Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN SƠN

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2024/HS-ST

Ngày 11 tháng 11 năm 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Mạnh Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đặng Thị Huệ
  2. Ông Nguyễn Duy Chung

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thuý – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Trà My - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm: Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn; Điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Công an tỉnh T. Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn tiến hành xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 73/2024/TLST-HS, ngày 16 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Xuân T, sinh ngày 01/01/1969, tại tỉnh Tuyên Quang

Nơi cư trú: Tổ A, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Thanh B (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1936; có vợ: Cao Thị N, sinh năm 1971 (đã ly hôn) và có 01 con;

Tiền án:

  • Bản án số 31/2015/HSST, ngày 11/12/2015 của TAND tỉnh Tuyên Quang, áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 257 (tái phạm nguy hiểm); điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, xử phạt 02 năm 06 tháng tù giam về tội Chống người thi hành công vụ (ngày 22/02/2016 đã nộp án phí hình sự sơ thẩm);

Bản án số 14/2016/HSST, ngày 05/4/2016 của TAND thành phố Tuyên Quang, áp dụng điểm p khoản 2 Điều 194 (tái phạm nguy hiểm); điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 33; khoản 1 Điều 51 BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, xử phạt 05 năm 06 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt với BA số 31/2015 ngày 11/12/2015 bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án là 08 tăm tù (Ngày 31/7/2022 chấp hành xong án phạt tù; ngày 26/5/2016 đã nộp án phí hình sự sơ thẩm).

Nhân thân:

  • Bản án số 996 (phúc thẩm) ngày 31/8/1990 của TAND tối cao xử phạt 08 năm tù giam về tội Giết người và Tàng trữ vũ khí quân dụng (Ngày 27/6/1997 chấp hành xong án phạt tù);
  • Bản án số 693 (phúc thẩm) ngày 25/4/2001 của Tòa phúc thẩm tại Hà Nội áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 (tái phạm); khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999, xử phạt 05 năm tù giam về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy (Ngày 12/12/2004 chấp hành xong án phạt tù, ngày 25/7/2012 được miễn nghĩa vụ THA đối với khoản tiền phạt 4.950.000đ theo QĐ 25/2012/QĐST-THA của TAND thành phố Tuyên Quang);
  • Quyết định số 3249/QĐ-CT ngày 25/11/2009 của UBND thị xã T về việc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn từ 12 đến 24 tháng;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Công D, sinh ngày 26/12/1965, tại tỉnh Tuyên Quang

Nơi cư trú: Tổ D, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Công B1 (đã chết) và bà Phạm Thị L (đã chết); có vợ: Hoàng Thị H, sinh năm 1967 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Bản án số 02/ST ngày 31/3/1989 của TAND huyện Yên Sơn, xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa;
  • Bản án số 30/ST ngày 26/5/1995 của TAND tỉnh Tuyên Quang xử phạt 06 tháng tù giam, phạt tiền 300.000đ về tội Tổ chức dùng chất ma túy;
  • Bản án số 161/PT ngày 20/6/1997 của Tòa phúc thẩm TANDTC giữ nguyên quyết định sơ thẩm của Bản án số 06 ngày 10/3/1997 của TAND tỉnh Tuyên Qang xử phạt 05 năm tù giam, phạt tiền 500.000đ về tội Tổ chức dùng chất ma túy;
  • Bản án số 1687/HSPT ngày 25/11/2003 của Tòa phúc thẩm TANDTC quyết định sửa một phần Bản án số 97/STHS ngày 25/8/2003 của TAND tỉnh Tuyên Quang, xử phạt 04 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;
  • Bản án số 01/2008/HSST ngày 27/01/2008 của TAND huyện Yên Sơn xử phạt 08 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;
  • Bản án số 81/2016/HSST ngày 09/9/2016 của TAND thành phố Tuyên Quang xử phạt 06 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Ngày 05/5/2021 chấp hành xong án phạt tù, ngày 26/10/2016 đã nộp án phí hình sự sơ thẩm).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 10/6/2024, Nguyễn Công D, trú tại tổ A, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang điều khiển xe mô tô từ nhà đến khu vực ngã 5, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái mục đích tìm mua ma túy về để bán kiếm lời. Khi đến nơi, D vào ngồi uống nước ở quán ven đường và gặp một người đàn ông khoảng 50 tuổi (không biết tên, địa chỉ) có biểu hiện của người nghiện ma túy, D nói chuyện làm quen và hỏi mua ma tuý (Heroine và hồng phiến). Dực đưa cho người đàn ông này 900.000đ (gồm 03 tờ tiền mệnh giá 200.000đ và 15 tờ tiền mệnh giá 20.000đ), người đàn ông cầm tiền và bảo D vào trong nghĩa trang gần bệnh viện đa khoa tỉnh Y đợi, D đến nghĩa trang chờ khoảng 15 phút thì thấy người đàn ông đó quay lại và đưa cho D 01 túi nilon màu xanh được cuộn tròn và hàn kín, D cầm, kiểm tra xác định đó là H1 và 10 viên hồng phiến nên cầm trong lòng bàn tay trái và điều khiển xe mô tô đi đến hiệu thuốc gần khu vực cổng bệnh viện (không xác định được địa chỉ) mua 04 chiếc bao cao su, sau đó D đến chỗ vắng người lồng 04 chiếc bao cao su vào nhau rồi cho số ma tuý vừa mua được vào trong bao cao su rồi nhét bao cao su đựng ma túy vào trong hậu môn của mình để cất giấu, sau đó D điều khiển xe mô tô trở về nhà. Sau khi về nhà D lấy gói ma túy ra cất giấu vào dưới đệm giường ngủ tại tầng 2 nhà D.

Khoảng 18 giờ ngày 10/6/2024, Nguyễn Xuân T, trú tại tổ D, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang (T và D quen biết khi đi chấp hành án phạt tù) gọi điện thoại cho D từ số thuê bao 0854.694.299 của T đến số thuê bao 0867.272.073 của D hỏi “Anh có hàng không để cho em một ít”, hiểu ý T hỏi mua ma túy, D trả lời “Có, lấy thì lên”. Khoảng 19 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển số 22B1-66403 của T đến nhà D, T đưa cho Dực 380.000đ (gồm 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đ, 01 tờ mệnh giá 100.000đ, 01 tờ mệnh giá 50.000đ và 03 tờ mệnh giá 10.000đ) và nói “Em chỉ còn bằng này anh để cho em một cái” (ý T hỏi mua 01 gói Heroine), D cầm tiền và cùng T đi lên tầng 02 vào trong phòng ngủ, D lấy gói ma túy ra khỏi bao cao su, lấy dao lam cắt một ít cho vào mảnh nilon màu trắng rồi đặt lên cân điện tử (T lấy điện thoại của T ra chụp ảnh lại), sau khi cân xong Dực gói ma túy bằng mảnh giấy bạc màu vàng đưa cho T, T cầm gói ma túy cất giấu vào trong túi quần bên phải rồi điều khiển xe mô tô về nhà; còn D lấy một ít Heroine ra sử dụng bằng cách đốt hít vào cơ thể. Số ma tuý còn lại D cho vào túi nilon màu trắng cất giấu dưới đệm trên giường ngủ của D, bao cao su dùng để giấu ma túy Dực vứt dưới gầm giường, chiếc dao lam dùng để cắt ma túy Dực để trên giường bên dưới đệm, chiếc cân điện tử Dực cất vào tủ gỗ trong phòng ngủ. Từ ngày 10/6/2024 đến ngày 21/6/2024, D sử dụng hết toàn bộ số hồng phiến và H1 đã mua.

Đối với Nguyễn Xuân T, sau khi mua được ma túy, T mang về nhà sử dụng bằng hình thức đốt hít khói vào cơ thể. Từ ngày 11/6/2024 đến ngày 19/6/2024, khoảng 2, 3 ngày T lấy một ít Heroine ra sử dụng, số ma tuý còn lại T gói vào mảnh giấy màu trắng. Khoảng 17 giờ ngày 20/6/2024, T đi vào trong xã M chơi, khi đi T lấy gói ma túy cuốn bên ngoài bằng túi nilon sau đó cất giấu trong miệng để mang đi để sử dụng, khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển số 22B1-66403 đi đến đoạn đường bê tông gần khu vực nhà văn thôn T, xã M thì bị tổ công tác Cơ quan CSĐT Công an huyện Y nghi vấn yêu cầu kiểm tra, sợ bị phát hiện T đã nhổ gói ma túy từ trong miệng xuống ven đường để che giấu hành vi phạm tội. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Xuân T, thu giữ, niêm phong gói ma túy theo quy định.

Khi biết T bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Y bắt giữ về hành vi phạm tội, biết không thể che giấu được hành vi phạm tội của mình ngày 22/6/2024, Nguyễn Công D đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đầu thú và khai báo về hành vi phạm tội của mình. Hồi 14 giờ 00 phút ngày 22/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Công D, phát hiện và thu giữ một chiếc cân điện tử mặt trước ghi chữ Kitchen scale tại ngăn giữa tủ gỗ đặt trong phòng ngủ tại tầng 2; một lưỡi dao lam màu trắng ghi chữ Croma trên giường; 04 chiếc bao cao su đã qua sử dụng dưới gầm giường. Cơ quan điều tra tiến hành niêm phong toàn bộ vật chứng theo quy định.

Tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với T và D kết quả: đều (+) dương tính, có chất ma túy trong cơ thể.

Kết luận giám định số 856/KL-KTHS ngày 24/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận số ma túy thu giữ của Nguyễn Xuân T: Mẫu vật gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng 0,319g (không phẩy ba một chín gam).

Trước Cơ quan điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản khám xét, biên bản làm việc; vật chứng thu giữ; kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số: 73/CT-VKSYS, ngày 14/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn truy tố Nguyễn Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS; truy tố Nguyễn Công D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong bản cáo trạng đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Công D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm x, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Xuân T; Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Công D.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 21/6/2024.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Công D từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 22/6/2024.
  • Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • + Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn các mép dán kín, bên ngoài mặt trước bì niêm phong ghi chữ “Tang vật vụ Nguyễn Xuân T giám định ngày 21/6/2024” mặt sau trên các mép dán có chữ ký giáp lai của Nguyễn Xuân T, thành phần tham gia niêm phong và 05 hình dấu giáp lai của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong là Heroine; 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn các mép dán kín, bên ngoài mặt trước bì niêm phong ghi chữ “Tang vật thu giữ khi khám xét khẩn cấp Nguyễn Công D ngày 21/6/2024” mặt sau trên các mép dán có chữ ký giáp lai của Nguyễn Công D, thành phần tham gia niêm phong và 05 hình dấu giáp lai của Công an phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, ký hiệu M1 (bên trong có 04 bao cao su); 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn các mép dán kín, bên ngoài mặt trước bì niêm phong ghi chữ “Tang vật thu giữ khi khám xét khẩn cấp Nguyễn Công D ngày 21/6/2024” mặt sau trên các mép dán có chữ ký giáp lai của Nguyễn Công D, thành phần tham gia niêm phong và 05 hình dấu giáp lai của Công an phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, ký hiệu M2 (bên trong có 01 lưỡi lam); 01 cân điện tử màu trắng, mặt trước ghi chữ KITCHEN SCALE, cân cũ đã qua sử dụng.
    • + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động cảm ứng vỏ màu đen, mặt lưng có ghi chữ Sam sung của Nguyễn Công D, 01 điện thoại di động cảm ứng, mặt lưng có ghi chữ Iphone của Nguyễn Xuân T.
    • + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân T 01 xe mô tô biển kiểm soát 22B1- 664.03, số khung: RLHJF4611EYG26059, số máy: JF46E-2081823, nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
  • Truy thu của bị cáo Nguyễn Công D số tiền 380.000₫ (Ba trăm tám mươi nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra đề nghị HĐXX xem xét buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nhất trí với bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà, không tranh luận gì thêm. Thừa nhận hành vi phạm tội của mình, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức án cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về xem xét hành vi của các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản khám xét; Vật chứng thu giữ; Kết luận giám định và toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ trên có đủ cơ sở kết luận:

  • - Khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 10/6/2024, tại nhà ở của mình thuộc tổ D, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang: Nguyễn Công D đã có hành vi bán trái phép cho Nguyễn Xuân T 01 gói Heroine với giá là 380.000 đồng.
  • - Hồi 17 giờ 30 phút, ngày 20/6/2024, tại thôn T, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang: Nguyễn Xuân T có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng là 0,319 gam, nhằm mục đích để sử dụng.

Theo kết luận giám định mẫu vật thu giữ của Nguyễn Xuân T gửi giám định là H2, bị cáo D thừa nhận có bán cho Nguyễn Xuân T 01 gói Heroine với giá 380.000 đồng, nên hành vi của bị cáo D đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự; đối với bị cáo Nguyễn Xuân T có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng là 0,319 gam, tuy khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 249 của BLHS, tuy nhiên tại Bản án số 14/2016/HSST, ngày 05/4/2016 của TAND thành phố Tuyên Quang đã áp dụng tình tiết “tái phạm nguy hiểm” bị cáo chưa được xoá án tích đối với bản án này, nên hành vi của bị cáo lần này đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[2]. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định về quản lý đối với các chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất ổn định an ninh trật tự tại địa phương, làm nghiêm trọng thêm tình trạng mua bán, sử dụng trái phép các chất ma túy, gây khó khăn cho cho công tác đấu tranh, phòng, chống ma túy trong giai đoạn hiện nay. Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực nhận thức, bản thân nhận thức được việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người nhưng các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, tuy nhiên tính chất vai trò của các bị cáo trong vụ án là khác nhau.

Bị cáo Nguyễn Công D là người trực tiếp đi mua ma tuý về sau đó bán ma tuý cho Nguyễn Xuân T để kiếm lời, do quen biết với T từ trước và biết T là đối tượng nghiện ma tuý, khi T đến nhà mua ma tuý bị cáo đã bán cho T 01 gói ma tuý với giá 380.000 đồng. Xét về nhân thân bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã bị xét xử nhiều lần về các tội danh liên quan đến ma túy, nhưng bị cáo không lấy làm bài học để rút kinh nghiệm, thay đổi bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo phải chịu trách nhiệm độc lập đối hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình.

Bị cáo Nguyễn Xuân T là người nghiện ma túy, do quen biết với bị cáo D từ trước, biết D là người nghiện nên bị cáo đã chủ động đến nhà D để liên hệ mua ma tuý về sử dụng cho bản thân. Xét về nhân thân: Bị cáo đã có 01 tiền án về tội chống người thi hành công vụ và 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; ngoài ra bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xét xử về tội giết người, tàng trữ vũ khí quân dụng, tội vận chuyển trái phép chất ma tuý, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Xuân T có bố là ông Nguyễn Thanh B là liệt sỹ nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 của BLHS; bị cáo Nguyễn Công D tự nguyện ra đầu thú nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.

[4]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần xử phạt các bị cáo hình phạt tù và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục cũng như phòng ngừa tội phạm chung và xử phạt các bị cáo mức án trong phạm vi đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, có căn cứ.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có tài sản có giá trị, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6]. Về vật chứng vụ án: Đối với 03 bì niêm phong còn nguyên vẹn các mép dán kín (bên trong là Heroine, 04 bao cao su, 01 dao lam) và 01 cân điện tử là các vật chứng vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung của Nguyễn Công D, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone của Nguyễn Xuân T sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước; 01 xe mô tô nhãn hiệu Ablead BKS 22B1- 664.03 của Nguyễn Xuân T không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo T nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án; truy thu của Nguyễn Công D số tiền 380.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

[7]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Qua xem xét, nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[8]. Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9]. Về các vấn đề khác:

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Xuân T và Nguyễn Công D: ngày 27/6/2024, Công an huyện Y đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 69/QĐ-XPHC, 70/QĐ-XPHC, hình thức phạt: Cảnh cáo.

Đối với người đàn ông đã bán trái phép chất ma tuý cho Nguyễn Công D tại thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã áp dụng các biện pháp điều tra theo quy định, ngoài lời khai duy nhất của bị cáo không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh nên không có căn cứ xem xét, xử lý trong vụ án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s, x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Xuân T; Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Công D.
    • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Công D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 21/6/2024.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Công D 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 22/6/2024.
  2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn các mép dán kín, bên ngoài mặt trước bì niêm phong ghi chữ “Tang vật vụ Nguyễn Xuân T giám định ngày 21/6/2024” mặt sau trên các mép dán có chữ ký giáp lai của Nguyễn Xuân T, thành phần tham gia niêm phong và 05 hình dấu giáp lai của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong là Heroine; 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn các mép dán kín, bên ngoài mặt trước bì niêm phong ghi chữ “Tang vật thu giữ khi khám xét khẩn cấp Nguyễn Công D ngày 21/6/2024” mặt sau trên các mép dán có chữ ký giáp lai của Nguyễn Công D, thành phần tham gia niêm phong và 05 hình dấu giáp lai của Công an phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, ký hiệu M1 (bên trong có 04 bao cao su); 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn các mép dán kín, bên ngoài mặt trước bì niêm phong ghi chữ “Tang vật thu giữ khi khám xét khẩn cấp Nguyễn Công D ngày 21/6/2024” mặt sau trên các mép dán có chữ ký giáp lai của Nguyễn Công D, thành phần tham gia niêm phong và 05 hình dấu giáp lai của Công an phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, ký hiệu M2 (bên trong có 01 lưỡi lam); 01 cân điện tử màu trắng, mặt trước ghi chữ KITCHEN SCALE, cân cũ đã qua sử dụng.
    • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động cảm ứng vỏ màu đen, mặt lưng có ghi chữ Sam sung của Nguyễn Công D, 01 điện thoại di động cảm ứng, mặt lưng có ghi chữ Iphone của Nguyễn Xuân T.
    • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân T 01 xe mô tô biển kiểm soát 22B1- 664.03, số khung: RLHJF4611EYG26059, số máy: JF46E-2081823, nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

    Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Y và Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Sơn lập ngày 22/10/2024.

    • - Truy thu của bị cáo Nguyễn Công D số tiền 380.000₫ (Ba trăm tám mươi nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
  3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, các bị cáo Nguyễn Xuân T và Nguyễn Công D, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN   THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Thị Huệ Nguyễn Duy Chung Vũ Mạnh Hồng

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - Phòng HSNV CA tỉnh Tuyên Quang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND huyện Yên Sơn;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Yên Sơn;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Yên Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Sơn;
  • - Trại giam;
  • - UBND phường An Tường;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS, VT.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Mạnh Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 74/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger