Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC QUANG

TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2024/HS-ST

Ngày 18 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Đinh Thị Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Thị Oanh
Ông Nguyễn Hồng Diện

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Minh Huệ - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 67/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Lăng Đức L, sinh ngày 18/10/1996 tại huyện B, tỉnh Hà Giang. Nơi cư trú: Thôn K, xã B, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân số [...] do Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 25/6/2021; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lăng Văn X và bà Hoàng Thị L1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/8/2024 đến ngày 27/8/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  2. Lèng Văn T, sinh ngày 05/02/1988 tại huyện B, tỉnh Hà Giang. Nơi cư trú: Thôn N, xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân số [...] do Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 09/5/2021; trình độ học vấn: Lớp 09/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lèng Văn T1 và bà Lèng Thị H; có vợ là Lý Thị R; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 11/01/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo tại bản án số 02/2016/HSST ngày 11/01/2016. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/8/2024 đến ngày 27/8/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  3. Lù Văn C, sinh ngày 17/12/1998 tại huyện B, tỉnh Hà Giang. Nơi cư trú: Thôn N, xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân số [...] do Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 29/9/2022; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; Đảng, đoàn thể: Là đảng viên Đ, bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 173-QĐ/UBKTHU ngày 04/10/2024 của Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy B; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lù Sào T2 và bà Lèng Thị N; có vợ là Lèng Thị L2, có 01 con sinh năm 2024; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/8/2024 đến ngày 27/8/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  4. Nguyễn Văn L3, sinh ngày 27/7/1992 tại huyện B, tỉnh Hà Giang. Nơi cư trú: Thôn N, xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân số [...] do Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 15/9/2022; trình độ học vấn: Lớp 09/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T3 và bà Nguyễn Thị N1; có vợ là Bàn Thị N2, có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/8/2024 đến ngày 27/8/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  5. Nguyễn Thế D, sinh ngày 16/8/1998 tại huyện B, tỉnh Hà Giang. Nơi cư trú: Thôn N, xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân số [...] do Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 13/9/2023; trình độ học vấn: Lớp 09/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C1 và bà Vũ Thị L4; có vợ là Lò Thị Phương A, có 01 con sinh năm 2024; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/8/2024 đến ngày 27/8/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

* Người làm chứng:

  • - Anh Nguyễn Huy H1, sinh năm 1989. Vắng mặt.
  • - Anh Nguyễn Mạnh T4, sinh năm 1986. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 00 giờ 45 phút ngày 19/8/2024, tại gian bếp nhà ở gia đình Nguyễn Huy H1 thuộc thôn N, xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang, Tổ công tác Công an huyện B, tỉnh Hà Giang phát hiện và bắt quả tang 05 (năm) đối tượng đang thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi “Sâm”, gồm: Lăng Đức L, Lèng Văn T, Lù Văn C, Nguyễn Văn L3 và Nguyễn Thế D. Quá trình kiểm tra, Tổ công tác đã thu giữ:

  • - Tổng số tiền 9.520.000 đồng (chín triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng), trong đó: số tiền thu tại chiếu bạc là 2.650.000 đồng (hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) và số tiền thu giữ trên người của các đối tượng sử dụng để đánh bạc gồm: thu của Lù Văn C 2.160.000 đồng (hai triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng); thu của Lèng Văn T 1.810.000 đồng (một triệu tám trăm mười nghìn đồng); thu của Nguyễn Văn L3 là 2.100.000 đồng (hai triệu một trăm nghìn đồng); thu của Lăng Đức L 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng); thu của Nguyễn Thế D 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
  • - 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 (năm mươi hai) quân đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) chiếu xốp có nhiều hoa văn đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 18/8/2024, Lăng Đức L đến quán tạp hóa của Nguyễn Huy H1 thuộc thôn N, xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang để mua nước uống. Sau khi mua nước, L ngồi chơi đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày thì có Lèng Văn T và Lù Văn C đến chơi tại quán bán hàng của H1. Tại đây, L nói với T và C: “Có làm tý không anh ơi?” ý rủ T và C đánh bạc thì T trả lời: “Múc” nghĩa là đồng ý. Sau đó L đi đến quầy bán hàng của H1 thấy 01 (một) bộ tú lơ khơ gồm 52 (năm mươi hai) quân bài để trên kệ bán hàng, L cầm lấy bộ tú lơ khơ rồi cùng với T và C đi xuống gian bếp nhà ở của H1 (sát quán bán hàng) rồi cả ba người ngồi xuống chiếu xốp có nhiều hoa văn đã được trải sẵn ở dưới nền cùng nhau đánh bạc bằng hình thức đánh “Sâm”, sát phạt nhau bằng tiền Việt Nam đồng.

Hình thức chơi “Sâm” cụ thể như sau: người chơi sử dụng bộ tú lơ khơ gồm 52 (năm mươi hai) quân bài, và chia đều cho mỗi người chơi là 10 quân, số quân bài còn thừa sẽ úp xuống và không sử dụng đến. Khi chơi có thể lựa chọn các hình thức chơi là đánh bài lẻ (tức là đánh từng quân bài một), đánh đôi (tức là đánh hai quân bài cùng số), đánh ba (tức là đánh ba quân bài cùng số), đánh “dây” (tức là các quân bài liên tiếp nhau về số thứ tự và từ ba quân bài trở lên), người đánh sau phải chọn quân bài hoặc bộ quân bài có số lớn hơn để chặn. Người nào hết quân bài trước tiên sẽ thắng tiền của những người còn lại, những người còn lại sẽ đếm lá bài đang còn để tính tiền, mỗi lá bài còn lại tính là 10.000 đồng (mười nghìn đồng) và khi đó sẽ kết thúc một ván chơi. Người nào trong một ván chơi mà không đánh được một quân bài nào sẽ phải nộp cho người thắng ván đó số tiền 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng). Sau khi chia bài xong, nếu ai báo “Sâm” (tức là người chơi dự đoán bài của mình đánh ra sẽ không ai chặn được) thì người báo “Sâm” bắt đầu đánh bài, những người chơi còn lại sẽ bắt bài, nếu không ai bắt được quân bài nào của người báo “Sâm” thì người báo “Sâm” thắng và mỗi người còn lại phải nộp cho người báo “Sâm” số tiền là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), nếu có người chặn được quân bài của người báo “Sâm” thì người báo “Sâm” phải trả cho người đã chặn được là 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng). Trong quá trình chơi, nếu ai đánh quân bài số “2” mà bị chặn “tứ quý” (tức là bị chặn bởi 4 quân bài giống số nhau) thì người bị chặn phải nộp cho người chặn số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Văn L3 đến quán của H1 chơi sau đó nghe thấy có tiếng người nói chuyện bên nhà ở của H1 nên đã đi sang bên nhà H1 thì thấy L, T và C đang đánh bạc L3 đã cùng tham gia. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày Nguyễn Thế D đến quán nhà H1 chơi thì thấy có nhiều người đang ngồi bên quán nhà H1 ăn cơm, uống rượu nên đi sang nhà H1 chơi thì thấy mọi người đang đánh bạc nên D ngồi xuống chiếu cùng tham gia đánh bạc. Đến khoảng hơn 00 giờ ngày 19/8/2024, Nguyễn Mạnh T4 đi qua nhà H1 thì thấy sáng đèn nên vào nhà H1 chơi thì thấy 05 đối tượng đang đánh bạc nên T4 ngồi xem. Đến 00 giờ 45 phút cùng ngày thì bị Tổ công tác Công an huyện B, tỉnh Hà Giang phát hiện và bắt quả tang, thu giữ các vật chứng, tài liệu liên quan.

Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 9.520.000 đồng (chín triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng), trong đó: Lăng Đức L sử dụng khoảng 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng); Lèng Văn T sử dụng khoảng 4.700.000 đồng (bốn triệu bảy trăm nghìn đồng); Lù Văn C sử dụng khoảng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng); Nguyễn Văn L3 sử dụng khoảng 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng); Nguyễn Thế D sử dụng khoảng 1.100.000 đồng (một triệu một trăm nghìn đồng),

Ngày 22/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Hà Giang đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 625, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh H giám định tổng số 92 (chín mươi hai) tờ tiền Việt Nam, trị giá 9.520.000 đồng (chín triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng) là tiền thật hay tiền giả. Tại Bản kết luận giám định số: 316 ngày 27/8/2024, Phòng K Công an tỉnh H đã kết luận: 92 (chín mươi hai) tờ tiền Việt Nam gửi giám định đều là tiền thật.

Với chứng cứ và hành vi nêu trên, tại Cáo trạng số 69/CT-VKSBQ ngày 17/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã truy tố đối với các bị cáo: Lăng Đức L, Lèng Văn T, Lù Văn C, Nguyễn Văn L3, Nguyễn Thế D về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, các bị cáo đều đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản cáo trạng đã nêu.

Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, tại phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang vẫn giữ nguyên quyết định đã truy tố;

  1. Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lăng Đức L, Lèng Văn T, Lù Văn C, Nguyễn Văn L3, Nguyễn Thế D phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Về điều luật và hình phạt:
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lăng Đức L từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/8/2024 đến ngày 27/8/2024.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lèng Văn T từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/11/2024). Giao bị cáo Lèng Văn T cho UBND xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 50, Điều 58, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lù Văn C; Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 50, Điều 58, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn L3, Nguyễn Thế D, đề nghị:
      • + Xử phạt các bị cáo Lù Văn C, Nguyễn Văn L3, Nguyễn Thế D, mỗi bị cáo từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, các bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/8/2024 đến ngày 27/8/2024 (8 ngày).

      Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của các bị cáo Lù Văn C, Nguyễn Văn L3, Nguyễn Thế D được tính kể từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện B, tỉnh Hà Giang (nơi các bị cáo cư trú và làm việc) nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang để giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Trường hợp người chấp hành án đi khỏi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

    • - Về khấu trừ thu nhập: Đối với các bị cáo Lù Văn C, Nguyễn Văn L3, Nguyễn Thế D, làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định nên đề nghị miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.
    • - Trường hợp các bị cáo bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong 01 ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.
    • - Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với tất cả bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự,
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự:
    • - Đề nghị tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền Việt Nam đồng là 9.520.000 đồng (chín triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng).
    • - Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ tú lơ khơ 52 quân đã qua sử dụng và 01 (một) chiếu xốp có nhiều hoa văn đã qua sử dụng
  4. Về án phí: Đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Phần tranh tụng tại phiên tòa, các bị cáo đều nhất trí với tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị trong bản luận tội.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân có ích cho xã hội và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; tại phiên toà Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, những người làm chứng vắng mặt không có lý do, nhưng họ đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở ý kiến của Kiểm sát viên và xét thấy sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn xét xử theo thủ tục chung.
  3. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang, các bị cáo khai nhận: Trong khoảng thời gian từ 15 giờ 30 phút ngày 18/8/2024 đến 00 giờ 45 phút ngày 19/8/2024, tại gian bếp của gia đình Nguyễn Huy H1 thuộc thôn N, xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang các bị cáo Lăng Đức L, Lèng Văn T, Lù Văn C, Nguyễn Văn L3 và Nguyễn Thế D cùng thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi “Sâm” sát phạt nhau bằng tiền Việt Nam đồng. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 9.520.000 đồng (chín triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng). Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng, với Kết luận giám định số 316/KL-KTHS ngày 27/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh H cùng những chứng cứ, tài liệu đã được thu thập, phản ánh trong hồ sơ và được thẩm tra xác minh tại phiên toà. Do đó có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận các bị cáo Lăng Đức L, Lèng Văn T, Lù Văn C, Nguyễn Văn L3, Nguyễn Thế D phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Viện kiểm sát huyện B, tỉnh Hà Giang đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  4. Hành vi phạm tội đánh bạc của các bị cáo thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt là phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án này là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây dư luận xấu và ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, các bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật, song với động cơ, mục đích kiếm tiền bất hợp pháp, các bị cáo đã cố ý thực hiện với mục đích sát phạt được thua bằng tiền của nhau. Do đó, cần phải có một mức án phù hợp đối với mỗi bị cáo về hành vi phạm tội đã gây ra.
  5. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò và nhân thân của những người phạm tội thấy rằng: Trong vụ án này các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tự phát, không có sự bàn bạc, câu kết hay phân công lẫn nhau, nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Lăng Đức L là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác thực hiện hành vi đánh bạc đồng thời là người chuẩn bị bài và sử dụng khoảng hơn 800.000đ vào việc đánh bạc. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt cao hơn so với những bị cáo khác trong vụ án mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo bị cáo thành người công dân có ích trong xã hội và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lèng Văn T có nhân thân xấu, năm 2016 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc” tại bản án số 02/2016/HSST ngày 11/01/2016 nhưng đã được xoá án tích nay phạm tội mới thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án, số tiền bị cáo sử dụng đánh bạc khoảng 4.700.000 đồng, trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là lao động chính, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; trong thời gian tại ngoại bị cáo chấp hành tốt chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, không phạm tội khác và có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, đây cũng là căn cứ để HĐXX áp dụng loại hình phạt phù hợp đối với bị cáo. Các bị cáo Lù Văn C, Nguyễn Văn L3 và Nguyễn Thế D đều là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án, số tiền mỗi bị cáo sử dụng đánh bạc: Lù Văn C khoảng 2.000.000đ, Nguyễn Văn L3 khoảng 900.000đ, Nguyễn Thế D khoảng 1.100.000đ, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Lù Văn C có thân nhân là người có công với Nhà nước nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo Lù Văn C, Nguyễn Văn L3 và Nguyễn Thế D thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, ngoài lần phạm tội này ra các bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước và có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng loại hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật Hình sự cũng đủ răn đe giáo dục đối với các bị cáo. Tuy nhiên khi quyết định mức hình phạt HĐXX thấy rằng, so với các bị cáo Nguyễn Văn L3, Nguyễn Thế D1 thì bị cáo Lù Văn C có nhiều hơn 01 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nhưng số tiền bị cáo Lù Văn C tham gia đánh bạc nhiều hơn các bị cáo Nguyễn Văn L3, Nguyễn Thế D1 nên các bị cáo Nguyễn Văn L3, Nguyễn Thế D1, Lù Văn C chịu mức hình phạt tương đương nhau là phù hợp.
  6. Về khấu trừ thu nhập: Căn cứ khoản 3 Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xét thấy các bị cáo Lù Văn C, Nguyễn Văn L3 và Nguyễn Thế D đều lao động tự do, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng khấu trừ một phần thu nhập đối với các bị cáo.
  7. Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo đều là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo trong vụ án này theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
  8. Khi các bị cáo tham gia đánh bạc tại gian bếp của Nguyễn Huy H1 thì H1 bán hàng, ăn cơm, uống rượu tại quán bán hàng (sát với nhà ở), sau đó đi hát karaoke không biết và không được hưởng lợi ích gì từ việc các bị cáo đánh bạc nên cơ quan Công an không xem xét xử lý là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
  9. Đối với Nguyễn Mạnh T4 có mặt tại nơi đánh bạc nhưng chỉ đứng xem, không tham gia đánh bạc nên nên cơ quan Công an không xem xét xử lý là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
  10. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 của Bộ luật Hình sự, xử lý như sau: Đối với số tiền các bị cáo đã sử dụng đánh bạc đã thu giữ là 9.520.000 đồng (Chín triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng), cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước. Đối với những vật chứng còn lại gồm 01 (một) bộ tú lơ khơ 52 quân; 01 (một) chiếu xốp có nhiều hoa văn, đã qua sử dụng, là những công cụ các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị và không sử dụng được cần tịch thu tiêu hủy.
  11. Đối với 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng màu xanh, nhãn hiệu Iphone (thu giữ của Nguyễn Thế D); 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng màu xanh, nhãn hiệu Samsung (thu giữ của Lăng Đức L); 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng màu vàng, nhãn hiệu Iphone (thu giữ của Lù Văn C); 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng màu vàng, nhãn hiệu Iphone (thu giữ của Nguyễn Văn L3); 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng màu vàng, nhãn hiệu Oppo và 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng màu đen, nhãn hiệu Oppo (thu giữ của Lèng Văn T) xác định các điện thoại di động trên không liên quan đến hành vi đánh bạc, do đó ngày 27/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ban hành Quyết định xử lý tài sản số: 657, trả lại cho các bị cáo là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  12. Về án phí: Các bị cáo đều phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Lăng Đức L, Lèng Văn T, Lù Văn C, Nguyễn Văn L3, Nguyễn Thế D phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Về hình phạt:
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321, các Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lăng Đức L 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/8/2024 đến ngày 27/8/2024.
    • Tiếp tục áp dụng biện pháp C2 đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Lăng Đức L để bảo đảm việc thi hành án, thời hạn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Lăng Đức L kể từ ngày tuyên án cho đến khi bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 50, Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lèng Văn T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/11/2024).
    • Giao bị cáo Lèng Văn T cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình án tủ của bản án đã cho hưởng án treo.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 50, Điều 58, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lù Văn C; áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 50, Điều 58, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn L3, Nguyễn Thế D.
      • + Xử phạt các bị cáo Lù Văn C, Nguyễn Văn L3, Nguyễn Thế D, mỗi bị cáo 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/8/2024 đến ngày 27/8/2024 (chuyển đổi 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ được 24 ngày). Các bị cáo Lù Văn C, Nguyễn Văn L3, Nguyễn Thế D, mỗi bị cáo phải chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại là 11 (mười một) tháng 06 (sáu) ngày.

      Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của các bị cáo Lù Văn C, Nguyễn Văn L3, Nguyễn Thế D được tính kể từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện B, tỉnh Hà Giang (nơi các bị cáo cư trú và làm việc) nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang để giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án cải tạo không giam giữ. Trường hợp người chấp hành án đi khỏi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

    • - Về khấu trừ thu nhập: Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo Lù Văn C, Nguyễn Văn L3, Nguyễn Thế D.
    • Trường hợp các bị cáo bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong 01 ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự, xử:
    • - Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: Tiền Ngân hàng N3 là 9.520.000đ (Chín triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng) gồm nhiều tờ tiền mệnh giá khác nhau được đựng trong 01 (một) phong bì màu trắng, mặt trước phong bì ghi “Tiền vật chứng vụ án Đánh bạc phát hiện ngày 19/8/2024 tại thôn N, xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang” (có kèm theo kết luận giám định, bảng thống kê mệnh giá tiền và số seri).
    • - Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) bộ tú lơ khở 52 quân, đã qua sử dụng và 01 (một) chiếu xốp có nhiều hoa văn, đã qua sử dụng,

    (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 21 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Hà Giang và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang).

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 3, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Lăng Đức L, Lèng Văn T, Lù Văn C, Nguyễn Văn L3, Nguyễn Thế D mỗi bị cáo phải chịu số tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333, 336, 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Hồng DiệnĐinh Thị Hồng
Nguyễn Thị Oanh

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh;
  • - VKSND tỉnh Hà giang;
  • - VKSND huyện Bắc Quang;
  • - Công an huyện Bắc Quang (02 bản);
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hà Giang;
  • - UBND xã nơi các bị cáo cư trú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Bộ phận THA hình sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Đinh Thị Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG về đánh bạc

  • Số bản án: 74/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lăng Đức L cùng đồng phạm bị truy tố về tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger