm b, s khoản 1, Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 06 đến 07 năm tù, về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

* Về biện pháp tư pháp:

- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đề nghị tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, số Imei 1: 359265385774928, số Imei 2: 359265386013557 (đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động của máy).

- Bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 592 Bộ luật Dân sự. Đề nghị ghi nhận bị cáo T đã nộp tiền bồi thường về tổn thất tinh thần số tiền 23.000.000 (hai mươi ba triệu) đồng cho ông C xong.

Trong phần tranh luận, người bào chữa cho bị cáo T là luật sư Lê Việt Hoàng N1 trình bày luận cứ bào chữa:

Luật sư thống nhất với Cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo đã tác động gia đình nộp tiền bồi thường thiệt hại cho bị hại. Hành vi của bị cáo là đáng trách nhưng cũng thật đáng thương. Chỉ vì nóng ruột và bức xúc về số tiền không lấy lại được, nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hiện tại bị cáo đang mắc bệnh hiểm nghèo, có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.

Bị cáo Phạm Văn Thông thống N2 với luận cứ bào chữa của Luật sư Lê Việt Hoàng N1, không bào chữa bổ sung và không tham gia tranh luận.

* Tại phiên tòa, bị hại ông Phạm Văn C trình bày:

Sự việc xảy ra cũng là bài học xương máu cho bản thân tôi. Khi bị cáo T có những hành vi xúc phạm, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm, uy tín của tôi; tôi đã không dám ra đường, không dám nhìn mặt ai. Thiệt hại của tôi không có gì bù đắp được; bởi tôi là đảng viên, là người giữ chức vụ lãnh đạo của một đơn vị tại thị xã T; sau sự việc này uy tín, sự nghiệp của tôi bị giảm sút, dừng lại; tôi phải mất thời gian bao lâu để khôi phục.

Qua luận tội của đại diện Viện kiểm sát và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt đối với bị cáo T, theo tôi là chưa phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc khi lượng hình.

Về phần bồi thường thiệt hại: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Lời nói sau cùng của bị cáo Phạm Văn T:

Bị cáo biết hành vi của bị cáo là sai trái, bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội đã gây ra, bị cáo xin lỗi bị hại, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo được sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên; luận cứ bào chữa của luật sư và lời trình bày của bị hại, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đúng như bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có cơ sở xác định hành vi của bị cáo cụ thể như sau:

Giữa bị cáo Phạm Văn T với bị hại Phạm Văn C có mối quan hệ là chú- cháu ruột; nên vào khoảng tháng 7 năm 2022 ông C đã giới thiệu Nguyễn Thanh T1 gặp T để vay tiền. Sau đó T cho T1 vay nhiều lần, với tổng số tiền 5.500.000.000 (năm tỷ năm trăm triệu) đồng. Một thời gian sau, T1 có chuyển trả tiền cho T nhiều lần và còn nợ lại một khoản tiền không chịu trả tiếp (theo T khai do tính nhầm nên tưởng T1 còn nợ 2.000.000.000 đồng, nhưng thực tế thì T1 chỉ còn nợ T 600.000.000 đồng). Nhiều lần yêu cầu nhưng T1 không trả tiền; vì muốn lấy lại được số tiền T1 còn nợ nên T đã thực hiện hành vi uy hiếp tinh thần đối với ông C; T đã sử dụng các hình thức: Dùng điện thoại di dộng quay video phát sóng trực tiếp; đăng bài trên mạng xã hội facebook; rải; dán tờ rơi tại nhà và nơi làm việc của ông C; với nội dung chửi bới, xúc phạm, làm mất uy tín, danh dự, nhân phẩm của ông C, để ông C lo sợ, nhằm mục đích chiếm đoạt của ông C số tiền 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng. Sau đó, hành vi của T bị phát hiện và bị khởi tố, truy tố theo quy định của pháp luật.

Do đó, hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội phạm hình sự và có cơ sở kết luận hành vi bị cáo Phạm Văn T đã phạm vào tội “Cưỡng đoạt tài sản”;

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 170 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo Phạm Văn T là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, với tính chất đặc biệt nghiêm trọng; đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của người khác và gây mất an ninh, trật tự xã hội tại địa phương.

[4] Về ý thức chủ quan, bị cáo biết rõ hành vi uy hiếp tinh thần của người khác để chiếm đoạt tài sản là hành vi phạm tội, nhưng vì động cơ tư lợi cá nhân, muốn lấy được tiền của ông C, bị cáo đã bất chấp pháp luật, đạo đức xã hội và tình thân gia đình, thực hiện hành vi phạm tội. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của bị cáo gây ra. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo; đồng thời tuyên truyền, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần xem xét toàn diện tính chất, mức độ, hậu quả của tội phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

[5.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng

[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo T thành khẩn khai nhận rõ hành vi phạm tội, thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi đã gây ra. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm; bị cáo T đã tác động gia đình (vợ bị cáo) làm Đơn xin nộp tiền để khắc phục phần nào thiệt hại đối với bị hại, thể hiện sự ăn năn hối cải của bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5.3] Ngoài ra, khi áp dụng hình phạt, Hội đồng xét xử còn căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo, đã hoàn thành hành vi nhưng chưa đạt về hậu quả chiếm đoạt theo quy định tại Điều 15 Bộ luật Hình sự (phạm tội chưa đạt) và Điều 57 Bộ luật Hình sự (Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt) để xét xử đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

[5.4] Do bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và xét hành vi phạm tội của bị cáo chưa đạt về hậu quả chiếm đoạt, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật đối với bị cáo là phù hợp. Quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên và Luận cứ bào chữa của luật sư đối với hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ.

[6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào các Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và các Điều 584, Điều 592 của Bộ luật Dân sự;

[7.1] Về xử lý vật chứng: Đối với tài sản là công cụ, phương tiện phạm tội là 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, số Imei 1: 359265385774928, số Imei 2: 359265386013557 (đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động của máy), cần tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước.

[7.2] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây thiệt hại về tổn thất tinh thần đối với bị hại. Hội đồng xét xử quyết định mức bồi thường thiệt hại theo mức không quá 10 tháng lương cơ sở (2.340.000 đồng/tháng). Ghi nhận gia đình bị cáo đã nộp số tiền 23.000.000 (hai mươi ba triệu) đồng để bồi thường thiệt hại cho bị hại xong.

[8] Về án phí: Bị cáo Phạm Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

1. Về hình phạt chính:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 170; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 24-5-2024.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ các Điều 46, 47,48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và các Điều 584, 592 của Bộ luật Dân sự

3.1 Xử lý vật chứng:

Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước A (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, số Imei 1: 359265385774928, số Imei 2: 359265386013557 (đã qua sử dụng, không kiêm tra tình trạng hoạt động của máy)

3.2 Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Buộc bị cáo Phạm Văn T có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tổn thất tinh thần cho bị hại Phạm Văn C số tiền 23.000.000 (hai mươi ba triệu) đồng.

Ghi nhận bị cáo đã bồi thường thiệt hại về tổn thất tinh thần cho bị hại số tiền 23.000.000 (hai mươi ba) triệu đồng xong; theo Biên lai thu số 0000676 ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.

4. Về án phí sơ thẩm:

Bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm

5. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo và bị hại biết được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

-TAND cấp cao tại TPHCM;

-Vụ Giám đốc kiểm tra (Vụ 1);

-VKSND cấp cao tại TPHCM;

-VKSND tỉnh Tây Ninh;

-VP CQCSĐT CA tỉnh (PV06);

-Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;

-Cục THADS tỉnh Tây Ninh;

-Trại tạm giam CATN;

-Bị cáo;

-Bị hại;

-Lưu hồ sơ;

-Lưu tập án.

- Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Kim Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về cưỡng đoạt tài sản

  • Số bản án: 74/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cưỡng đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger