TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 74/2023/HC-ST Ngày: 05/12/2023 V/v khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Minh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Công Trí và ông Nguyễn Hồng Thái.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thái – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Đẳng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2023 Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai tại 02 điểm cầu (Điểm cầu trung tâm – Trụ sở TAND tỉnh Phú Yên và điểm cầu thành phần – Trụ sở UBND thành phố T) đối với vụ án hành chính thụ lý số 27/2023/TLST-HC ngày 27 tháng 04 năm 2023 về “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2023/QĐXXST-HC ngày 19 tháng 10 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 651/2023/QĐST-HC ngày 31 tháng 10 năm 2023 và Thông báo số 708/2023/TB-HC ngày 16 tháng 11 năm 2023 của TAND tỉnh Phú Yên, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Vợ chồng ông Lê Xuân T– sinh năm 1962, bà Nguyễn Thị Như M – sinh năm 1967; Địa chỉ: 1 L, phường A, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Bà Phạm Bảo T1 – sinh năm 1986; địa chỉ: B N, phường D, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Người bị kiện:
- Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho UBND thành phố T: Bà Nguyễn Thị Bích D – Phó Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T. Có mặt.
- Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P. Vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Sở Tài chính tỉnh P; Vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân phường A, thành phố T, tỉnh Phú Yên;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T2 – Chủ tịch UBND thành phố T. Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quốc N – Công chức địa chính. Có mặt.
- Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Nguyễn Hải L – Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T. Có mặt.
- Ông Tôn Thất Tuy Ư– sinh năm 1936 (chết), bà Trương Thị C – sinh năm 1941; địa chỉ: 0 L, phường A, thành phố T, tỉnh Phú Yên;
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Tôn Thất Tuy U: Bà Trương Thị C – sinh năm 1941, Anh Tôn Thất T3 – sinh năm 1968, chị Tôn Nữ Tuyết T4 – sinh năm 1973; cùng trú tại: 0 L, phường A, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người khởi kiện, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện thống nhất trình bày:
Vợ chồng tôi và vợ chồng ông Tôn Thất Tuy Ư trước đây đều là những người thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước căn nhà tại 1 L, phường A, Tp .. Lúc đó đây là căn nhà chia làm 03 gian cho 03 gia đình khác nhau thuê ở.
Đến năm 2006, tôi được mua lại nhà hóa giá Nhà nước và được U cấp GCNQSDĐ số AC 616865, với diện tích đất là: 111,7m2 (một phần nhà đất đang thuê tại 1 L, phường A).
Năm 2006, hộ ông Tôn Thất Tuy Ư cũng được ký hợp đồng mua nhà hóa giá Nhà nước với diện tích nhà là 42,24m2 (theo hiện trạng đang thuê), diện tích đất là 100m2 nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn nên ngày 03/6/2010, vợ chồng ông U mới thỏa thuận chuyển nhượng lại cho vợ chồng tôi khoảng 60m2 phần đất còn lại phía sau; chỉ sử dụng hiện trạng nhà đất khoảng 40m². Hộ ông Ư đến nay vẫn chưa được cấp GCNQSDĐ.
Ngày 22/9/2022, vợ chồng tôi làm thủ tục xin cấp GCNQSDĐ cho hiện trạng đang quản lý sử dụng gồm diện tích trước đó đã được cấp sổ đỏ và diện tích nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông U năm 2010. UBND phường A đã thực hiện việc niêm yết công khai theo quy định pháp luật và đề nghị cấp GCNQSDĐ cho vợ chồng tôi theo đúng hiện trạng đang quản lý sử dụng. Tuy nhiên, đến ngày 20/2/2023, Chi nhánh V ban hành công văn số 182 trả hồ sơ đăng ký cấp GCNQSDĐ lại cho vợ chồng tôi với lý do: “mảnh trích đo thể hiện thửa đất số 34 đang sử dụng chồng lên một phần diện tích phía bắc của thửa đất 34a, dẫn đến thay đổi ranh giới phía bắc, không còn giáp đường đi như GCNQSDĐ số AC 616865” và vì: “trường hợp chuyển đổi đất giữa vợ chồng ông Lê Xuân T (đã được cấp giấy chứng nhận) và vợ chồng ông Tôn Thất Tuy Ư (chưa được cấp giấy chứng nhận) là không đủ điều kiện để chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai Tp. Tuy Hòa giải quyết hồ sơ theo quy định pháp luật”.
Sau khi nhận được công văn này, chúng tôi có liên hệ cán bộ phụ trách hồ sơ để tìm hiểu thông tin thì mới biết được trước đây vợ chồng tôi được cấp GCNQSDĐ và bản vẽ mặt bằng đính kèm hồ sơ hóa giá nhà của chúng tôi có mặt tiền giáp đường hẻm Lê Thánh T5, chiều ngang là 5,5m. Tuy nhiên, trên thực tế từ lúc thuê nhà cho đến khi mua hóa giá nhà thì kích thước chiều ngang giáp đường hẻm Lê Thánh T5 mà hộ tôi đang sử dụng chỉ có gần 2m; nhà ông Ư từ lúc thuê nhà cho đến khi được mua hóa giá nhà và cho đến nay họ đang sử dụng vẫn y nguyên như hiện trạng có kích thước cạnh giáp đường hẻm Lê Thánh T5 là 8,5m. Giữa hai bên gia đình chúng tôi không hề có bất cứ việc chuyển đổi đất hay chuyển đổi nhà để ra mặt tiền như GCNQSDĐ mà vợ chồng tôi được cấp. Sự việc này khu phố trưởng khu phố A và cán bộ địa chính phường 1 đều biết rất rõ và có thể làm chứng cho chúng tôi. Vì vậy, đến giờ phút này chúng tôi mới biết GCNQSDĐ số AC 616865 có sơ đồ thửa đất được cấp không đúng vị trí và kích thước. Chúng tôi là dân lao động tay chân, được mua hóa giá nhà theo giá Nhà nước thì rất mừng chứ đâu biết nhìn sơ đồ mặt bằng hay bản vẽ hiện trạng, hay sổ đỏ gì hết nên không biết lúc đó Sở Tài chính vẽ mặt bằng hiện trạng giao đất cho chúng tôi quay ra hướng bắc.
Chính vì lý do đó, người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên:
- - Hủy văn bản số 182 ngày 20/02/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T (do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P làm đại diện theo pháp luật);
- - Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 616865 do UBND thành phố T cấp cho vợ chồng ông T, bà M ngày 13/10/2006;
- - Buộc UBND Văn phòng đăng ký đất đai và UBND thành phố T tiến hành các thủ tục cấp giấp chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Lê Xuân T, bà Nguyễn Thị Như M đối với thửa đất số 55, tờ bản đồ D4-III-D-b (địa chỉ thửa đất: 1 L, phường A, thành phố T) theo đúng hiện trạng sử dụng đất.
Người bị kiện UBND thành phố T trình bày:
Đối với yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 616865 do UBND thành phố T cấp cho vợ chồng ông T, bà M ngày 13/10/2006 là không có cơ sở, bởi lẽ: Về nguồn gốc thửa đất: Do ông Lê Xuân T và bà Nguyễn Thị Như M được Sở Tài chính tỉnh P lập hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước ngày 15/7/2006 tại địa chỉ 1 L, phường A, thành phố T có diện tích 111,7m² (hồ sơ kèm theo gồm bản kê chi tiết về việc tính giá trị nhà và đất bán hoá giá đợt 1/2006, sơ đồ xác định vị trí khu đất do Sở xây dựng lập ngày 15/12/2004 và mặt bằng hiện trạng; Thông báo lệ phí trước bạ nhà đất và 03 giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước; trích lục địa chính).
Về trình tự thực hiện: Ngày 14/8/2006, ông Lê Xuân T và bà Nguyễn Thị Như M nộp đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại UBND phường A kèm theo toàn bộ hồ sơ mua bán nhà thuộc sở hữu nhà nước tại địa chỉ 1 L, phường A, thành phố T.
Ngày 13/10/2006, UBND thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Xuân T và bà Nguyễn Thị Như M tại thửa đất số 34a, tờ bản đồ D4-III-D-b, diện tích 111,7m², loại đất ở đô thị địa chỉ thửa đất 1 L, phường A, thành phố T, số phát hành AC 616865, số vào sổ cấp GCN H00116.
Như vậy, UBND thành phố T đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Xuân T và bà Nguyễn Thị Như M tại thửa đất số 34a, tờ bản đồ D4-III-D-b, diện tích 111,7m², loại đất ở đô thị địa chỉ thửa đất 1 L, phường A, thành phố T theo hợp đồng mua bán nhà ở giữa Sở T tỉnh với ông T, bà M là đúng quy định pháp luật.
Căn cứ bản đồ điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 của thành phố T được ban hành kèm theo Quyết định số 785/QĐ-UBND ngày 23/6/2023 của UBND tỉnh P thì vị trí hiện trạng diện tích 168,2m² (Theo mảnh đo đạc hiện trạng sử dụng đất số 13-2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P) phù hợp quy hoạch sử dụng đất đã được UBND tỉnh P phê duyệt - Đất ở đô thị, ký hiệu ODT.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND phường A, thành phố T trình bày: Từ trước đến nay quá trình sử dụng đất của vợ chồng ông Lê Xuân T, bà Nguyễn Thị Như M và vợ chồng ông Tôn Thất Tuy Ư, bà Trương Thị C sử dụng ổn định liên tục không ai tranh chấp và đúng hiện trạng như biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 20/7/2023 của Tòa án. Đối chiếu các quy định của Luật đất đai thì trường hợp sử dụng đất của vợ chồng ông Lê Xuân T, bà Nguyễn Thị Như M và vợ chồng ông Tôn Thất Tuy Ư, bà Trương Thị C đủ điều kiện xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng hiện trạng sử dụng tại thửa đất số 34, tờ bản đồ D4-III-D-b.
Tòa án đã tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành đối thoại để các đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án, nhưng các bên đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người bị kiện vẫn giữ nguyên quyết định hành chính bị kiện. Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án hành chính để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Tại phiên tòa:
Các bên đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm trình bày.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng quy định pháp luật; Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 2, điều 193 Luật tố tụng hành chính không chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Người bị kiện UBND thành phố T, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P vắng mặt nhưng có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Đây là phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ vào Điều 158 Luật tố tụng hành chính, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ngày 29/03/2023 Người khởi kiện vợ chồng ông Lê Xuân T, bà Nguyễn Thị Như M khởi kiện tại TAND tỉnh Phú Yên yêu cầu:
- - Hủy văn bản số 182 ngày 20/02/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T (do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P làm đại diện theo pháp luật);
- - Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 616865 do UBND thành phố T cấp cho vợ chồng ông T, bà M ngày 13/10/2006;
- - Buộc UBND Văn phòng đăng ký đất đai và UBND thành phố T tiến hành các thủ tục cấp giấp chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Lê Xuân T, bà Nguyễn Thị Như M đối với thửa đất số 55, tờ bản đồ D4-III-D-b (địa chỉ thửa đất: 1 L, phường A, thành phố T) theo đúng hiện trạng sử dụng đất.
Xét thấy các yêu cầu nêu trên là đối tượng khởi kiện theo quy định tại Điều 3 Luật tố tụng hành chính. Ngày 27/04/2023 Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên thụ lý giải quyết các yêu cầu nêu trên là đúng thẩm quyền và còn trong thời hiệu khởi kiện quy định tại Điều 32 và Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
[3] Xét nguồn gốc diện tích đất ông Lê Xuân T, bà Nguyễn Thị Như M đang sử dụng khiếu kiện: Người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩ vụ liên quan đều thống nhất diện tích đất 207,2m² thuộc thửa đất số 34, tờ bản đồ số D4-III-D-b có nguồn gốc là do nhà nước bán hóa giá cho gia đình ông Lê Xuân T, bà Nguyễn Thị Như M và gia đình ông Tông Thất Tuy U1, bà Trương Thị C, điều này phù hợp với hồ sơ quản lý đất đai tại UBND phường A, T.
Theo Hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước số 15/HĐ-MBN ngày bán hóa giá giữa Sở T (đại diện cho nhà nước) với vợ chồng ông Lê Xuân T, bà Nguyễn Thị Như M thể hiện diện tích đất chuyển nhượng là 111,7m² với chiều rộng thửa đất giáp đường hẻm là 5,5m. Trên cơ sở hợp đồng mua bán trên ngày 14/08/2006 ông Lê Xuân T phát sinh đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 111,7m² và UBND thành phố T đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 616865 ngày 13/10/2006 theo đúng hiện trạng theo hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước nêu trên.
Tuy nhiên, Sau khi được nhà nước bán hóa giá nhà ở thuộc sở hữu nhà nước thì giữa vợ chồng ông T, bà M không sử dụng đúng theo diện tích đã được nhà nước bán hóa giá mà thực tế giữa vợ chồng ông T, bà M với vợ chồng ông U1, bà C sử dụng theo hiện trạng cũ trước khi nhà nước bán hóa giá. Theo mảnh trích đo chỉnh lý bản đồ địa chính 13-2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P đo đạc tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ ngày 20/7/2023 của Tòa án thì thể hiện: Vị trí sử dụng đất giữa vợ chồng ông T, bà M và vợ chồng ông U1, bà C là không đúng vị trí theo hồ sơ bán hóa nhà của nhà nước. Mặc dù giữa 2 bên không có tranh chấp trong quá trình sử dụng đất và giữa 2 bên có giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Việc chuyển nhượng này là tự nguyện và hai bên không tranh chấp tuy nhiên cả hai bên đều không đăng ký biến động và chuyển quyền sở hữu theo đúng quy định của pháp luật. Xét việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T, bà M mà chưa xem xét hiện trạng cho thuê, do đó trên thực tế sử dụng không đúng hiện trạng từ trước đến nay. Thẩm quyền hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này theo điểm d khoản 2 Điều 106 Luật đất đai 2013.
[6] Từ những nhận định nêu trên HĐXX nhận thấy: Nguồn gốc diện tích đất 207,2m² thuộc thửa đất số 34, tờ bản đồ số D4-III-D-b có nguồn gốc là do nhà nước bán hóa giá cho gia đình ông Lê Xuân T, bà Nguyễn Thị Như M và gia đình ông Tông Thất Tuy U1, bà Trương Thị C. Diện tích 111,7m² bán hóa giá cho vợ chồng ông T, bà Ưl đã được UBND thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản vẻ trong hợp đồng bán hóa giá. Tuy nhiên giữa vợ chồng ông T, bà M và vợ chồng ông U1, bà C lại sử dụng theo hiện trạng nhà đất đã thuê ở trước đó nên không đúng theo hợp đồng bán hóa giá và chưa thực hiện các trình tự thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo đúng quy định, đồng thời diện tích đất nhà nước bán hóa giá cho vợ chồng ông U1, bà C chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, các yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Lê Xuân T, bà Nguyễn Thị Như M là không có cơ sở để chấp nhận.
[7] Về án phí và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và chi phí tố tụng khác: Do không chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điều 30, 32, 116; điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 348 và 358 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết số 33/2021/QH15 ngày 12/11/2021 của Quốc hội về tổ chức phiên tòa trực tuyến; Thông tư liên tịch số 05/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP ngày 15/12/2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành tổ chức phiên tòa trực tuyến; Khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Lê Xuân T, bà Nguyễn Thị Như M đối với các yêu cầu:
- - Hủy văn bản số 182 ngày 20/02/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T (do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P làm đại diện theo pháp luật);
- - Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 616865 do UBND thành phố T cấp cho vợ chồng ông T, bà M ngày 13/10/2006;
- - Buộc UBND Văn phòng đăng ký đất đai và UBND thành phố T tiến hành các thủ tục cấp giấp chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Lê Xuân T, bà Nguyễn Thị Như M đối với thửa đất số 55, tờ bản đồ D4-III-D-b (địa chỉ thửa đất: 1 L, phường A, thành phố T) theo đúng hiện trạng sử dụng đất.
Về án phí: Người khởi kiện vợ chồng ông Lê Xuân T, bà Nguyễn Thị Như M phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm. Số tiền này được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000429 ngày 27/4/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc: Người khởi kiện vợ chồng ông Lê Xuân T, bà Nguyễn Thị Như M phải chịu 5.000.000 đồng (đã nộp đủ).
Quyền kháng cáo: Các đương sự, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Minh |
Bản án số 74/2023/HC-ST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai.
- Số bản án: 74/2023/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2023
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
