|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 74/2024/DS-ST Ngày: 19-8-2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, hợp
đồng thuê nhà, đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Minh Thìn.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Minh.
- Bà Trần Hồng Vân.
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Bích Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 63/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê nhà, đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2024, các Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2024/QÐST-DS ngày 17 tháng 7 năm 2024 và số 95/2024/Q ĐST-DS 09 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Huỳnh Lê Tấn L, sinh năm: 1989.
- Bị đơn: Anh Lý Phúc D, sinh năm: 1984.
Địa chỉ: Số C L, Khóm C, Phường C, thành phố S, tỉnh Đ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn anh Huỳnh Lê Tấn L: Luật sư Nguyễn Văn T – Văn phòng Luật sư Nguyễn Văn T, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.
Địa chỉ: Số B Rạch C, Khóm B, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ.
Người đại diện theo ủy quyền của anh Lý Phú D1: Anh Bùi Văn K, sinh năm: 1992.
Địa chỉ: Số A, đường B, Khóm B, Phường C, thành phố V, tỉnh V (Văn bản ủy quyền ngày 26/6/2024).
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Trương Thị Diễm T1, sinh năm: 1987.
- Anh Nguyễn Thành P, sinh năm: 1985.
Địa chỉ: Số B Rạch C, Khóm B, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ.
Địa chỉ: Số B, Tổ H, ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh V.
Anh L, Luật sư T có mặt tại phiên tòa; anh K, anh P vắng mặt, nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; chị T1 vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Huỳnh Lê Tấn L trình bày:
Trước đây, ngày 12/10/2022 anh L và anh Lý Phúc D có thỏa thuận việc anh L cho anh D vay số tiền 2,5 tỷ đồng, thời hạn vay là 10 ngày (từ ngày 12/10/2022 đến ngày 23/10/2022), lãi vay thỏa thuận miệng là 3%/tháng. Khi đó, anh L và anh D có đến Phòng công chứng số B tỉnh Đ để công chứng hợp đồng vay tiền ngày 12/10/2022; tuy nhiên, trong hợp đồng vay tiền công chứng này ghi lãi suất vay do hai bên tự thỏa thuận theo quy định của pháp luật. Cũng trong ngày 12/10/2022 anh L chuyển khoản số tiền vốn vay 2,5 tỷ đồng từ tài khoản ngân hàng của anh L vào tài khoản ngân hàng của anh D. Theo thỏa thuận thì đến ngày 23/10/2022 thì anh D phải trả cho anh L số tiền vốn vay và tiền lãi vay tổng cộng là 2.525.000.000 đồng, nhưng anh D không thực hiện mà anh D nói vì khó khăn nên xin anh L cho trả mỗi tháng 200.000.000 đồng. Ngày 23/10/2022 anh L và anh D, chị Trương Thị Diễm T1 (vợ anh D) có lập Phụ lục gia hạn hợp đồng vay tiền với nội dung anh D sẽ trả dần cho anh L mỗi tháng 200.000.000 đồng vào ngày 29 tây mỗi tháng, bắt đầu từ ngày 29/10/2022, lãi suất thỏa thuận miệng là 3%/tháng như ban đầu.
Đến đầu tháng 3/2023 anh L và anh D có thỏa thuận anh D chuyển nhượng thửa đất số 317, tờ bản đồ số 9, diện tích 1.692,5m²; tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh V và căn nhà trên đất cho anh L với giá tiền tổng cộng là 400.000.000 đồng để trừ vào số vốn vay anh D nợ anh L. Ngày 14/3/2023 anh L và anh D, chị T1 công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 317, tờ bản đồ số 9, đến ngày 23/3/2023 anh L được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 317 (cập nhật điều chỉnh trang IV), đối với nhà trên đất do chưa được cấp quyền sở hữu nhà nên không có ghi trong hợp đồng công chứng; cũng ngày 23/3/2023 anh L và anh D, chị T1 có lập Biên bản thỏa thuận v/v chuyển nhượng, ghi nhận việc anh D, chị T1 chuyển nhượng thửa đất 317 và căn nhà trên đất cho anh L với giá tiền tổng cộng là 400.000.000 đồng, anh L đồng ý cho anh D, chị T1 thuê lại nhà, đất này, thời hạn thuê là 12 tháng, tiền thuê thỏa thuận miệng là 3.000.000 đồng/tháng.
Từ khi vay tiền ngày 12/10/2022 đến ngày 14/3/2023 anh D có chuyển khoản trả tiền cho anh L nhiều lần từ tài khoản ngân hàng của anh D vào tài khoản ngân hàng của anh L số tiền tổng cộng là 860.000.000 đồng và trừ số tiền chuyển nhượng nhà, đất cho anh L, nên số tiền vốn vay và lãi vay anh D đã trả cho anh L
3
đến ngày 14/3/2023 là 1.260.000.000 đồng. Từ ngày 15/3/2023 đến ngày 31/5/2023 anh D có chuyển trả tiền từ tài khoản ngân hàng của anh D vào tài khoản ngân hàng của anh L số tiền là 40.000.000 đồng. Từ ngày 01/6/2023 anh D không tiếp tục trả tiền vốn vay, không trả tiền lãi vay lần nào đến nay.
Nay anh Huỳnh Lê Tấn L yêu cầu anh Lý Phúc D và chị Trương Thị Diễm T1 cùng liên đới trả cho anh L số tiền vốn vay và tiền lãi vay với lãi suất 0,83%/tháng trên số tiền vốn vay giảm dần tính từ ngày vay 12/10/2022 đến ngày 01/7/2024 như sau:
- Tính từ ngày vay 12/10/2022 đến ngày 14/3/2023 tổng số tiền đã trả là 1.260.000.000 đồng, trong đó tiền lãi phải trả là: 05 tháng (tính tròn) x 0,83%/tháng x 2,5 tỷ đồng = 103.750.000 đồng, nên số tiền đã trả trừ vào tiền lãi vay phải trả (1.260.000.000 đồng - 103.750.000 đồng = 1.156.250.000 đồng) thì số tiền vốn vay còn nợ lại là: 2,5 tỷ - 1.156.250.000 đồng = 1.343.750.000 đồng.
- Từ ngày 15/3/2023 đến ngày 31/5/2023 số tiền đã trả là 40.000.000 đồng, trong đó tiền lãi phải trả là: 2,5 tháng (tính tròn) x 0,83%/tháng x 1.343.750.000 đồng = 27.883.000 đồng, nên số tiền đã trả trừ vào tiền lãi vay phải trả (40.000.000 đồng - 27.883.000 đồng = 12.117.000 đồng) thì số tiền vốn vay còn nợ lại là: 1.343.750.000 đồng - 12.117.000 đồng = 1.331.633.000 đồng.
Tiền lãi phải trả từ ngày 01/6/2023 đến ngày 01/7/2024 là: 1.331.633.000 đồng x 0,83%/tháng x 13 tháng = 143.683.000 đồng. Do đó, tổng số tiền vốn vay và tiền lãi vay còn phải trả đến ngày 01/7/2024 là: 1.331.633.000 đồng + 143.683.000 đồng = 1.475.316.000 đồng.
Trước đây, anh L có khởi kiện yêu cầu anh D trả tiền thuê nhà, đất và yêu cầu anh D phải bàn giao thửa đất số 317, tờ bản đồ số 9, diện tích 1.692,5m²; tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long và tài sản gắn liền với thửa đất là căn nhà cấp 4, diện tích khoảng 85m² (5m x 17m), nền gạch men, vách tường, mái lộp tol xi măng cho anh L. Tuy nhiên, tại phiên tòa anh L xin rút lại toàn bộ yêu cầu này, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, anh L không có yêu cầu gì khác.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Lý Phúc D là anh Bùi Văn K có đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trương Thị Diễm T1 vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Anh D, chị T1 có nộp văn bản ý kiến đề ngày 19/8/2024 trình bày:
Vào ngày 12/10/2022 anh D, chị T1 có vay của anh L số tiền 2,5 tỷ đồng và được Phòng C tỉnh Đồng Tháp công chứng, theo thỏa thuận thì lãi suất vay 10%/năm. Thực hiện hợp đồng thì anh D, chị T1 đã trả cho anh L tổng số tiền 1.260.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản ngân hàng.
Do đó, anh D, chị T1 đề nghị xem xét giải quyết trừ số tiền đã trả vào tiền gốc đã vay của anh L 2,5 tỷ đồng tại thời điểm trả cho anh L theo hướng dẫn tại Điều 9 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Về lãi suất thì anh D, chị T1 chỉ đồng ý trả với mức lãi suất 10%/năm đối với số tiền gốc sau khi đã trừ số tiền đã chuyển cho anh L.
4
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thành P có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, có lời khai trình bày:
Anh P không có tranh chấp, không có yêu cầu gì. Cũng không có tranh chấp, không có yêu cầu gì đối với các hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất thửa đất số 317, tờ bản đồ số 9, diện tích 1.692,5m²; tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh V và tài sản gắn liền với thửa đất là căn nhà cấp 4, diện tích khoảng 85m² (5m x 17m), nền gạch men, vách tường, mái lộp tol xi măng trên đất.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn anh Huỳnh Lê Tấn L là Luật sư Nguyễn Văn T có ý kiến tranh luận:
Đề nghị đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Huỳnh Lê Tấn L. Buộc anh Lý Phúc D và chị Trương Thị Diễm T1 cùng liên đới trả cho anh L số tiền vốn vay còn nợ 1.331.633.000 đồng và tiền lãi vay tính đến ngày 01/7/2024 số tiền 143.683.000 đồng, tổng cộng là 1.475.316.000 đồng.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát:
Về tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Huỳnh Lê Tấn L. Buộc anh Lý Phúc D và chị Trương Thị Diễm T1 cùng liên đới trả cho anh L số tiền vốn vay còn nợ 1.331.633.000 đồng và tiền lãi vay tính đến ngày 01/7/2024 số tiền 143.683.000 đồng, tổng cộng là 1.475.316.000 đồng.
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của anh L đối với yêu cầu anh D trả và tiền thuê nhà, đất và yêu cầu anh D phải bàn giao thửa đất số 317, tờ bản đồ số 9, diện tích 1.692,5m²; tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh V và căn nhà trên đất cho anh L.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê nhà, đất”. Căn cứ theo quy định tại Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Lý Phúc D là anh Bùi Văn K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thành P vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trương Thị Diễm T1 vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh K, anh P, chị T1 theo quy định.
5
[2] Về nội dung vụ án: Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh như sau:
“2. Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh.”
Nguyên đơn đã cung cấp Hợp đồng vay tiền giữa anh L và anh D được công chứng ngày 12/10/2022, Sổ phụ tài khoản có ghi ngày 12/10/2022, 02 Giấy báo nợ có ghi ngày 12/10/2022 để chứng minh cho việc anh L có cho anh D vay số tiền 2,5 tỷ đồng và anh L đã giao số tiền này cho anh D. Bên cạnh đó, anh L có cung cấp Phụ lục gia hạn hợp đồng vay tiền đề ngày 23/10/2022 giữa anh L với anh D, chị T1; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh L với anh D, chị T1 công chứng ngày 14/3/2023; Biên bản thỏa thuận v/v chuyển nhượng đề ngày 23/3/2023 giữa anh L với anh D, chị T1; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 317, tờ bản đồ số 9 cập nhật thay đổi ngày 23/3/2023 để chứng minh việc anh D vay tiền của anh L thì chị T1 biết và đồng ý cùng anh D trả nợ cho anh L, cũng như số tiền anh D, chị T1 đã trả cho anh L.
Anh D, chị T1 thừa nhận ngày 12/10/2022 có vay của anh L số tiền 2,5 tỷ đồng và được Phòng C tỉnh Đồng Tháp công chứng. Anh D, chị T1 có trả tổng số tiền như anh L trình bày.
Do đó, đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh và đủ cơ sở khẳng định việc anh D, chị T1 vay tiền, đã trả được tổng số tiền như anh L trình bày.
[2.2] Xét yêu cầu tính tiền lãi vay của anh L với lãi suất 0,83%/tháng. Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự quy định về lãi suất như sau:
“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác...
2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.”
Anh L trình bày khi cho vay tiền ngày 12/10/2022 thì anh L, anh D thỏa thuận miệng lãi suất vay là 3%/tháng, nhưng trong hợp đồng vay tiền công chứng ngày 12/10/2022 ghi lãi suất vay do hai bên (anh L, anh D) tự thỏa thuận theo quy định của pháp luật. Nay anh L chỉ yêu cầu anh D, chị T1 liên đới trả tiền lãi vay với lãi suất 0,83%/tháng trên số tiền vốn vay giảm dần tính từ ngày vay 12/10/2022 đến ngày 01/7/2024; anh D, chị T1 đồng ý trả tiền lãi cho anh L với mức lãi suất 10%/năm đối với số tiền gốc. Do đó, yêu cầu của anh L là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật, nên chấp nhận.
6
[2.3] Từ những phân tích và nhận định như trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Huỳnh Lê Tấn L, buộc anh Lý Phúc D, chị Trương Thị Diễm T1 cùng liên đới trả cho anh L số tiền vốn vay còn nợ 1.331.633.000 đồng và tiền lãi vay tính đến ngày 01/7/2024 số tiền 143.683.000 đồng, tổng cộng là 1.475.316.000 đồng.
[2.4] Trước đây, anh L có khởi kiện yêu cầu anh D trả và tiền thuê nhà, đất và yêu cầu anh D phải bàn giao thửa đất số 317, tờ bản đồ số 9, diện tích 1.692,5m²; tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh V và tài sản gắn liền với thửa đất là căn nhà cấp 4, diện tích khoảng 85m² (5m x 17m), nền gạch men, vách tường, mái lộp tol xi măng cho anh L; Tại phiên tòa anh L xin rút lại toàn bộ yêu cầu này, không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết yêu cầu này của anh L theo quy định.
[3] Đối với ý kiến của vị Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là có căn cứ để chấp nhận như phân tích trên.
[4] Hội đồng xét xử thống nhất với ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc về việc giải quyết vụ án.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh D, chị T1 phải liên đới chịu tiền án phí trên số tiền vốn vay và tiền lãi vay phải trả cho anh L.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 217, 218, 219, 227, 228, 235, 264, 271, 273, 278 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 357, 463, 466 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Huỳnh Lê Tấn L. Buộc anh Lý Phúc D, chị Trương Thị Diễm T1 cùng liên đới trả cho anh Huỳnh Lê Tấn L số tiền vốn vay còn nợ 1.331.633.000 đồng và tiền lãi vay còn nợ tính đến ngày 01/7/2024 số tiền 143.683.000 đồng, tổng cộng là 1.475.316.000đ (Một tỷ bốn trăm bảy mươi lăm triệu ba trăm mười sáu nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, mà bên phải thi hành án chưa thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu trả tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của anh Huỳnh Lê Tấn L về việc yêu cầu anh Lý Phúc D trả tiền thuê nhà, đất và yêu cầu anh D phải bàn giao thửa đất số 317, tờ bản đồ số 9, diện tích 1.692,5m², tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh V cùng tài sản
7
gắn liền với thửa đất là căn nhà cấp 4, diện tích khoảng 85m² (5m x 17m), nền gạch men, vách tường, mái lộp tol xi măng cho anh L.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Anh Lý Phúc D, chị Trương Thị Diễm T1 phải liên đới chịu 56.259.500₫ (Năm mươi sáu triệu hai trăm năm mươi chín nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Anh Huỳnh Lê Tấn L được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 32.429.000 đồng theo biên lai thu số 0004017 ngày 11/3/2024 và 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004226 ngày 05/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.
4. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Minh Thìn |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trần Hồng Vân Nguyễn Văn Minh |
Đỗ Minh Thìn |
8
Bản án số 74/2024/DS-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê nhà, đất
- Số bản án: 74/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê nhà, đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện buộc bên b trả số nợ vay
