Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 74/2023/HS-PT

Ngày: 19/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;

Các Thẩm phán: Ông Lê Ngọc Minh và ông Nguyễn Việt Hùng.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký viên, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên Trung cấp.

Ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 72/2023/TLPT-HS ngày 31 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Thị Thùy N và đồng phạm; do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Thùy N, Lê Văn L, Hà Thị Bảo Q, Nguyễn Thị Minh N1, Lê Thị T, Võ Thi T1, Nguyễn Huỳnh Hương T2 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2023/HSST ngày 20/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Thị Thùy N, sinh năm 1976; tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn C, huyện S, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Tạp vụ; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; con ông Nguyễn Xuân Hợp E, sinh năm 1949 (chết) và bà Trần Thị H, sinh năm 1950; có chồng Đào Công T3, sinh năm 1974 và 02 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự. Không; tạm giam từ ngày 25/8/2022 đến ngày 13/01/2023 thay đổi biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; bắt tạm giam từ ngày 22/8/2023 đến nay tại Nhà Tạm giữ Công an huyện S, tỉnh Phú Yên; có mặt.

- Người bào chữa của bị cáo Nguyễn Thị Thùy N: Ông Lê Minh C – Luật sư, Văn phòng L3, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh P; có mặt.

2. Lê Văn L (Tên gọi khác: L1), sinh năm 1984; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn C, huyện S, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; con ông Lê Đ, sinh năm 1951 và bà Diệp Thị N2, sinh năm 1954; có vợ Trần Thị Ngọc T4, sinh năm 1992 và 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 23/02/2022 bị Công an huyện S, tỉnh Phú Yên xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, nộp phạt ngày 23/02/2022; nhân thân: Ngày 08/7/2016 bị Công an huyện S, tỉnh Phú Yên xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, nộp phạt ngày 11/8/2017; tạm giam từ ngày 25/8/2022 đến ngày 23/12/2022 được thay đổi biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại; có mặt.

3. Hà Thị Bảo Q, sinh năm 1986; tại tỉnh Gia Lai. Nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn C, huyện S, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nữ; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; con ông Hà Văn D, sinh năm 1959 và bà Đinh Thị G, sinh năm 1960; có chồng Đỗ Nhật T5, sinh năm 1979 và 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

4. Nguyễn Huỳnh Hương T2, sinh năm 1987; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; con ông Nguyễn Đức T6, sinh năm 1950 và bà Huỳnh Thị Bạch H1, sinh năm 1957; có chồng Nguyễn Văn H2, sinh năm 1985 và 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

5. Lê Thị T, sinh năm 1987; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Khu phố Đ, thị trấn C, huyện S, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; con ông Lê Văn T7, sinh năm 1958 và bà Trương Thị T8, sinh năm 1963; có chồng Phạm Bá L2, sinh năm 1981 và 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; vắng mặt.

6. Võ Thi T1, sinh năm 1985; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; con ông Võ S, sinh năm 1946 và bà Huỳnh Thị Đ1, sinh năm 1949; có chồng Trần Thanh N3, sinh năm 1984 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự. Không; bị cáo tại ngoại; vắng mặt.

7. Nguyễn Thị Minh N1, sinh năm 1975; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn C, huyện S, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; con ông Nguyễn B, sinh năm 1952 (chết) và bà Ngô Thị T9, sinh năm 1953; có chồng Mai Văn D1, sinh năm 1967 và 01 con, sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

Vụ án còn có bị cáo Huỳnh Thị Ái H3, Phan Đình P, Nguyễn Thị Mỹ H4, Nguyễn Văn M nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian từ ngày 22 đến ngày 24/8/2022, tại thị trấn C, huyện S, tỉnh Phú Yên, Nguyễn Thị Thùy N đã tổ chức đánh bạc, đánh bạc bằng hình thức số đề thông qua việc giao cho Lê Văn L, Huỳnh Thị Ái H3, Hà Thị Bảo Q (thư ký đề) bán đề và nhận tịch đề rồi chuyển lại cho N qua số thuê bao: 0823.302.872 và tài khoản mạng xã hội Zalo tên “Phố Núi” của N. Việc thắng thua dựa vào kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Phú Yên, Đắk Lắk, Khánh Hòa. Người mua đề số 02 chân, là mua 02 số cuối của giải tự chọn, hoặc bao lô từ giải tám đến giải đặc biệt, tỷ lệ thắng 01 được 70. Người mua đề số 03 chân, là mua 03 số cuối của giải tự chọn, hoặc bao lô từ giải bảy đến giải đặc biệt, tỷ lệ thắng 01 được 600. Người mua số đá, là mua ít nhất 01 cặp số 02 chân từ giải tám đến giải đặc biệt, tỷ lệ thắng 01 được 600. Nhơn nhận 70% tổng số tiền bán đề, còn lại 30% N trích lại cho người bán đề và người mua đề. (Tùy thuộc vào người bán đề có thể thu lợi 01% hoặc hơn do người bán đề quy định, người mua đề được 30% chỉ đóng 70% số tiền mua đề, số lô, số đá). Nếu sau khi có kết quả xổ số kiến thiết mà tịch đề của người bán đề giao N không có số trúng thì người bán đề sẽ được N trích 05% từ tổng số tiền mà người bán đề giao cho N hoặc nếu số tiền trúng đề ít hơn tổng số tiền mà người bán đề giao cho N thì sau khi trừ tiền trúng đề N sẽ trích 05% từ số tiền còn lại cho người bán đề (đây gọi là tiền bão).

Lúc 17 giờ 40 phút ngày 24/8/2022, tại khu phố T, thị trấn C và thôn T, xã S, huyện S, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S bắt quả tang đối với Lê Văn L và Huỳnh Thị Ái H3 đang tổng hợp các tịch đề. Đến 17 giờ 50 phút, cùng ngày bắt quả tang đối với Hà Thị Bảo Q đang tổng hợp tịch đề. Đến 18 giờ 50 phút, cùng ngày tại khu phố T, thị trấn C, huyện S Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục bắt quả tang Nguyễn Thị Thùy N đang tổng hợp các tịch đề của người bán đề giao. Quá trình điều tra đã xác định:

- Ngày 24/8/2022, theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Khánh Hòa:

Lê Văn L nhận các tịch đề của Phan Văn N4, Huỳnh Tiến Q1, và người có tên P1 (T10), T11 (H1) không rõ họ, địa chỉ rồi tổng hợp vào thành tịch đề chung, L dùng điện thoại chụp lại tịch đề đã tổng hợp, sử dụng zalo có tên “Lam” của L gửi ảnh tịch đề chung đến zalo có tên “ Phố Núi" của N. Tổng số tiền đánh bạc 31.705.000 đồng (tiền bán đề 19.105.000 đồng, tiền trúng đề 12.600.000 đồng). L thu lợi bất chính 364.000 đồng, N thu lợi bất chính 777.000 đồng.

Huỳnh Thị Ái H3 bán đề cho Lê Thị Thu H5, Ngô Thị T12, Phạm Thị T13, Huỳnh Thị Ái C1, Nguyễn Thanh H6, Nguyễn Minh T14, Nguyễn Văn N5 và 02 người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ, rồi tổng hợp vào thành tịch đề chung. H3 dùng điện thoại chụp lại tịch đề đã tổng hợp, sử dụng zalo có tên “Ái hằng" của H3 gửi ảnh tịch đề chung đến zalo “Phố Núi" của N. Tổng số tiền đánh bạc 19.150.000 đồng (số tiền bán đề 7.350.000 đồng, tiền trúng đề 11.800.000 đồng). H3 thu lợi bất chính 317.000 đồng.

Hà Thị Bảo Q bán đề cho Phan Đình P số tiền 4.138.000 đồng. Q chọn giữ lại một số con số trong tịch đề của P số tiền là 221.200 đồng để thắng thua với P, số còn lại Q ghi thêm 2.869.800 đồng rồi Q sử dụng zalo có tên "Bảo Quyên" của Q gửi tịch đề đến zalo “Phố Núi” của N. Tổng số tiền đánh bạc 3.091.000 đồng. Kết quả xổ số, tịch đề của P trúng số tiền 2.450.000 đồng. Tổng số tiền P đánh bạc với Q 6.588.000 đồng. Tổng số tiền Q đánh bạc Nhơn 3.091.000 đồng. Q thu lợi bất chính 469.000 đồng. N thu lợi bất chính 2.174.200 đồng.

Nguyễn Thị Thùy N bán đề cho Nguyễn Thị Minh N1 số tiền 6.920.000 đồng. Nguyệt trúng đề số tiền 12.250.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc 19.170.000 đồng. N1 thu lợi bất chính 7.404.600 đồng.

Nguyễn Thị Thùy N bán đề cho Lê Thị T số tiền 5.022.000 đồng. T trúng đề với số tiền 3.675.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc 8.697.000 đồng. T thu lợi bất chính 116.200 đồng.

Nguyễn Thị Thùy N bán đề cho Võ Thi T1 số tiền 19.253.000 đồng. T1 trúng đề số tiền 10.500.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc 29.753.000 đồng. N thu lợi bất chính 2.982.000 đồng.

Nguyễn Thị Thùy N bán đề cho Nguyễn Văn M (có một tiền sự về hành vi Đánh bạc) số tiền 1.260.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc 1.260.000 đồng. N thu lợi bất chính 882.000 đồng.

Nguyễn Thị Thùy N bán đề cho Nguyễn Thị Mỹ H4 số tiền 2.340.000 đồng, H4 trúng đề số tiền 700.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc 3.040.000 đồng. N thu lợi bất chính 938.000 đồng.

Nguyễn Thị Thùy N bán đề cho Nguyễn Huỳnh Hương T2 số tiền 481.000 đồng. Thư trúng đề số tiền 210.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc 691.000 đồng. N thu lợi bất chính 271.000 đồng.

Nguyễn Thị Thùy N bán đề cho Nguyễn Thị H4 số tiền 800.000 đồng. N thu lợi bất chính 800.000 đồng.

Nguyễn Thị Thùy N bán đề cho Nguyễn Thị Minh H7 số tiền 480.000 đồng. N thu lợi bất chính 480.000 đồng.

Nguyễn Thị Thùy N bán đề cho Nguyễn Thị Bích N6 số tiền 2.340.000 đồng. N6 trúng đề số tiền 1.200.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc 3.540.000 đồng. N thu lợi bất chính 463.200 đồng.

- Ngày 23/8/2022, theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Đăk Lăk:

Lê Văn L nhận các tịch đề của người có tên P1, T11 không rõ họ, địa chỉ rồi tổng hợp thành tịch đề chung. L chụp và gửi ảnh tịch đề chung cho N số tiền 30.065.000 đồng (số tiền bán đề 19.565.000 đồng, tiền trúng đề 10.500.000 đồng). L thu lợi bất chính 474.750 đồng, N thu lợi bất chính 3.199.000 đồng.

Huỳnh Thị Ái H3 bán đề cho một số người không rõ họ tên, địa chỉ rồi tổng hợp lại thành tịch đề chung, chụp và gửi ảnh tịch đề chung cho N, số tiền 10.357.000 đồng (tiền bán đề 9.237.000 đồng tiền trúng đề 1.120.000 đồng). H3 thu lợi bất chính 863.110 đồng, N thu lợi bất chính 5.366.200 đồng.

Hà Thị Bảo Q bán đề cho Phan Đình P số tiền 2.781.000 đồng, sau đó Q chọn một số con số trong tịch đề của P số tiền 492.000 đồng để thắng thua với P, số còn lại Q ghi thêm 5.228.000 đồng rồi Q gửi tịch đề cho N số tiền 5.720.000 đồng. Kết quả xổ số, tịch đề của P trúng 1.610.000 đồng. Tổng số tiền P đánh bạc với Q 4.391.000 đồng. Q hưởng lợi 347.200 đồng. Đối với tịch đề Q gửi cho N thì Q trúng đề 5.600.000 đồng. Tổng số tiền Q đánh bạc với N 11.320.000 đồng. Q thu lợi bất chính 917.700 đồng.

Nguyễn Thị Thùy N, bán đề cho Nguyễn Thị Minh N1 số tiền 3.306.000 đồng. Nguyệt trúng đề số tiền 1.050.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc 4.356.000 đồng. N thu lợi bất chính 1.264.200 đồng.

Nguyễn Thị Thùy N bán đề cho Lê Thị T số tiền 5.602.000 đồng. T trúng đề số tiền 805.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc 6.407.000 đồng N thu lợi bất chính 3.119.200 đồng.

Nguyễn Thị Thùy N bán đề cho Võ Thi T1 số tiền 23.587.500 đồng. T1 trúng đề số tiền 1.260.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc 24.847.500 đồng. N thu lợi bất chính 15.264.900 đồng.

Nguyễn Thị Thùy N bán đề cho Nguyễn Huỳnh Hương T2 số tiền 9.377.000 đồng, T2 trúng đề số tiền 14.770.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc 24.174.000 đồng. T2 thu lợi bất chính 8.205.400 đồng.

Nguyễn Thị Thùy N bán đề cho Nguyễn Thị Mỹ H4 số tiền 3.170.000 đồng, H4 trúng đề số tiền 2.800.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc 5.970.000 đồng. H4 thu lợi bất chính 550.400 đồng.

Nguyễn Thị Thùy N bán đề cho Nguyễn Văn M (có một tiền sự về hành vi Đánh bạc) số tiền 281.000 đồng. N thu lợi bất chính 200.000 đồng.

Nguyễn Thị Thùy N bán đề cho Nguyễn Thị Minh H7 số tiền đánh bạc là 1.281.000 đồng. N thu lợi bất chính 1.119.000 đồng.

Nguyễn Thị Thùy N bán đề cho Nguyễn Thị Bích N6 số tiền 1.445.000 đồng, N6 trúng đề số tiền 490.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc 1.935.000 đồng. N thu lợi bất chính 521.500 đồng.

- Ngày 22/8/2022, theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Phú Yên:

Lê Văn L nhận các tịch đề của người có tên P1, T11 không rõ họ, địa chỉ rồi tổng hợp thành tịch đề chung. L chụp và gửi ảnh tịch đề chung cho N số tiền 27.725.000 đồng (tiền bán đề 19.325.000 đồng, tiền trúng đề 8.400.000 đồng). L thu lợi bất chính 635.050 đồng, N thu lợi bất chính 5.145.000 đồng.

Huỳnh Thị Ái H3 bán đề cho một số người không rõ họ tên, địa chỉ. H3 tổng hợp lại thành tịch đề chung rồi chụp, gửi ảnh tịch đề chung cho N số tiền đánh bạc 3.931.000 đồng. H3 thu lợi bất chính 362.270 đồng, N thu lợi bất chính 2.773.400 đồng.

Nguyễn Thị Thùy N bán đề cho Hà Thị Bảo Q số tiền 3.300.000 đồng, Q trúng đề 4.200.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc 7.500.000 đồng. Q thu lợi bất chính 1.869.000 đồng.

Nguyễn Thị Thùy N bán đề cho Nguyễn Thị Minh N1 số tiền 6.329.000 đồng, N1 trúng đề số tiền 13.300.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc 19.629.000 đồng, N1 thu lợi bất chính 8.859.200 đồng.

Nguyễn Thị Thùy N bán đề cho Võ Thi T1 số tiền 19.123.000 đồng. T1 trúng đề số tiền 18.200.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc 37.323.000 đồng. T1 thu lợi bất chính 4.802.000 đồng.

Nguyễn Thị Thùy N bán đề cho Nguyễn Huỳnh Hương T2 số tiền 11.011.000 đồng, T2 trúng đề số tiền 4.970.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc 15.981.000 đồng, N thu lợi bất chính 2.739.100 đồng.

Nguyễn Thị Thùy N bán đề cho Nguyễn Thị Mỹ H4 số tiền 1.031.000 đồng, H4 trúng đề số tiền 700.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc 1.731.000 đồng, N thu lợi bất chính 42.800 đồng.

Nguyễn Thị Thùy N bán đề cho Nguyễn Thị Minh H7 số tiền 1.509.000 đồng, H7 trúng đề số tiền 2.800.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc 4.309.000 đồng, H7 thu lợi bất chính 1.399.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2023/HS-ST ngày 20/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên đã tuyên:

Bị cáo Nguyễn Thị Thùy N phạm tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc”. Áp dụng Điểm b, khoản 2, 3 Điều 321; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy N 03 (ba) năm tù về tội Đánh bạc. Phạt bổ sung 20.000.000 đồng. Áp dụng Điểm a, c Khoản 1, Khoản 3 Điều 322; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy N 01 (một) năm tù về tội Tổ chức đánh bạc. Phạt bổ sung 25.000.000 đồng. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự; tổng hợp hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thùy N phải chấp hành hình phạt chung 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/8/2023, nhưng được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 25/8/2022 đến ngày 09/01/2023. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Thùy N tổng cộng 45.000.000 đồng.

Bị cáo Lê Văn L phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. Áp dụng Điểm c Khoản 1, Khoản 3 Điều 322; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; phạt bị cáo Lê Văn L 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 25/8/2022 đến ngày 23/12/2022. Phạt bổ sung bị cáo Lê Văn L 25.000.000 đồng.

Các bị cáo Hà Thị Bảo Q, Nguyễn Thị Minh N1, Lê Thị T, Võ Thị T1, Nguyễn Huỳnh Hương T2 phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng Khoản 1, K 3 Điều 321; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; phạt:

Bị cáo Lê Thị T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo Lê Thị T 15.000.000 đồng.

Bị cáo Võ Thị T1 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo Võ Thi T1 15.000.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Thị Minh N1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Minh N1 15.000.000 đồng.

Bị cáo Hà Thị Bảo Q 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo Hà Thị Bảo Q 15.000.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Huỳnh Hương T2 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Huỳnh Hương T2 15.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn phạt các bị cáo Huỳnh Thị Ái H3, Nguyễn Văn M mỗi bị cáo 06 (sáu) tháng tù; phạt các bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H4, Phan Đình P mỗi bị cáo 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo; phạt bổ sung các bị cáo H3, H4, P mỗi bị cáo 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng). Tuyên về chế định án treo, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 25/9/2023, bị cáo Nguyễn Thị Thùy N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 27/9/2023, các bị cáo Hà Thị Bảo Q, Nguyễn Huỳnh Hương T2, Võ Thị T15 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

Ngày 28/9/2023, bị cáo Lê Văn L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

Ngày 02/10/2023, bị cáo Nguyễn Thị Minh N1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

Ngày 03/10/2023, bị cáo Lê Thị T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

Tại phiên tòa,

+ Các bị cáo Nguyễn Thị Thùy N, Lê Văn L, Hà Thị Bảo Q, Nguyễn Thị Minh N1, Lê Thị T16, Võ Thị T15, Nguyễn Huỳnh Hương T2 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ đã tuyên.

+ Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Áp dụng Điểm c, Khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự; xét xử vắng mặt các bị cáo Lê Thị T, Võ Thị T1.

Áp dụng Điểm c, Khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng của bị cáo Nguyễn Thị Thùy N, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với tội “Đánh bạc”, theo hướng phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; Giữ nguyên hình phạt về tội “Tổ chức đánh bạc” đối với bị cáo N.

Áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng của các bị cáo Lê Văn L, Hà Thị Bảo Q, Nguyễn Thị Minh N1, Lê Thi T16, Võ Thi T1, Nguyễn Huỳnh Hương T2, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm đối với các bị cáo.

+ Người bào chữa của bị cáo Nguyễn Thị Thùy N, thống nhất ý kiến của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Các bị cáo nói lời sau cùng, xin được pháp luật khoan hồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 06/12/2023 Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm để xem xét yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Thùy N, Lê Văn L, Hà Thị Bảo Q, Nguyễn Thị Minh N1, Lê Thị T, Võ Thị T1, Nguyễn Huỳnh Hương T2; nhưng trước khi mở phiên tòa, các bị cáo Hà Thị Bảo Q, Nguyễn Thị Minh N1, Lê Thị T, Võ Thi T1, Nguyễn Huỳnh Hương T2 đều có đơn xin hoãn phiên tòa để nhờ người bào chữa, nên Tòa án đã quyết định hoãn phiên tòa và ấn định thời gian xét xử lại vụ án vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 19/12/2023. Mặc dù, đã được tống đạt hợp lệ nhưng các bị cáo Lê Thị T, Võ Thi T1 lại tiếp tục vắng mặt và đều cung cấp giấy mới nhập viện vào buổi trưa ngày 19/12/2023 để điều trị bệnh đau đầu, tăng huyết áp. Xét sự vắng mặt của các bị cáo Lê Thị T, Võ Thị T1 không gây trở ngại cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên tiến hành xét xử vụ án theo Điểm c, Khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Trong thời gian từ ngày 22 đến ngày 24/8/2022, tại thị trấn C, huyện S, Nguyễn Thị Thùy N đã tổ chức đánh bạc, đánh bạc bằng hình thức số đề. Lê Văn L giúp N, dựa vào kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh Phú Yên, Đắk Lắk, Khánh Hòa. Nhơn đã tổ chức đánh bạc 03 lần với tổng số tiền 137.070.000 đồng, thu lợi bất chính 9.700.500 đồng.

Lê Văn L bán đề rồi giao tịch đề cho N 03 lần với tổng số tiền là 89.495.000 đồng, thu lợi bất chính 1.473.800 đồng; Huỳnh Thị Ái H3 bán đề rồi giao tịch đề cho N 02 lần với tổng số tiền 33.438.000 đồng, thu lợi bất chính 8.185.680 đồng; Hà Thị Bảo Q bán đề rồi giao tịch đề cho N 01 lần với tổng số tiền 14.411.000 đồng, thu lợi bất chính 1.733.700 đồng.

Ngoài hành vi tổ chức đánh bạc Nguyễn Thị Thùy N còn tham gia đánh bạc 03 lần với tổng số tiền 199.451.500 đồng, gồm: Ngày 22/8/2022 N đánh bạc với Hà Thị Bảo Q, Nguyễn Thị Minh N1, Nguyễn Huỳnh Hương T2, Võ Thị T1 với tổng số tiền là 80.433.000 đồng. Ngày 23/8/2022 N đánh bạc với Lê Thị T, Võ Thị T15, Nguyễn Huỳnh Hương T2, Nguyễn Thị Mỹ H4, Nguyễn Văn M với tổng số tiền là 61.398.500 đồng. Ngày 24/8/2022 N đánh bạc với Nguyễn Thị Minh N1, Lê Thị T, Võ Thị T15 với tổng số tiền là 57.620.000 đồng. N1 thu lợi bất chính 16.263.800 đồng; T thu lợi bất chính 116.200 đồng; T15 thu lợi bất chính 4.802.000 đồng; T2 thu lợi bất chính 8.205.400 đồng; H4 thu lợi bất chính 560.000 đồng; N thu lợi 55.300 đồng.

Ngày 24/8/2023 Hà Thị Bảo Q bán tịch đề cho Phan Đình P 01 lần với số tiền 10.979.000 đồng, thu lợi bất chính 1.869.200 đồng. Tổng cộng Q thu lợi bất chính trong việc đánh bạc với N và P 3.602.900 đồng.

Do đó, cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Thị Thùy N về tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc” theo Điểm b, Khoản 2 Điều 321; Điểm a, c Khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; bị cáo Lê Văn L về tội “Tổ chức đánh bạc” theo Điểm c, Khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Huỳnh Thị Ái H3, Hà Thị Bảo Q, Phan Đình P, Lê Thị T, Võ Thi T1, Nguyễn Thị Minh N1, Nguyễn Huỳnh Hương T2, Nguyễn Thị Mỹ H4, Nguyễn Văn M về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[3] Hành vi của các bị cáo không chỉ xâm phạm đến nếp sống văn minh, trật tự công cộng; mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an – an toàn xã hội tại địa phương, nên cần xử phạt nghiêm. Mặc dù, tại cấp phúc thẩm các bị cáo cung cấp tài liệu chứng minh đã nộp tiền phạt bổ sung, án phí hình sự sơ thẩm. Nhưng khi lượng hình án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, xem xét nhân thân, cũng như áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà từng bị cáo được hưởng để quyết định hình phạt tù, đồng thời không cho các bị cáo hưởng án treo là phù hợp. Do đó, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Văn L, Hà Thị Bảo Q, Nguyễn Thị Minh N1, Lê Thị T, Võ Thi T1, Nguyễn Huỳnh Hương T2 là có căn cứ chấp nhận.

Đối với bị cáo Nguyễn Thị Thùy N: Trong 03 ngày 22, 23, 24/8/2022 đã tổ chức đánh bạc 03 lần với tổng số tiền 137.070.000 đồng (lần 1: 31.656.000 đồng, lần 2: 51.472.000 đồng; lần 3: 53.946.000 đồng và cho 12 người). Chịu trách nhiệm đồng phạm về hành vi đánh bạc 03 lần với tổng số tiền 199.451.500 đồng, thu lợi bất chính 9.755.800 đồng, nên thuộc trường hợp cần xử lý nghiêm minh.

Tuy nhiên, ngay sau khi vụ án bị phát hiện, bị cáo N đã khai báo chi tiết địa chỉ, tên, Z sử dụng của từng bị cáo tham gia đánh đề, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc điều tra, giải quyết nhanh chóng vụ án, nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm t, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

Về hình phạt của tội “Tổ chức đánh bạc”, tuy bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm t, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng bị cáo phạm tội từ hai lần trở lên và tội phạm có khung hình phạt từ 01 năm tù đến 05 năm tù, nên cấp sơ thẩm phạt bị cáo 01 năm tù là không nặng. Do đó, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với tội “Tổ chức đánh bạc” là có căn cứ chấp nhận.

Về hình phạt của tội “Đánh bạc”, mục đích của bị cáo là đứng ra tổ chức đánh bạc, nhận các tịch đề của cấp dưới chuyển đến, tuy nhiên những lần mà cấp dưới chuyển tịch đề có số tiền dưới 20 triệu đồng và dưới 10 người đánh đề thì không cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc”, nhưng phải chịu trách nhiệm hình sự đồng phạm về tội “Đánh bạc”, nên cần lượng hình cho tương xứng. Bản thân bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngay sau khi vụ án bị phát hiên đã tự nguyện nộp toàn bộ số tiền thu lợi bất chính, có cha chồng ông Đào Thành B1 là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất. Tại cấp phúc thẩm cung cấp tài liệu chứng minh đã tác động gia đình nộp 45.000.000 đồng tiền phạt bổ sung (20.000.000 đồng về tội đánh bạc và 25.000.000đồng về tội tổ chức đánh bạc) và 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm; mặt khác bị cáo còn được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại Điểm t, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có tình tiết mới phát sinh trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, nên Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, đồng thời giảm cho bị cáo một phần hình phạt là có căn cứ chấp nhận.

[4] Bị cáo Nguyễn Thị Thùy N kháng cáo được chấp nhận không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; các bị cáo Lê Văn L, Hà Thị Bảo Q, Nguyễn Thị Minh N1, Lê Thị T, Võ Thị T1, Nguyễn Huỳnh Hương T2 kháng cáo không được chấp nhận, nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm c, Khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, đối với việc vắng mặt của các bị cáo Lê Thị T, Võ Thị T1;

Căn cứ Điểm c, Khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Chấp nhận kháng cáo – Sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị Thùy N;

Căn cứ Điểm a, Khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo Lê Văn L, Hà Thị Bảo Q, Nguyễn Thị Minh N1, Lê Thị T, Võ Thị T1, Nguyễn Huỳnh Hương T2.

1. Về Hình phạt:

Tuyên bố:

- Bị cáo Nguyễn Thị Thùy N phạm tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc”.

1.1. Áp dụng Điểm b, khoản 2, 3 Điều 321; Điểm s, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm g, Khoản 1 Điều 52; Điều 54 Bộ luật Hình sự; phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Đánh bạc. Phạt bổ sung 20.000.000 đồng. Áp dụng Điểm a, c Khoản 1, Khoản 3 Điều 322; Điểm s, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy N 01 (một) năm tù về tội Tổ chức đánh bạc. Phạt bổ sung 25.000.000 đồng. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự; tổng hợp hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thùy N phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/8/2023, nhưng được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 25/8/2022 đến ngày 13/01/2023. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Thùy N tổng cộng 45.000.000₫ (Bốn mươi lăm triệu đồng); bị cáo đã nộp đủ tại Biên lai số 0001363 ngày 21/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Bị cáo Lê Văn L phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

1.2. Áp dụng Điểm c Khoản 1, Khoản 3 Điều 322; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; phạt bị cáo Lê Văn L 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 25/8/2022 đến ngày 23/12/2022. Phạt bổ sung bị cáo Lê Văn L 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng); bị cáo đã nộp đủ tại Biên lai số 0001367 ngày 01/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Các bị cáo Hà Thị Bảo Q, Nguyễn Thị Minh N1, Lê Thị T, Võ Thị T1, Nguyễn Huỳnh Hương T2 phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng Khoản 1, K 3 Điều 321; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; phạt:

1.3. Bị cáo Lê Thị T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo Lê Thị T 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng); bị cáo đã nộp đủ tại Biên lai số 0001368 ngày 05/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.

1.4. Bị cáo Võ Thi T1 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo Võ Thi T1 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng); bị cáo đã nộp đủ tại Biên lai số 0001371 ngày 07/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.

1.5. Bị cáo Nguyễn Thị Minh N1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Minh N1 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng); bị cáo đã nộp đủ tại Biên lai số 0001372 ngày 08/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.

1.6. Bị cáo Hà Thị Bảo Q 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo Hà Thị Bảo Q 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng); bị cáo đã nộp đủ tại Biên lai số 0001370 ngày 07/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.

1.7. Bị cáo Nguyễn Huỳnh Hương T2 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Huỳnh Hương T2 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng); bị cáo đã nộp đủ tại Biên lai số 0001369 ngày 07/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.

2. Về án phí:

Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo Nguyễn Thị Thùy N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các bị cáo Lê Văn L, Hà Thị Bảo Q, Nguyễn Thị Minh N1, Lê Thị T, Võ Thi T1, Nguyễn Huỳnh Hương T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

– CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Minh

Nguyễn Việt Hùng

Võ Nguyên Tùng

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - TAND h. Sơn Hòa (2);
  • - NTG Công an h. Sơn Hòa (02 bản – giao be Nhơn 1 bản)
  • - CQ CSĐT Công an h. Sơn Hòa;
  • - VKSND h. Sơn Hòa;
  • - CQ THTT, P. KTNV- THAHS; Bị cáo, NTGTT, Lưu THS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Nguyên Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2023/HS-PT ngày 19/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự phúc thẩm (về tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc)

  • Số bản án: 74/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (về tội Đánh bạc và Tổ chức đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BẢN ẢN - HSPT - N và đồng phạm - TCĐB và ĐB - CT TÙNG
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger