Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TRÀ VINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

Bản án số: 74/2024/DS-PT

Ngày 31-5-2024

“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ái Loan

Các Thẩm phán: Ông Ngô Đê

Bà Ngô Thị Kim Châu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Trần Hương Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh tiến hành mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 102/2024/TLPT-DS, ngày 16/4/2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 111/2023/DS-ST ngày 06/12/2023 của Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo, kháng nghị. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐ-PT, ngày 09/5/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Hoàng A, sinh năm 1975 (có mặt)

Địa chỉ: ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1973 (có mặt)

Địa chỉ: ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Trần Thanh B, sinh năm 1975. Địa chỉ: số B đường A, T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh theo văn bản uỷ quyền ngày 17/8/2023 (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Trần Thị P1, sinh năm 1971 (có mặt)

2. Ông Phạm Hoàng G, sinh năm 1980 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

3. Chị Phạm Hoài P2, sinh năm 1994 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp của chị P2: Ông Phạm Hoàng A, sinh năm 1975. Địa chỉ: ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh theo văn bản uỷ quyền ngày 02/11/2020 (có mặt).

4. Chị Lê Thị D, sinh năm 1996 (có mặt)

5. Chị Lê Thị Như H, sinh năm 2001 (vắng mặt)

6. Anh Lê Hiếu T, sinh năm 2007 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện hợp pháp của chị Như H: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1973. Địa chỉ: ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh theo văn bản uỷ quyền ngày 17/3/2021(có mặt).

Người đại diện hợp pháp của anh T: Chị Lê Thị D, sinh năm 1996. Địa chỉ: ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh theo văn bản uỷ quyền ngày 20/11/2023 (có mặt).

7. Ông Lê Văn T1, sinh năm 1968 (có mặt).

Địa chỉ: ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người kháng cáo: Ông Phạm Hoàng A là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Phạm Hoàng A trình bày:

Trước đây gia đình ông có hai lần chuyển nhượng đất vườn cho cha, mẹ của bà P là cụ Nguyễn Văn T2 và cụ Trần Thị D1, cụ thể như sau: Lần thứ nhất: Ngày 04/10/1996, cha ông là cụ Phạm Văn P3 (đã chết), mẹ ông là cụ Nguyễn Thị T3 và ông chuyển nhượng cho cụ Nguyễn Văn T2 và cụ Trần Thị D1 01 công đất (loại công tầm cấy, tầm 2,8 mét tương đương 1.200m²), giá 10 chỉ vàng 24kra. Việc chuyển nhượng giữa hai bên có lập tờ sang nhượng đất vườn ngày 04/10/1996, ông và cha mẹ ông có ký tên vào và có sự xác nhận của chính quyền địa phương xã M, trong tờ sang nhượng này có vẽ sơ đồ phần diện tích đất sang nhượng cho cụ T2, cụ D1 như sau: Hướng Đông có số đo 6,5 tầm giáp đất Huỳnh Thị Kim E và Phạm Văn P3; Hướng Tây có số đo 20 tầm giáp đất Nguyễn Thị T4; Hướng Bắc có số đo 09 tầm giáp đất Huỳnh Văn C; Hướng Nam có số đo 04 tầm giáp bờ lộ đi và đất Phạm Văn P3. Lần chuyển nhượng này do cụ P3 nhận vàng, đất cũng giao cho gia đình cụ T2 sử dụng dụng ngay luôn.

Đến ngày 28/8/1997 âm lịch, cụ P3, cụ T3, ông và vợ ông là Trần Thị P1 chuyển nhượng tiếp cho cụ T2 và cụ D1 diện tích đất 450m² là ngay phần nền nhà có bán kèm theo luôn căn nhà cột cây dầu u, vách lá, mái lá; giá chuyển nhượng là 3.000.000 đồng, số tiền này do ông trực tiếp nhận. Lần chuyển nhượng này hai bên cũng lập tờ sang nhượng đất vườn vợ chồng ông và cha mẹ ông có ký tên vào và có xác nhận của chính quyền địa phương. Phần còn lại là mương và bờ liếp cặp bờ lộ gia đình ông không chuyển nhượng cho phía gia đình bà P. Cả hai lần chuyển nhượng đất đều đo lấy từ đầu trong giáp đất ông Huỳnh Văn C đo trở ra hướng lộ đi. Đối với tờ sang nhượng đất lập ngày 19/7/1997 ông không biết, cũng không có ký tên vào tờ sang nhượng đất này.

Đến năm 2009, cha ông tặng cho ông một thửa đất diện tích 195,2m², tờ bản đồ số 22, thửa 1144, mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh và đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 14/7/2015 cho ông đứng tên. Vị trí thửa đất có tứ cận: Hướng Đông giáp đất bà L; Hướng Tây giáp đất ông Nguyễn Văn N; Hướng Nam giáp Hương lộ C; Hướng Bắc giáp đất bà Nguyễn Thị P. Do ông đi làm ăn xa thời gian gần 10 năm ít về nhà, nên bà P chiếm dụng toàn diện tích đất 195,2m² của ông. Quá trình sử dụng phía bà P đã bơm cát san lắp toàn bộ phần ao và trồng một số cây như chuối, khóm. Ông đã nhiều lần yêu cầu bà P trả lại diện tích đất này nhưng bà P không trả.

Nay ông yêu cầu hộ bà Nguyễn Thị P phải giao trả cho ông toàn bộ diện tích đất theo hiện trạng đo thực tế là 161,1m² thuộc thửa 1144. Đối với phần diện tích chênh lệch 34,1 m² so với đơn khởi kiện ông xin rút lại không yêu cầu giải quyết. Đối với phần cát san lắp ao, cây trồng không di dời được mà phía bà P đã tôn tạo trên đất ông đồng ý bồi hoàn theo giá do nhà nước quy định. Đối với toàn bộ các yêu cầu của bà P thì ông không đồng ý. Ngoài ra, ông không có yêu cầu nào khác.

Theo đơn phản tố các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nguyễn Thị P trình bày:

Ngày 04/10/1996 cha mẹ của bà P là cụ Nguyễn Văn T2 và cụ Trần Thị D1 có chuyển nhượng khu đất của cụ Phạm Văn P3 và cụ Nguyễn Thị T3 cùng con là Phạm Hoàng A, đất có diện tích 1.200m², khu đất có vị trí: Hướng Đông có số đo 6,5 tầm giáp đất Huỳnh Thị Kim E và Phạm Văn P3; Hướng Tây có số đo 20 tầm giáp đất Nguyễn Thị T4; Hướng Bắc có số đo 09 tầm giáp đất Huỳnh Văn C; Hướng Nam có số đo 04 tầm giáp bờ lộ (đường hiện hữu) và đất Phạm Văn P3. Tại giấy mua bán này có thể hiện chữ ký của cụ P3, cụ T3 và ông Hoàng A. Trong giấy mua bán thể hiện phần đất hướng Nam giáp bờ lộ đi (đường đi hiện hữu), do đó một phần thửa đất số 121 tờ bản đồ số 2 diện tích 300m², loại đất CLN tọa lạc tại ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh tồn tại trong bản vẽ này đã được sang nhượng cho cha mẹ bà P. Cụ P3 cùng các thành viên trong gia đình không có quyền mua bán, cho tặng. Đến ngày 27/11/1997 Ủy ban nhân dân xã M đã xác nhận việc sang nhượng phần diện tích đất này thông qua tờ mua bán ngày 04/10/1996 (nhằm ngày 22/8/1996 âm lịch). Sau đó Ủy ban nhân dân xã M tiến hành chứng thực hợp đồng cho tặng vào tháng 04 năm 2009 giữa cụ Phạm Văn P3 cho tặng ông Phạm Hoàng A là trái luật. Bởi một phần thửa đất đã sang nhượng cho gia đình bà P xong mà lại tự ý tặng cho người khác.

Đến ngày 19/7/1997, cha mẹ của bà P tiếp tục sang nhượng của cụ P3, cụ T3 cùng con là Phạm Văn T5, Phạm Hoàng A diện tích đất 400m². Vị trí khu đất là phần tiếp giáp hướng Đông giữa phần đất cha, mẹ bà P sang nhượng vào ngày 04/10/1996 và Huỳnh Thị Kim E; Hướng Bắc giáp phần đất cha, mẹ bà P sang nhượng vào ngày 04/10/1996; hướng Nam giáp đất cụ Phạm Văn P3; Hướng Tây giáp phần đất chuyển nhượng ngày 04/10/1996. Tiếp đến ngày 28/8/1997 (âm lịch), cha mẹ bà P tiếp tục sang nhượng của cụ P3, cụ T3 cùng con là Phạm Hoàng A, Trần Thị P1 diện tích đất 450m², giá 3.000.000 đồng. Vị trí khu đất là phần tiếp giáp hướng Đông giữa phần đất cha, mẹ bà P sang nhượng vào ngày 04/10/1996 và Huỳnh Thị Kim E; Hướng Tây giáp phần đất sang nhượng ngày 04/10/1996; Hướng Bắc giáp phần đất cha, mẹ bà P sang nhượng vào ngày 19/7/1997; hướng Nam giáp lộ hiện hữu (trong đó có một phần thửa đất số 121, tờ bản đồ số 2, diện tích 300m²) loại đất CLN, tọa lạc tại ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Diện tích đất cha, mẹ bà P qua ba lần chuyển nhượng là 2.050m², số diện tích đất này là do đo đạc diện tích thực tế hiện trạng của khu đất, việc này được các nhân chứng tại thời điểm sang nhượng chứng thực. Cả ba lần sang nhượng, gia đình bà P đều nhận đất sử dụng ngay do phía gia đình ông Hoàng A giao. Đến ngày 14/12/2012, cha, mẹ bà P yêu cầu công chứng chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất đã sang nhượng nêu trên cho hộ bà Nguyễn Thị P và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp quyền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Thị P đứng tên; đến ngày 14/7/2015 thực hiện chủ trương của nhà nước được Ủy ban nhân dân huyện C cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Thị P đứng tên và sử dụng đến nay. Quá trình sử dụng đất, bà P có bơm 01 sà lan cát san lấp mương (sà lan loại lớn nhưng không nhớ khối lượng và giá tiền bao nhiêu) và trồng một số loại cây màu như dừa, chuối, khóm,...., dựng hàng rào trụ đá dây kẻm gai nhưng khi Nhà nước làm lộ nhựa đã đốn hết cây dừa. Quá trình bà P sử dụng đất bơm cát san lắp ao, dựng hàng rào, trồng cây phía gia đình ông Hoàng A không có ý kiến.

Với lý do nêu trên, bà P không đồng ý toàn bộ yêu cầu của ông Phạm Hoàng A buộc hộ bà P giao trả diện tích đất theo hiện trạng là 161,1m² thuộc thửa 1144, tọa lạc tại ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Bà P yêu cầu: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Tuyên hủy hợp đồng cho tặng quyền sử dụng đất thửa đất số 121, tờ bản đồ số 2, diện tích 300m² loại đất CLN, tọa lạc tại ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh (do cụ Phạm Văn P3 đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ tặng cho hộ ông Phạm Hoàng A vào tháng 4 năm 2009 do Ủy ban nhân dân xã M); Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1144, tờ bản đồ số 22, diện tích 195,2m², loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho hộ ông Phạm Hoàng A vào ngày 14/7/2015; công nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1144, tờ bản đồ số 22, diện tích 195,2m² (diện tích theo hiện trạng đo đạc 161,1m²) loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh cho bà Nguyễn Thị P được toàn quyền đăng ký, kê khai chỉnh lý biến động; toàn quyền quản lý, sử dụng và đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Bà Trần Thị P1 thống nhất ý kiến về việc tranh chấp như ông Hoàng A trình bày, không có bổ sung thêm.

Ông Lê Văn T1, chị Lê Thị D thống nhất lời trình bày và yêu cầu của bà Nguyễn Thị P, không bổ sung thêm.

Tại bản án số 111/2023/DS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh đã xử:

Đình chỉ giải quyết yêu cầu của ông Phạm Hoàng A về diện tích đất chênh lệch so với đơn khởi kiện ban đầu là 34,1m².

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Hoàng A về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị P trả lại phần đất có diện tích 161,1m² thuộc thửa đất số 1144, tờ bản đồ số 22, loại đất CLN, đất tọa lạc ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P: Vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng thửa đất số 121, tờ bản đồ số 22, diện tích 300m², loại đất CLN, đất tọa lạc ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh giữa cụ Phạm Văn P3, cụ Nguyễn Thị T3 với ông Phạm Hoàng A ngày 22/4/2009 được Ủy ban nhân dân xã M; Hộ bà Nguyễn Thị P, ông Lê Văn T1 được quyền sử dụng phần đất có diện tích 161,1m² thuộc thửa đất số 1144, tờ bản đồ số 22, loại đất CLN, đất tọa lạc ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh cùng toàn bộ tài sản gắn liền với diện tích đất.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về tứ cận phần đất; về cấm làm thay đổi hiện trạng đất tranh chấp, quyền, nghĩa vụ thực hiện thủ tục cấp quyền sử dụng đất, chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 18/12/2023 ông Phạm Hoàng A kháng cáo và ngày 20/12/2023 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long kháng nghị. Nội dung đơn kháng cáo và Quyết định kháng nghị yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm: Sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Nguyễn Thị P phải trả cho ông Phạm Hoàng A toàn bộ diện tích 161,1m² thửa số 1144, tờ bản đồ số 22, loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo, bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh rút quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Ý kiến của Kiểm sát viên:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử và tại phiên toà, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng tại phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Nguồn gốc phần đất tranh chấp của cụ Phạm Văn P3 và cụ Nguyễn Thị T3 (cha mẹ ông Phạm Hoàng A). Dựa vào các giấy tay chuyển nhượng đất: Lần 1 ngày 04/10/1996 có vẽ sơ đồ phần đất chuyển nhượng, trong đó có một phần giáp lộ 04 tầm. Lần chuyển nhượng thứ 2 và lần 3 diện tích 850m² thì cụ P3 lấy phần đất còn lại giáp lộ để chuyển nhượng cho gia đình bà P là hợp lý, vì phần đất phía trong và hai bên đã giáp đất của người khác. Năm 2015 bà P được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thành thửa 162 diện tích 1.664,9m², diện tích giảm so với 03 lần gia đình bà P nhận chuyển nhượng từ cụ P3 (2.050m²). Ông Hoàng A thừa nhận phần đất tranh chấp gia đình bà P sử dụng từ năm 1998 đến nay, ngay thời điểm năm 2009 cha ông tặng cho đất thì bà P vẫn là người sử dụng đất. Trong quá trình sử dụng đất, gia đình bà P đã bơm cát lấp ao nước tiếp giáp một phần lộ giới, trồng chuối và trồng thanh long...ông Hoàng A ở nhà đối diện có biết nhưng không ngăn cản hoặc tranh chấp.

Toà án sơ thẩm có xác minh một số người dân ở địa phương đều cho rằng phần đất tranh chấp là của cụ P3 đã chuyển nhượng cho cụ T2 vào năm 1996, 1997. Trên đất ông Hoàng A có cất một căn nhà lá nhỏ làm tiệm sửa xe và hớt tóc, sau khi chuyển nhượng cho cụ T2 thì ông Hoàng A dở căn nhà lá dời đi nơi khác. Ông Hoàng A cũng thừa nhận trước đây ông có mở tiệm sửa xe trên phần đất tranh chấp, nhưng sau này ông tháo dở, di dời tiệm sửa xe.

Như vậy, việc gia đình bà P sử dụng phần đất tranh chấp ổn định, liên tục từ năm 1998, nhưng năm 2009 cụ P3 tặng cho ông Hoàng A phần đất này và năm 2015 Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 1144 cho ông Phạm Hoàng A là không đúng quy định pháp luật cũng như không đúng đối tượng sử dụng đất. Toà án cấp sơ thẩm tuyên bác yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng A và chấp nhận yêu cầu phản tố của bà P là có cơ sở. Do đó, xét kháng cáo của ông Phạm Hoàng A là không có cơ sở chấp nhận.

Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 111/2023/DS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, đất tranh chấp toạ lạc tại huyện C, tỉnh Trà Vinh nên Toà án nhân dân huyện Càng Long thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại Điều 26 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Tại phiên toà phúc thẩm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh rút toàn bộ quyết định kháng nghị số 04/QĐ-VKS-DS ngày 20/12/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh, nên căn cứ khoản 3 Điều 284 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

[3] Về nội dung vụ án, xét thấy: Cụ Phạm Văn P3 có quyền sử dụng đất đối với thửa 120 diện tích 2050m² và thửa 121 diện tích 300m² tọa lạc tại ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Ngày 04/10/1996 cụ Phạm Văn P3, cụ Nguyễn Thị T3 (cha mẹ ông A) có chuyển nhượng đất cho cụ Nguyễn Văn T2 và cụ Trần Thị D1 (cha mẹ bà P) diện tích đất 1.200m². Việc chuyển nhượng có làm giấy tay sang nhượng đất do ông Nguyễn Minh K viết dùm, trên tờ sang nhượng đất có ghi rõ diện tích chuyển nhượng là 1200m², có vị trí hướng Đông giáp đất bà Huỳnh Thị Kim E, hướng Tây giáp đất bà Nguyễn Thị T4, hướng Nam giáp bờ lộ đất (nay là đường nhựa), hướng Bắc giáp đất ông Huỳnh Văn C, có vẽ sơ đồ phần diện tích đất và có ghi rõ số liệu từng cạnh trên sơ đồ (Bút lục 299), theo đó phần giáp đường đất là 4 tầm, giấy sang nhượng có chữ ký của ông Hoàng A. Tiếp tục trong năm 1997 cụ P3, cụ T3 hai lần chuyển nhượng cho cụ T2, cụ D1 cụ thể tờ sang nhượng ngày 19/7/1997 chuyển nhượng diện tích 400m²; tờ sang nhượng ngày 28/8/1997 chuyển nhượng diện tích đất 450m²; (Bút lục 283-285).

[4] Xét thấy, có cơ sở xác định cụ P3, cụ T3 đã chuyển nhượng toàn bộ hiện trạng đất trong đó có phần đang tranh chấp cho phía cụ T2, cụ D1, thể hiện tại biên bản ghi lời khai ngày 12/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long đối với ông Nguyễn Minh K xác nhận giấy sang nhượng do ông viết và xác định thời điểm đo tầm 2,8m (như vậy phần giáp đường đất (nay là đường nhựa) kích thước 11,2m thuộc thửa 121) (Bl 406). Trên phần đất chuyển nhượng có nhà ở, nhà tạm để hớt tóc, sửa xe của ông Hoàng A, sau ba lần chuyển nhượng đất cho cụ T2, cụ D1 thì ông Hoàng A cũng tháo dỡ nhà ở, nhà tạm (BL 297,297, 398-399). Phần đất nhận chuyển nhượng, cụ T2, cụ D1 đã tặng cho gia đình bà P sử dụng, quá trình sử dụng bà P có bơm cát san lấp ao, trồng chuối, thanh long... khi đó cụ P3, cụ D1 còn sống và đang sống cùng nhà với ông Hoàng A ở đối diện phần đất tranh chấp, có nhìn thấy nhưng cũng không ai ngăn cản hay tranh chấp. Ông Phạm Hoàng C1 là anh ruột ông Hoàng A xác nhận “năm 1996 và 1997 ba mẹ tôi cùng các thành viên trong gia đình đã bán hết hiện trạng đất qua ba lần mua bán tương ứng 2.050m², phía Tây giáp Nguyễn Thị T4, phía Bắc giáp Huỳnh Văn C, phía Đông giáp Huỳnh Thị Kim E, phía Nam giáp đường đi hiện hữu..” (BL 243). Tại biên bản lấy lời khai đối với ông Phạm Hoàng C1 ngày 25/10/2023, ông C1 cũng xác nhận cách đây mười năm ông Hoàng A có nói với ông là cha mẹ đã bán hết đất cho cụ T2, cụ D1, đến thời điểm phát sinh tranh chấp ông Hoàng A nói phần đất này có hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (B1 300, 301). Sau khi xét xử sơ thẩm, do thấy lời khai bất lợi cho ông Hoàng A nên ông C1 đã thay đổi lời khai cho rằng phần đất giáp lộ cụ P3 cho ông Hoàng A, còn phần đất phía trong bán cho ba mẹ bà P (B1 400-401). Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long căn cứ vào lời khai sau của ông C1 để kháng nghị là không khách quan, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên đã rút lại Quyết định kháng nghị nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long.

[5] Tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm ông Hoàng A xác định ngoài phần đất này cụ P3 không còn chuyển nhượng diện tích đất nào khác cho cụ T2, cụ D1, đồng thời ông Hoàng A cũng thừa nhận đất tranh chấp từ năm 1998 cho đến nay gia đình ông không có sử dụng mà do bên bà P sử dụng, không có ai ngăn cản, tranh chấp.

[6] Theo tư liệu địa chính thửa 120 diện tích 2.050m² được cấp đổi thành thửa 162, diện tích 1664,9m², thửa 121 diện tích 300m2 được cấp đổi thành thửa 1144 diện tích 195,2m² (hiện trạng đo đạc 161,1m²), việc giảm diện tích là do chênh lệch giữa hai tư liệu (Bl 240). Tuy nhiên tính tổng cộng diện tích thực đo của cả hai thửa 120, 121 cũng chưa đủ diện tích 2050m² qua ba lần chuyển nhượng theo giấy sang nhượng đất của cụ P3 cho cụ T2.

[7] Như vậy cụ P3 chuyển nhượng cho cụ T2 hết diện tích thực tế của hai thửa 120, 121 vào năm 1996, 1997, nhưng cụ P3 chỉ giao cho cụ T2 một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 120, đến năm 2009 cụ P3 lại làm thủ tục tặng cho thửa số 121 cho ông Hoàng A sau khi đã chuyển nhượng đất cho cụ T2 thể hiện có sự gian dối trong việc chuyển nhượng đất. Việc Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Phạm Hoàng A đối với thửa 121 nhưng không thẩm tra đối tượng sử dụng đất gây ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của bà P.

[8] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy tòa án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Hoàng A, chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị P là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tòa sơ thẩm không công nhận việc thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ P3 với cụ T2 mà công nhận đất cho hộ bà P sẽ gây khó khăn trong công tác thi hành án đối với việc cấp quyền sử dụng đất cho hộ bà P, do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm điều chỉnh lại cách tuyên án cho phù hợp.

[9] Xét thấy ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với quy định pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về án phí: Theo quy định tại Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự: “Đương sự kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm, nếu Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo”. Do Tòa án giữ nguyên bản án sơ thẩm nên người kháng cáo ông Phạm Hoàng A phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Hoàng A; đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Quyết định kháng nghị số 04/QĐ-VKS-DS ngày 20/12/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
  2. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 111/2023/DS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Càng Long.
  3. Đình chỉ giải quyết yêu cầu của ông Phạm Hoàng A về diện tích đất chênh lệch so với đơn khởi kiện ban đầu là 34,1m².
  4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Hoàng A về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị P trả lại phần đất có diện tích 161,1m² thuộc thửa đất số 1144, tờ bản đồ số 22, loại đất CLN, đất tọa lạc ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  5. Công nhận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Phạm Văn P3, cụ Nguyễn Thị T3 với cụ Nguyễn Văn T2, cụ Trần Thị D1 thể hiện qua các giấy tay sang nhượng đất ngày 04/10/1996 diện tích 1.200m², ngày 19/7/1997 diện tích 400m² và ngày 28/8/1997 diện tích đất 450m² tọa lạc ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  6. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P.

    - Tuyên vô hiệu và hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng thửa đất số 121, tờ bản đồ số 22, diện tích 300m², loại đất CLN, tọa lạc ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh giữa cụ Phạm Văn P3, cụ Nguyễn Thị T3 với ông Phạm Hoàng A, được Ủy ban nhân dân xã M ngày 22/4/2009.

    - Hộ bà Nguyễn Thị P, ông Lê Văn T1 được quyền sử dụng phần đất có diện tích 161,1m² thuộc thửa đất số 1144, tờ bản đồ số 22, loại đất CLN, đất tọa lạc ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh cùng toàn bộ tài sản gắn liền với diện tích đất (Kèm theo sơ đồ thửa đất tại Công văn số 33/CN - HCL ngày 18/02/2022 và Công văn số 68/CN - HCL ngày 28/02/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C), có tứ cận như sau:

    • + Hướng Đông giáp thửa 1122 có số đo 8,85m;
    • + Hướng Tây giáp thửa 113 có số đo 4,63m, giáp thửa 162 có số đo 7,67m;
    • + Hướng Nam giáp đường huyện;
    • + Hướng Bắc giáp thửa 162, cạnh có số đo 15,47m và cạnh có số đo 9,14m;
  7. Để đảm bảo đến khi án có hiệu lực pháp luật và thi hành án nghiêm cấm các bên làm thay đổi hiện trạng, mục đích sử dụng đất hoặc hủy hoại đất dưới bất kỳ hình thức nào khi chưa được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền.
  8. Hộ bà Nguyễn Thị P, ông Lê Văn T1 có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký, kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc điều chỉnh cập nhật biến động giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho theo Quyết định của bản án.
  9. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  10. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Hoàng A phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0001315 ngày 18/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long, ông Hoành A1 đã nộp đủ.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - TAND huyện Càng Long;
  • - Chi cục THADS huyện Càng Long;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Ái Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/DS-PT ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 74/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa Phạm Hoàng A với Nguyễn Thị P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger