TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 74/2024/HS-ST Ngày: 04/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Luân Văn Lý.
2. Ông Trịnh Văn Phương.
Thư ký phiên tòa: Bà Nông Triệu Bảo Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 5 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm: Phòng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng và điểm cầu thành phần: Phòng hỏi cung số 1 Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đối với bị cáo:
Nguyễn Văn D;
Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 07/01/1988 tại huyện Q, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: xóm B, xã B, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12 phổ thông; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn N - sinh năm 1962 và bà: Nguyễn Thị U - sinh năm 1963; Vợ, con: Không; Tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 31/8/2021 Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng, đến ngày 05/6/2023 chấp hành xong;
Nhân thân: Ngày 14/3/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Uyên (nay là huyện Q), tỉnh Cao Bằng xử phạt 01 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng kể từ ngày 29/12/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam theo Quyết định tạm giam số 124/2024/HSST-QĐTG ngày 02/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Bế Kim T - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C – Sở tư pháp tỉnh Cao Bằng; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 20 phút ngày 29/12/2023 tại khu vực thuộc tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng tổ công tác Công an phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn D (sinh năm 1988; trú tại: Xóm B, xã B, huyện Q, tỉnh Cao Bằng) đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong lòng bàn tay phải của Dự: 01 (một) gói giấy viết màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột (do Dự tự giác giao nộp); 01 (một) xi lanh kim tiêm chưa qua sử dụng; 01 (một) lọ Novocain chưa qua sử dụng.
Quá trình điều tra đủ căn cứ để xác định được: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 29/12/2023, Nguyễn Văn D một mình đi xe buýt từ thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Cao Bằng đến khu vực bến xe khách cũ thành phố C. Tại đây, D gặp và hỏi mua 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) Heroine với một người đàn ông không quen biết, giống người nghiện, người đàn ông này đồng ý, nhận tiền và đưa lại cho Dự 01 gói nhỏ gói bằng giấy viết bên trong có chứa Heroine. Sau đó D đi xe ôm đến khu vực thuộc tổ A, phường T, thành phố C, đến nơi D xuống xe và đi bộ tìm chỗ sử dụng ma túy thì bị Công an phường T kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Ngày 29/12/2023 cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành cân xác định khối lượng số ma túy đã thu giữ. Kết quả khối lượng chất bột màu trắng đã thu giữ là 0,24gam (không phẩy hai mươi bốn gam).
Ngày 29/12/2023 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra Quyết định trưng cầu giám định số 426 đối với vật chứng của vụ án. Tại Kết luận giám định số 62/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine (Heroin)”.
Hành vi của Nguyễn Văn D đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố trước pháp luật về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại bản Cáo trạng số: 68/CT-VKSTP ngày 01/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn D thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhất trí với khối lượng ma túy bị thu giữ cũng như kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh C. Bị cáo khai nhận bản thân sử dụng ma túy (heroine) từ năm 2016 bằng hình thức chích vào cơ thể. Ngày 29/12/2023 bị cáo mua ma tuý với mục đích để bản thân sử dụng, ngoài ra không có mục đích gì khác. Bị cáo khai có ông N1 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba. Đối với 01 xi lanh kim tiêm và 01 lọ Novocain, bị cáo khai mua nhằm mục đích sử dụng ma túy.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo cung cấp cho Hội đồng xét xử Huân chương kháng chiến Hạng 3 của ông Nguyễn Văn T1 và Giấy xác nhận nhân thân thể hiện ông Nguyễn Văn T1 là ông nội của bị cáo D.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn D; đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu, tiêu hủy phong bì niêm phong bên trong có chứa ma tuý thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn D; 01 (một) xi lanh kim tiêm, 01 (một) lọ Novocain do không còn giá trị sử dụng. Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội miễn án phí cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trí với quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật, mức đề nghị hình phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; về mức độ, hành vi phạm tội: Khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ không lớn (0,24 gam); quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà hôm nay bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông nội là Nguyễn Văn T1 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Ba; bị cáo có đơn xin miễn án phí. Vì vậy, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị, không áp dụng hình phạt bổ sung và cho bị cáo được miễn án phí.
Tại phần tranh luận, bị cáo nhất trí với quan điểm bảo vệ của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng.
Khi được nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm được trở về với xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về các hành vi và quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định; vật chứng cùng các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định:
Hồi 12 giờ 20 phút ngày 29/12/2023 tại tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, tổ công tác Công an phường T, thành phố C bắt quả tang Nguyễn Văn D có hành vi tàng trữ trái phép 0,24g (không phẩy hai mươi bốn gam) Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện ma túy lâu năm; có 01 tiền sự chưa được xóa (Ngày 31/8/2021 Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng) và có nhân thân xấu (Ngày 04/3/2019, Tòa án nhân dân huyện Quảng Uyên (nay là huyện Q), tỉnh Cao Bằng xử phạt 01 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về hình phạt:
- Về hình phạt chính:
Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Nguyễn Văn D, bởi bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không thể tự cải tạo, cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định. Trong vụ án này, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 0,24 gam. Bị cáo đã bị chấp hành án, áp dụng biện pháp xử lý hành chính nhiều lần vì các hành vi liên quan đến ma túy nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội. Do đó, khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét toàn diện tính chất, mức độ hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo, thấy rằng: Cần xử phạt bị cáo hình phạt trên mức khởi điểm của khung hình phạt bị truy tố mới đủ nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về hình phạt chính:
- Về xử lý vật chứng:
Cần tịch thu, tiêu hủy số ma tuý hoàn lại sau giám định vì là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và các vật chứng không còn giá trị sử dụng.
- Về án phí:
Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đã có đơn xin miễn án phí nên cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án miễn án phí cho bị cáo.
- Về những vấn đề khác:
- Đối với nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, Nguyễn Văn D khai được mua với một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ ở bến xe khách cũ thuộc tổ B, phường S, thành phố C; việc trao đổi không ai biết, chứng kiến nên cơ quan điều tra không có căn cứ để mở rộng điều tra, xác minh.
- Xét thấy đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng về tội danh, hình phạt, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, quan điểm xử lý vật chứng là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn D nên cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh và mức hình phạt:
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D 15 tháng tù. Thời gian chấp hành án đối với bị cáo được tính kể từ ngày 29/12/2023.
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử tịch thu, tiêu hủy:
- - 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Số 62/KL-KTHS. H lại mẫu sau giám định vụ Nguyễn Văn D có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 29/12/2023”. Mặt sau phong bì có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng dấu giáp lai của Phòng K Công an tỉnh C (Kèm theo Kết luận giám định số 62/KL – KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh C);
- - 01 (một) xi lanh kim tiêm chưa qua sử dụng;
- - 01 (một) lọ Novocain chưa qua sử dụng.
Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 101 ngày 02/5/2024.
- Về án phí:
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án miễn án phí cho bị cáo Nguyễn Văn D.
- Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Thị Hương Thảo |
Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 04/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 74/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồi 12 giờ 20 phút ngày 29/12/2023 tại tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, tổ công tác Công an phường T, thành phố C bắt quả tang Nguyễn Văn D có hành vi tàng trữ trái phép 0,24g (không phẩy hai mươi bốn gam) Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
