Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 73a/2022/DS-PT
Ngày: 19/4/2022
V/v: “Tranh chấp hợp đồng dân sự”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Tú

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Sâm, bà Đinh Thị Tuyết

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Quang Hùng, Thư ký TAND tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Linh Byă - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 196/2021/TLPT-DS ngày 04 tháng 10 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2021/DS-ST ngày 20 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 273/2021/QĐ-PT, ngày 22 tháng 12 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số: 10a/2022/QĐ-PT, ngày 12 tháng 01 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Châu Y, sinh năm: 1966; địa chỉ: Buôn CA, xã CD, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Ngọc Q; địa chỉ: Số 57 đường A5, thôn 1, xã CÊ, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

Bị đơn: Ông Chềnh Mộc S, sinh năm: 1952; địa chỉ: Ấp CĐ, xã CG, huyện TB, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Ngọc H; địa chỉ: Số 59 đường TĐT, phường TL, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Công ty TNHH BY;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Sỹ W; chức vụ: giám đốc;

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị E; chức vụ: Nhân viên

Địa chỉ: Buôn K, xã CO, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện ủy quyền của nguyên đơn ông Phan Ngọc Q trình bày: Năm 2012, do có nhu cầu sản xuất tinh bột sắn nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa tại địa phương, bà Y với ông Chềnh Mộc S đã làm việc và thỏa thuận với nhau về việc lắp đặt dây chuyền sản xuất tinh bột sắn tại DNTN YN bằng lời nói. Nội dung thỏa thuận bao gồm việc ông S chịu trách nhiệm nhập khẩu, lắp đặt và vận hành thử hệ thống dây chuyền hiện đại. Tổng giá trị hợp đồng là 10 tỷ đồng. Bà Y đã giao cho ông S 2,5 tỷ đồng đặt cọc.

Tuy nhiên, sau khi lắp đặt, ông S không cung cấp được các hồ sơ chứng minh nguồn gốc xuất xứ và báo cáo tác động môi trường để bà Y làm thủ tục vay vốn ngân hàng. Tại phiên hòa giải ngày 14/7/2017, hai bên đồng ý giao dịch dân sự vô hiệu. Ông S đã tháo dỡ máy móc mang về nhưng không trả lại số tiền 2,5 tỷ đồng đã nhận. Vì vậy, bà Y khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu và buộc ông S trả lại 2,5 tỷ đồng tiền gốc cùng tiền lãi.

* Phía bị đơn ông Chềnh Mộc S trình bày: Ông đã hoàn thành việc lắp đặt và vận hành thử, sản phẩm đạt tiêu chuẩn. Ông cho rằng bà Y vi phạm hợp đồng khi không thanh toán số tiền còn lại. Ông yêu cầu phản tố buộc bà Y phải trả 7,5 tỷ đồng còn thiếu và các chi phí phát sinh, tổng cộng 14,1 tỷ đồng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2021/DS-ST ngày 20/7/2021, Tòa án nhân dân huyện Krông Bông đã quyết định hủy hợp đồng, buộc ông S trả lại 2,5 tỷ đồng cho bà Y, và đình chỉ yêu cầu phản tố của ông S. Cả nguyên đơn và bị đơn đều có đơn kháng cáo đối với bản án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của các bên là hợp lệ.

[2] Về nội dung: Hợp đồng miệng giữa bà Y và ông S năm 2012 về việc lắp đặt dây chuyền sản xuất là giao dịch dân sự tự nguyện. Quá trình thực hiện, ông S đã lắp đặt xong và máy móc đã đi vào vận hành. Việc nguyên đơn cho rằng ông S không đủ điều kiện kinh doanh hoặc máy móc không rõ nguồn gốc để tuyên hợp đồng vô hiệu là không có căn cứ vì thực tế máy móc đã hoạt động và tạo ra sản phẩm bán cho đối tác. Tuy nhiên, do các bên đã tự thỏa thuận tháo dỡ máy móc và chấm dứt hợp đồng tại buổi hòa giải năm 2017, nên cần xác định hậu quả của việc chấm dứt này.

[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn về việc tính lãi: Do yêu cầu khởi kiện chính không được chấp nhận toàn bộ nên không có căn cứ tính lãi.

[4] Xét kháng cáo của bị đơn: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên hủy hợp đồng và buộc trả lại tiền cọc là chưa phù hợp với diễn biến thực tế của việc thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, do bị đơn cũng đồng ý chấm dứt giao dịch nên cần sửa bản án sơ thẩm cho phù hợp.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, 388 Bộ luật dân sự 2005. Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Châu Y. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Chềnh Mộc S. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2021/DS-ST ngày 20/7/2021 của Tòa án nhân dân huyện Krông Bông.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Châu Y về việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu và buộc ông Chềnh Mộc S trả lại 2,5 tỷ đồng cùng tiền lãi.
  3. Đình chỉ yêu cầu phản tố của ông Chềnh Mộc S về việc buộc bà Y thanh toán 7,5 tỷ đồng.
  4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Châu Y phải chịu 82.300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Đặng Ngọc H (đại diện ông S) số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:
  • - TAND tối cao;
  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - TAND huyện Krông Bông;
  • - CCTHADS huyện Krông Bông;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




(Đã ký)

Vũ Văn Tú
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73a/2022/DS-PT ngày 19/04/2022 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng dân sự

  • Số bản án: 73a/2022/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2022
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Năm 2012 bà Y có hợp đồng miệng với ông Chềnh Mộc S, theo đó ông S có trách nhiệm lắp đặt cho bà Y toàn bộ dây chuyền về chế biến, sản xuất tinh bột mì tại DNTN YN tại Buôn K, xã Cư Pui, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, giá trị hợp đồng là 10 tỷ đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng bà Y đã chuyển trước cho ông S 2,5 tỷ đồng. Sau khi hoàn tất việc lắp đặt, chạy thử, bà Y yêu cầu ông S cung cấp hồ sơ, tài liệu chứng minh nguồn gốc, xuất xứ của dây chuyền cũng như báo cáo tác động môi trường để bà Y thế chấp vay tiền thanh toán cho ông S, nhưng ông S không có để cấp nên hợp đồng không tiếp tục thực hiện được. Vì vậy, bà Y khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lắp đặt thiết bị dây chuyền, máy móc chế biến tinh bột mì giữa bà Y với ông S vô hiệu và buộc ông S phải trả cho bà Y số tiền gốc 2,5 tỷ đồng và tiền lãi. Bị đơn cho rằng Hợp đồng mua bán lắp đặt nhà máy sản xuất chế biến tinh bột mì là hợp đồng song vụ, ông S đã hoàn thành nghĩa vụ lắp đặt của mình, do đó bà Y phải thực hiện nghĩa vụ là thanh toán số tiền hợp đồng còn lại cho ông S là 7,5 tỷ đồng. Vì vậy, bị đơn có đơn phản tố đề nghị Tòa án công nhận Hợp đồng mua bán lắp đặt nhà máy sản xuất chế biến tinh bột mì được giao kết giữa ông Chềnh Mộc S và bà Nguyễn Thị Châu Y là có hiệu lực. Theo đó, buộc bà Y phải trả cho ông S số tiền hợp đồng còn lại là 7,5 tỷ đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger