Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BÌNH MINH

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07/10/2024

V/v “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Thúy Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Sơn Mứt

Ông Lương Phi Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tham gia phiên tòa: Không thuộc trường hợp tham gia phiên toà.

Ngày 07 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 152/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trương Thị T, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Tổ 02, ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long, có mặt.
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Chí C, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Tổ 02, ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 25/3/2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Trương Thị T trình bày: Vào năm 1999 qua mai mối, bà T và ông C quen biết, tìm hiểu nhau nên cả hai tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới vào năm 2000 và đăng ký kết hôn được UBND xã Tân Hà, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 21/10/2002. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian gần đây thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm sống nên ly thân từ tháng 01/2023 đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông C.

+ Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Chí Th, sinh ngày 17/5/2001 và Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 13/10/2015 hiện đang sống cùng bà T, bà T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 13/10/2015, không yêu cầu ông Nguyễn Chí C cấp dưỡng nuôi con. Riêng đối với con chung Nguyễn Chí Th, sinh ngày 17/5/2001 đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết;

+ Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng bà tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn Nguyễn Chí C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án số 152/2024/TB-TLVA ngày 17/5/2024; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 533/2024/TB-TA ngày 28/6/2024; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 600/2024/TB-TA ngày 07/8/2024; Thông báo yêu cầu chứng cứ (lần 1) số 603/2024/TB-TA ngày 07/8/2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/9/2024 và giấy triệu tập xét xử lần 1; Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20/9/2024 và giấy triệu tập xét xử lần thứ hai nhưng ông C không cung cấp bản khai ý kiến và không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn Trương Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Chí C; Về con chung: Bà T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 13/10/2015, không yêu cầu ông Nguyễn Chí C cấp dưỡng nuôi con. Riêng đối với con chung Nguyễn Chí Th, sinh ngày 17/5/2001 đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết; Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn Nguyễn Chí C vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Trương Thị T khởi kiện xin ly hôn với ông Nguyễn Chí C có nơi cư trú tại xã Mỹ Hoà, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long do đó Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long thụ lý và giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình theo thủ tục sơ thẩm được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ngày 20/9/2024, Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh mở phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất, ông C đã được tống đạt hợp lệ: Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập xét xử lần 1 bằng hình tống đạt trực tiếp nhưng ông C vắng mặt không rõ lý do. Sau đó, ông C đã được tống đạt hợp lệ: Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20/9/2024 và giấy triệu tập xét xử lần thứ hai bằng hình tống đạt trực tiếp nhưng tại phiên tòa hôm nay ông C vẫn vắng mặt không rõ lý do. Do bị đơn Nguyễn Chí C đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ hai lần mà vẫn vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông C.

[2] Về nội dung khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Xét về quan hệ hôn nhân:

Sau khi tổ chức lễ cưới, bà T và ông C có đăng ký kết hôn được UBND xã Tân Hà, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 21/10/2002 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét quá trình chung sống của bà T và ông C: Theo lời khai của bà T, sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng bà chung sống hạnh phúc nhưng gần đây thường hay cãi nhau dẫn đến bất đồng quan điểm sống trong cuộc sống hàng ngày và tình cảm vợ chồng, vợ chồng bà không sống chung từ tháng 01/2023 đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông C không có đến Toà án để trình bày và nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà T nên phải chịu hậu quả bất lợi theo khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Do giữa bà T và ông C đã không còn thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 dẫn đến tình trạng hôn nhân trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà T là có căn cứ phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông C.

[2.2.] Về nuôi con chung:

[2.2.1] Trong quá trình chung sống, bà T và ông C có 02 con chung tên Nguyễn Chí Th, sinh ngày 17/5/2001, Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 13/10/2015 hiện đang sống cùng bà T. Đối với con chung Nguyễn Chí Th, sinh ngày 17/5/2001 đã trưởng thành nên bà T không yêu cầu Toà án giải quyết. Bà Trương Thị T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 13/10/2015, hiện cháu Duyên đang sống chung cùng mẹ là bà T. Bà T không yêu cầu ông Nguyễn Chí C cấp dưỡng nuôi con. Theo xác nhận của địa phương nơi bà T cư trú thì hiện bà T đang làm công việc bán quán cà phê tại nhà thu nhập bình quân khoảng 9.000.000 đồng/tháng, đủ điều kiện kinh tế để nuôi dưỡng con chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông C không đến Toà án để trình bày và nêu ý kiến đối với yêu cầu về con chung của bà T và không cung cấp ý kiến đối với yêu cầu của bà T về việc nuôi con chung nên phải chịu hậu quả bất lợi theo khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Mặt khác, tại bản khai đề ngày 25/3/2024, cháu Nguyễn Ngọc D có ý kiến là sau khi cha mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở cùng mẹ cháu là bà T. Do đó để tiếp tục đảm bảo điều kiện phát triển về thể chất và tinh thần cho cháu, Hội đồng xét xử thống nhất giao cho bà T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 13/10/2015 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Ông Nguyễn Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 13/10/2015 mà không ai được quyền cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.3.] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do bà T và ông C chưa yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T và ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Bà Trương Thị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn theo quy định khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng Điều 19, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trương Thị T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Chí C.
  2. Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung:
    1. Về nuôi con chung:
      1. Giao cho bà Trương Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 13/10/2015 cho đến khi cháu Duyên đủ 18 tuổi.
      2. Ông Nguyễn Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 13/10/2015 mà không ai được quyền cản trở.
      3. Đối với con chung Nguyễn Chí Th, sinh ngày 17/5/2001 đã trưởng thành nên Toà án không đặt ra xem xét, giải quyết.
    2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Trương Thị T và ông Nguyễn Chí C chưa yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trương Thị T và ông Nguyễn Chí C không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Trương Thị T phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn. Được khấu trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0012617 ngày 26/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Bình Minh. Bà Trương Thị T đã nộp xong.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008.

6. Án xử công khai, bà Trương Thị T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông Nguyễn Chí C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long: 01;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh: 02;
  • - Chi cục thi hành án DS thị xã Bình Minh: 02;
  • - Đương sự: 02;
  • - UBND xã Tân Hà, H. Tân Châu, T. Tây Ninh: 01;
  • - Lưu hồ sơ vụ án: 04.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Thị Thúy Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HNGĐ-ST ngày 07/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn

  • Số bản án: 74/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Thị T - Nguyễn Chí C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger