|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 74/2022/DS-PT Ngày: 20/4/2022 V/v “Tranh chấp hợp đồng xây dựng”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Phi Kbuôr
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tấn Đức; Ông Hoàng Kim Khánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Xuân Linh Byă - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 52/2022/TLPT-DS ngày 09/3/2022 về việc: “Tranh chấp hợp đồng xây dựng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 81/2021/DSST ngày 28/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2022/QĐ-PT ngày 05/4/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần P; địa chỉ: Đường T, phường Y, thành phố L, tỉnh Gia Lai.
- Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị TH – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị, kiêm tổng Giám đốc, vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lưu Thị Thu H, sinh năm 1976; địa chỉ: Đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
- Bị đơn: Trại giam Đ; địa chỉ: Xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Thanh Q – Chức vụ: Giám thị trại giam Đ, vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Vũ Đức M – Chức vụ: Phó Giám thị Trại giam Đ, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cục Cảnh sát quản lý Trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng (Cục C10 - Bộ Công an); địa chỉ: Số Z, ngõ X, phố C, quận M, Tp. Hà Nội (tại Công văn số 5464/C10-P15 ngày 19/11/2021 của Cục C10 - Bộ Công an từ chối tham gia tố tụng và đã ủy quyền cho Trại giam Đ, Bl số 294).
- Người kháng cáo: Bị đơn là Trại giam Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty Cổ phần P trình bày:
Ngày 28/12/2012, Doanh nghiệp tư nhân P (nay là Công ty Cổ phần P) và Trại giam Đ ký kết với nhau Hợp đồng thi công xây dựng công trình số 02/2012/HĐ-XD, để thực hiện xây dựng gói thầu xây lắp số 1 là Phân trại K3/Trại giam Đ.
Thực hiện Quyết định số 9632/QĐ/C81-C87 ngày 28/12/2012 của Tổng cục trưởng Tổng cục VIII và Hợp đồng thi công xây dựng công trình số 02/2012/HĐ-XD ngày 28/12/2012, Công ty Cổ phần P (nhà thầu) cùng với Trại giam Đ (chủ đầu tư) và các bên liên quan phối hợp khắc phục nhiều khó khăn. Trong quá trình thực hiện dự án đã tổ chức triển khai thi công xây dựng hoàn thành công trình đúng theo hồ sơ thiết kế được duyệt, đảm bảo về chất lượng, kỹ thuật và tiến độ, bàn giao cho Chủ đầu tư đưa vào sử dụng đối với gói thầu số 01 vào ngày 30/6/2014.
Theo kế hoạch đấu thầu được duyệt, dự án đầu tư xây dựng Phân trại mới số 3 - Trại giam Đ được chia làm 2 gói thầu xây lắp. Trên cơ sở sau khi xây dựng và hoàn thành gói thầu xây lắp số 01, chủ đầu tư cần đưa công trình vào sử dụng ngay. Tuy nhiên, gói thầu số 01 nếu đưa vào sử dụng thì cần phải xây dựng thêm một số hạng mục thuộc gói thầu số 02. Vì vậy, ngày 30/6/2014 chủ đầu tư là trại giam Đ đã ký hợp đồng là Văn bản thỏa thuận với Công ty Cổ phần P để xây dựng thêm một số hạng mục công trình cấp bách thuộc gói thầu xây lắp số 2 bao gồm các hạng mục sau: Nhà thăm gặp; nhà ở cán bộ quản giáo; nhà kỷ luật số 2; tường rào cấm; tường rào phân khu thoáng; tường rào phân khu kín; sân đường nội bộ khu giam giữ.
Để công trình sớm đưa vào sử dụng, lãnh đạo Trại giam Đ đã đề nghị Công ty Cổ phần P tự chủ động huy động vốn để thi công trước các hạng mục cấp bách, cần thiết thuộc gói thầu xây lắp số 02 theo Văn bản thỏa thuận ký ngày 30/6/2014, phía Chủ đầu tư cam kết sẽ trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và thanh toán theo giá trị khối lượng thực hiện đã xây dựng cho Công ty Cổ phần P.
Căn cứ vào các thỏa thuận đã ký với Chủ đầu tư, Công ty Cổ phần P đã tự vay vốn Ngân hàng và các nguồn khác để triển khai thi công xây dựng các hạng mục trên theo đúng hồ sơ thiết kế đã được duyệt mà Chủ đầu tư bàn giao cho Công ty như thỏa thuận. Công ty Cổ phần P đã thực hiện việc thi công công trình trong thời gian từ ngày 01/7/2014 đến ngày 29/12/2014. Như vậy, đã hoàn thành sớm hơn thời hạn thỏa thuận và đảm bảo về thiết kế, chất lượng đúng như cam kết để bàn giao cho Trại giam Đ đưa vào sử dụng.
Sau khi xây dựng xong công trình, các bên đã tiến hành lập biên bản nghiệm thu công trình. Tại Biên bản nghiệm thu công trình ngày 12/01/2015 với giá trị khối lượng xây lắp tại thời điểm đó đã được Chủ đầu tư, nhà thầu thi công và đơn vị tư vấn giám sát ký xác nhận là: 11.741.215.000 đồng.
Tuy nhiên, sau khi các hạng mục trên được xây dựng xong, gói thầu số 02 được đưa vào sử dụng, phía Công ty Cổ phần P đã nhiều lần làm việc đề nghị chủ đầu tư là Trại Giam Đ thanh toán giá trị khối lượng công việc đã thực hiện xong cho Công ty Cổ phần P, nhưng cho đến nay đã hơn 6 năm vẫn chưa được Trại giam Đ thanh toán một đồng nào giá trị thi công xây dựng theo thỏa thuận, thiệt hại rất lớn đến uy tín và tiền bạc của Công ty.
Sau đó, hai bên đã thống nhất tiến hành thuê kiểm toán lại toàn bộ khối lượng công trình (Gói thầu số 2), theo Báo cáo kiểm toán độc lập số 65a/2021/BCKT-AVN, ngày 01/10/2021, thì tổng số nợ chỉ còn lại là 10.702.937.000 đồng và cả hai bên đã nhất trí với số nợ này.
Nay Công ty Cổ phần P xin rút một phần yêu cầu khởi kiện với số tiền là 1.038.278.000 đồng so với nội dung khởi kiện ban đầu, chỉ yêu cầu Trại giam Đ trả số tiền như kết quả kiểm toán sau này là 10.702.937.000 đồng. Trong trường hợp Trại giam Đ có thiện chí trả ngay toàn bộ số nợ nói trên thì Công ty Cổ phần P chỉ yêu cầu trả số tiền nợ gốc, không yêu cầu trả lãi. Trường hợp không đồng ý trả thì Trại giam Đ có nghĩa vụ trả lãi suất theo quy định của pháp luật là 10%/năm (0,83%/tháng) kể từ ngày 01/01/2016 cho đến nay.
* Quá trình tham gia tố tụng, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Trại giam Đ là ông Vũ Đức M trình bày:
Trại giam Đ – trực thuộc Tổng cục VIII – Bộ công an (nay là Cục C10) được Bộ Công an đầu tư xây dựng công trình thuộc Phân trại số 3, theo Quyết định số 4412/QĐ-H41-H45 ngày 16/8/2010 của Tổng Cục VIII - Bộ Công an. Thực hiện Quyết định số 9632/QĐ/C81-C87 ngày 28/12/2012 của Tổng cục trưởng Tổng cục VIII; Trại giam Đ đã tiến hành ký với Công ty Cổ phần P 01 Hợp đồng thi công xây dựng công trình số 02/2012/HĐ-XD, ngày 28/12/2012, cụ thể:
Giai đoạn 1: Thực hiện gói thầu xây lắp số 01, bao gồm các hạng mục: 01 nhà làm việc; 02 nhà ở cán bộ chiến sỹ bảo vệ; 01 nhà ăn tập thể; 01 nhà cổng trại; 01 nhà bệnh xá 07 giường; 01 nhà kho bếp phạm; 04 nhà giam chung + ăn + vệ sinh quy mô 120 phạm; 01 nhà giam riêng 20 chỗ; 01 nhà kỷ luật; 04 chòi gác; 586m tường rào bảo vệ; hệ thống cấp điện, chiếu sáng ngoài nhà; hệ thống cấp, thoát nước ngoài nhà; hệ thống PCCC; phòng chống mối; san nền. Hiện nay đã hoàn thành giai đoạn 1 và đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt quyết toán giá trị xây lắp hoàn thành với giá trị hợp đồng là 44.095.943.000 đồng vào ngày 30/6/2014.
Giai đoạn 2: Do yêu cầu cấp thiết như đã nói trên phải thực hiện để đáp ứng nhu cầu sử dụng, quản lý, giam giữ phạm nhân. Trại giam Đ đã thỏa thuận với nhà thầu là doanh nghiệp tư nhân P (nay là Công ty Cổ phần P), chủ động về vốn thi công một số hạng mục cấp bách cần thiết cho yêu cầu giam giữ thuộc gói thầu số 2 (giai đoạn 2), giá trị thanh toán được xác định sau khi được các cơ quan chức năng thẩm tra, phê duyệt và thanh toán khi chủ đầu tư bố trí được kế hoạch vốn, bao gồm: 01 nhà kỷ luật; 385m hàng rào phân khu kín và 220m hàng rào phân khu thoáng; 599m hàng rào cấm; 01 nhà thăm gặp; 01 nhà ở cán bộ quản giáo; 5.854m2 sân đường nội bộ khu giam giữ.
Tuy nhiên, do quá trình thực hiện gói thầu có sai phạm về thủ tục đầu tư nên chưa được các cơ quan chức năng thẩm tra, phê duyệt hồ sơ thiết kế, dự toán, không tổ chức đấu thầu theo quy định. Vì vậy, trách nhiệm thuộc Trại giam Đ. Phía Công ty P có sai phạm khi không chấp hành theo quy định của Luật Xây dựng và Luật Đấu thầu. Trại giam Đ đã làm các văn bản gửi các cấp có thẩm quyền xin chủ trương cho phép Trại được thực hiện 1 số hạng mục cấp bách...
Về số tiền nợ của Công ty Cổ phần P thì Trại giam Đ xác nhận là 10.702.937.000 đồng; đây là số nợ mà hai bên đã thống nhất (kể cả cục C10 – Bộ Công an), theo kết quả kiểm toán độc lập (Báo cáo kiểm toán độc lập số 65a/2021/BCKT-AVN, ngày 01/10/2021).
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 280; Điều 385; Điều 386; Điều 398; Điều 422; khoản 2 Điều 357; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Điều 138; Điều 141; Điều 144; Điều 146; Điều 147 Luật xây dựng 2014. Khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/10/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là Trại giam Đ.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 81/2021/DSST ngày 28/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện và khởi kiện bổ sung của nguyên đơn là Công ty Cổ phần P.
Buộc Trại giam Đ có nghĩa vụ phải trả cho Công ty Cổ phần P số tiền nợ công trình là 10.702.937.000 đồng (Mười tỷ bảy trăm lẻ hai triệu chín trăm ba mươi bảy ngàn đồng) và 6.384.302.000 đồng (Sáu tỷ ba trăm tám mươi bốn triệu ba trăm lẻ hai ngàn đồng) tiền lãi. Tổng cộng là 17.087.239.000 đồng (Mười bảy tỷ không trăm tám mươi bảy triệu hai trăm ba mươi chín ngàn đồng).
[2] Về án phí:
[2.1] Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn Trại giam Đ phải chịu 125.087.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí 59.870.000 đồng và 57.459.500 đồng cho nguyên đơn Công ty Cổ phần P.
[2.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn Trại giam Đ phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí đã nộp.
|
Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - TAND huyện Cư M’gar; - Chi cục THADS huyện C; - Các đương sự; - Công thông tin điện tử Tòa án; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Y Phi Kbuôr |
Bản án số 74/2022/DS-PT ngày 20/04/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng xây dựng
- Số bản án: 74/2022/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng xây dựng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/04/2022
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 14/01/2022 (do bị đơn vắng mặt tại phiên tòa), bị đơn kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 81/2021 /DSST ngày 28/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, với nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần tiền lãi phát sinh và tiền án phí dân sự sơ thẩm.
