|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 74/2024/HS-PT
Ngày 05/6/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hằng
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Hữu Trường
Bà Vũ Thị Bích Diệp
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 5 và ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 57/2024/TLPT-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Vũ Thái L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2024/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Bị cáo có kháng cáo:
Vũ Thái L, sinh năm 1989 tại Hải Phòng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số D K, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số A C, phường A, Quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Tiến L1 và bà Vũ Thị H; có chồng là: Trần Trung K (đã ly hôn) và có 04 con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 27/12/2023; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 18/11/2023, Vũ Thái L cùng Trần Đức H1, sinh năm 1987; trú quán: số C N phường A, Quận L, thành phố Hải Phòng cùng hai con đến quán M, địa chỉ: số A H, Quận L, thành phố Hải Phòng để mua kem. Khi đến nơi, H1 và hai con đứng ngoài còn L vào mua. Trong lúc đợi nhân viên bán hàng, L nhìn thấy 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone X màu trắng có ốp màu hồng của chị Nguyễn Hương C, sinh năm 2004; trú quán: số B K, quận H, thành phố Hải Phòng để trên mặt quầy bán hàng. Quan sát thấy không có ai để ý L này sinh ý định chiếm đoạt và dùng tay phải cầm điện thoại cho vào túi quần trước bên phải rồi đi thẳng ra chỗ H1 đứng đợi để về nhà. Sau khi về đến nhà, L giấu chiếc điện thoại trộm cắp được trong tủ quần áo và không nói cho H1 biết. Sau khi bị mất điện thoại, chị C kiểm tra hình ảnh Camera và đến Công an phường A, Quận L, thành phố Hải Phòng trình báo và giao nộp 01 USB ghi lại hình ảnh liên quan đến hành vi trộm cắp điện thoại. Ngày 19/11/2023, Công an phường A triệu tập L lên làm việc, L đã giao nộp chiếc điện thoại trên cho Cơ quan Công an. Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ bộ quần áo L mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 119/KL-HĐĐGTS ngày 12/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận L, thành phố Hải Phòng kết luận: Giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, đã qua sử dụng, màu trắng, 64GB, IMΕΙ 354854091062796 có ốp màu hồng được định giá là 3.350.000 đồng.
Về vật chứng của vụ án:
- 01 USB ghi lai hình ảnh liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản của Vũ Thái L, chuyển hồ sơ vụ án.
- 01 điện thoại Vũ Thái L chiếm đoạt, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Nguyễn Hương C.
- 01 áo liền quần hoa văn tối màu; 01 áo bò dài tay sáng màu thu giữ của Vũ Thái L chuyển Chi cục Thi hành án dân sự Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Về tránh nhiệm dân sự: chị Nguyễn Hương C đã nhận lại tài sản đã bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị can phải bồi thường gì thêm.
Tại Bản Cáo trạng số 49/CT-VKS ngày 06/02/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Vũ Thái L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Vũ Thái L khai nhận: Bị cáo cùng Trần Đức H1, sinh năm 1987; trú quán: Số C N phường A, Quận L, thành phố Hải Phòng cùng hai con đến quán M, địa chỉ: số A H, Quận L, thành phố Hải Phòng để mua kem. Khi đến nơi, H1 và hai con đứng ngoài còn L vào mua. Trong lúc đợi nhân viên bán hàng, L nhìn thấy 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone X màu trắng có ốp màu hồng của chị Nguyễn Hương C, sinh năm 2004; trú quán: số B K, quận H, thành phố Hải Phòng để trên mặt quầy bán hàng. Quan sát thấy không có ai để ý bị cáo L đã nảy sinh ý định chiếm đoạt và dùng tay phải cầm điện thoại cho vào túi quần trước bên phải rồi đi thẳng ra chỗ H1 đứng đợi để về nhà. Sau khi về đến nhà, L giấu chiếc điên thoại trộm cắp được trong tủ quần áo và không nói cho Trần Đức H1 biết.
Tại Bản án sơ thẩm số 39/2024/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Thái L 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Vũ Thái L kháng cáo xin được hưởng án treo hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Vũ Thái L thay đổi kháng cáo xin được áp dụng cải tạo không giam giữ.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở khẳng định bị cáo Vũ Thái L đã có hành vi Trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Thái L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, bị cáo thể hiện ý thức chấp hành pháp luật kém nên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt 06 tháng tù, mức khởi điểm của khung hình phạt là đảm bảo tính răn đe. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 03 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm cung cấp thêm tài liệu bị hại xin Hội đồng xét xử phúc thẩm cho bị cáo được hưởng cỉ tạo ngoài xã hội nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản mà bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn và đã được thu hồi trả cho bị hại; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải; người bị hại đã có đơn xin cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội, đồng thời. Mặt khác, xét bị cáo nhân thân chưa tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng đủ điều kiện được cải tạo ngoài xã hội; bị cáo hiện đang nuôi 04 con nhỏ, đặc biệt tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm đã có nhiều hành động thể hiện sự có sự tiến bộ hơn về ý thức chấp hành pháp luật, nên cũng cần xem xét hoàn cảnh và sự thay đổi về ý thức để quyết định hình phạt. Để đảm bảo tính công bằng đối với những trường hợp tương tự, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sựchấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Vũ Thái L 18 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận gì, bào chữa gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng khoan hồng và tự cải tạo ở ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 30 ngày 18/11/2023, tại quán MIXUE, địa chỉ: số A phố H, phường A, Quận L, thành phố Hải Phòng, bị cáo Vũ Thái L nhìn thấy trên mặt bàn có 01 chiếc điện thoại không có người trông coi, bị cáo L đã lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại mang về nhà cất giữ. Chiếc điện thoại có giá trị 3.350.000đ (Ba triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng). Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25/3/2024, bị cáo Vũ Thái L có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm cho bị cáo được hưởng án treo, Viện Kiểm sát không kháng nghị. Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thay đổi kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
- Xét kháng cáo của bị cáo xin được cải tạo ngoài xã hội, Hội đồng xét xử đánh giá như sau:
[4] Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm điểm h, i, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự như: Bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên với mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Vũ Thái L 06 (S) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ và đúng pháp luật.
[5] Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới: Bị hại xin cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội, chính quyền địa phương xác nhận bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; xét bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản mà bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn và đã được thu hồi trả cho bị hại; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải; người bị hại đã có đơn xin cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội, đồng thời. Mặt khác, xét bị cáo nhân thân chưa tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng đủ điều kiện được cải tạo ngoài xã hội; bị cáo hiện đang nuôi 04 con nhỏ, đặc biệt tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm đã có nhiều hành động thể hiện sự có sự tiến bộ hơn về ý thức chấp hành pháp luật. Hội đồng xét xử xét không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo cải tạo không giam giữ và giao bị cáo cho gia đình và chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Do đó, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tại phiên tòa phúc thẩm, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động tự do nên thu nhập không ổn định nên khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, Hội đồng xét xử miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
[8] Về án phí: Vì kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[9] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Thái L; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2024/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân Quận L, thành phố Hải Phòng.
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Thái L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Thái L 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo. Thời gian cải tạo không giam giữ của bị cáo tính từ ngày cơ quan tổ chức nhận được bản án và quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Giao bị cáo Vũ Thái L cho Ủy ban nhân dân phường A, quận L, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường A, quận L, thành phố Hải Phòng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo Vũ Thái L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo Vũ Thái L từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Vũ Thái L phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Vũ Thái L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 39/2024/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân Quận L, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thu Hằng |
Bản án số 74/2024/HS-PT ngày 05/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự phúc thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 74/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội "Trộm cắp tài sản" do bị cáo kháng cáo xin được cải tạo không giam giữ
