|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 Thành phố Hồ Chí Minh —————————— Bản án số: 74/2021/DS -ST Ngày: 25-5-2021 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————————————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Bà Nguyễn Thị Lưu Ly
- 2/ Bà Lê Thị Phước Mãng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Quí – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Tánh – Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 175/2020/TLST- DS ngày 24 tháng 11 năm 2020 về “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2021/QĐXXST- DS ngày 27 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S; Địa chỉ: 266-268 đường N, phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là: Ông Hoàng Mạnh H, sinh năm: 1991; địa chỉ: 192 đường T, phường Đ, Thành phố Đ, tỉnh Q; địa chỉ liên lạc: 28-30-32 đường N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền số 124A/2021/GUQ-CNBT ngày 26/3/2021) (có mặt).
- Bị đơn: Ông Điền Hòa Đức A, sinh năm: 2000, địa chỉ: R7 đường L, Phường J, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh BR ( có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/3/2020, bản tự khai và tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S (sau đây viết là Ngân hàng) do ông Hoàng Mạnh H là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Vào ngày 05/12/2018 ông Điền Hòa Đức A có ký với Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh B hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số: 404/HĐTD/2018 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Ngân hàng). Căn cứ vào thu nhập của ông Điền Hòa Đức A, ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng quốc tế visa hạng vàng, số thẻ: 472075-9481 với hạn mức sử dụng là 40.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân cho ông Đức A. Lãi suất trong hạn là: 2,15%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Điền Hòa Đức A đã thực hiện các giao dịch từ tháng 02/2019 đến ngày 22/10/2019 với tổng số tiền là: 57.457.500đ. Trong quá trình sử dụng thẻ ông Điền Hòa Đức A đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 25.203.750đ trong đó tiền gốc là: 17.731.030đ và tiền lãi là: 7.472.720đ. Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông Đức A không có thiện chí trả nợ mặc dù đã được nhắc nhở nhiều lần. Vào ngày 23/11/2019 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 25/5/2021 ông Điền Hòa Đức A còn nợ các khoản sau: nợ gốc: 42.692.871đ, lãi quá hạn: 30.525.550đ. Tổng cộng là: 73.218.421đ.
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Điền Hòa Đức A chịu trách nhiệm cá nhân thanh toán nợ gốc và lãi còn thiếu là 73.218.421đ làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Đồng thời ông Điền Hòa Đức A vẫn phải tiếp tục trả lãi phát sinh đối với khoản vay trên cho đến khi thanh toán hết nợ gốc.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 24/3/2021 bị đơn ông Điền Hòa Đức A trình bày: Ông không nhớ thời gian cụ thể ký hợp đồng với ngân hàng chỉ nhớ là vào khoảng năm 2017 hoặc 2018 ông có ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với ngân hàng TMCP S và Ngân hàng đã cấp hạn mức sử dụng là 40.000.000 đồng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng thì ông không nhớ là ông đã bắt đầu thực hiện giao dịch và kết thúc giao dịch từ thời gian nào. Ông chỉ nhớ tổng số tiền ông thực hiện giao dịch là hơn 30.000.000 đồng. Ông cũng không nhớ là đã trả được bao nhiêu tiền vốn và lãi cho Ngân hàng, chỉ nhớ hàng tháng ông phải trả cho ngân hàng số tiền là hơn hai triệu đồng và đã trả được bao nhiêu tháng thì ông cũng không nhớ. Ông chỉ nhớ ông sử dụng thẻ ngân hàng được khoảng 01 năm thì ông không sử dụng nữa. Do đó, ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông khi nào thì ông cũng không rõ. Ông nhớ mang máng là ông đã thanh toán cho ngân hàng số tiền khoảng 25.000.000 đồng. Ông thừa nhận tính đến ngày 16/3/2020 ông còn nợ ngân hàng các khoản sau: nợ gốc là: 42.692.871 đồng, lãi quá hạn là: 6.382.615 đồng. Tổng cộng cả vốn và lãi là: 49.075.486 đồng.
Ông chỉ đồng ý trả cho ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 16/3/2020 là 49.075.486 đồng. Đối với số tiền lãi phát sinh từ sau ngày 16/3/2020 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng thì ông không đồng ý vì trong khoảng thời gian từ ngày 16/3/2020 đến nay ông đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh BR nên không thể đi làm để có tiền trả nợ cho ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện yêu cầu ông Điền Hòa Đức A phải thanh toán tiền gốc và tiền lãi phát sinh đối với khoản vay từ việc sử dụng thẻ tín dụng thông qua giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 05/12/2018. Như vậy, đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày của các bên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định vào ngày 05/12/2018 ông Điền Hòa Đức A có ký với Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh B hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Ông Đức A vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện là có cơ sở.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S:
- Buộc ông Điền Hòa Đức A chịu trách nhiệm cá nhân thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ gốc còn thiếu là: 42.692.871đ, lãi quá hạn 30.525.550đ. Tổng cộng là: 73.218.421đ.
- Về án phí: Ông Điền Hòa Đức A phải nộp án phí là: 3.660.921đ. Ngân hàng Thương mại Cổ phần S được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.226.887đ.
|
Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân Quận 6; - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Nhàn |
Bản án số 74/2021/DS-ST ngày 25/05/2021 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 74/2021/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/05/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
