|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 739/2024/HS- PT Ngày: 28- 8- 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Năng Thành
Các Thẩm phán: ông Hoàng Nhật Tân và ông Hoàng Văn Thành
Thư ký phiên tòa: ông Đỗ Duy Trung- Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: bà Lý Thị Mai Phương- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 582/2024/TLPT- HS ngày 05/7/2024 đối với bị cáo Lương Thế V do có kháng cáo của người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2024/HS-ST ngày 30/5/2024 của Toà án nhân dân huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội.
* Bị cáo bị kháng cáo: Lương Thế V; sinh năm 2002, tại Thái Nguyên; nơi cư trú: xóm T, xã A, Đ, Thái Nguyên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Lương Trường G và bà Lê Thị T; gia đình có 02 anh em (bị cáo là con thứ nhất); chưa có vợ, con; chưa có tiền án, tiền sự; bị bắt truy nã và tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2024, tại Trại tạm giam số 2- Công an Thành phố H; có mặt.
* Người bị hại có kháng cáo: chị Nguyễn Thị T1; sinh năm 1995; địa chỉ: thôn P, xã P, G, Hà Nội; vắng mặt.
- Đại diện theo ủy quyền của người bị hại là anh Nguyễn Duy Đ (sinh năm 2002) và chị Lê Nguyên A (sinh năm 1999); cùng địa chỉ: số F, ngõ C, Đặng Vũ H, phường T, L, Hà Nội; theo Giấy ủy quyền công chứng ngày 27/5/2024; anh Đ có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại có bà Trần Thị Ngọc H1; luật sư của Công ty L, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; 0989 142 058; có mặt.
* Người tham gia tố tụng khác được triệu tập tại cấp phúc thẩm:
- Công ty TNHH V1; đại diện hợp pháp là ông Nguyễn Quý T2; sinh năm 1958; chức vụ: Giám đốc Công ty; địa chỉ: số A đường L, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.
- Chị Lê Thị D; sinh năm 1989; địa chỉ: TDP C, thị trấn Đ, huyện Đ, Thái Nguyên; vắng mặt.
- Chị Dương Thị O; sinh năm 1984; địa chỉ: xóm T, xã A, Đ, Thái Nguyên; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng năm 2021, Lương Thế V có mở tài khoản ngân hàng số 0066990858888 tại Ngân hàng TMCP Q (M) mang tên Lương Thế V để sử dụng vào việc chi tiêu cá nhân. Vào hồi 18 giờ 20 phút ngày 14/06/2022, chị Nguyễn Thị T1 đến cây ATM của Ngân hàng M đặt tại đường N (thị trấn T, G), để nộp 40.700.000 đồng vào tài khoản ngân hàng mang tên NGUYỄN THỊ T3 (số tài khoản 0266990858888 mở tại Ngân hàng M); do sơ suất, chị T1 đã đánh nhầm một chữ số trong số tài khoản của mình từ 0266990858888 thành 0066990858888 nên toàn bộ số tiền 40.700.000 đồng nêu trên đã được chuyển vào tài khoản của Lương Thế V; khi biết tiền được chuyển vào tài khoản của mình, V không biết ai là người gửi tiền và vì lý do gì.
Sáng ngày hôm sau (ngày 15/6/2022), chị T1 đến Ngân hàng M đề nghị kiểm tra số tài khoản mà chị T1 đã chuyển nhầm tiền; nhân viên Ngân hàng liên hệ, gọi điện thoại và hỏi “có phải là Lương Thế V không” thì V liền tắt máy.
Ngày 15 và 16/6/2022 (bút lục 210 và 211), chị T1 đã 02 lần chuyển, mỗi lần là 10.000 đồng vào tài khoản của V với nội dung: “Em la ng ck nham vao tk cua a. Mong a hop tac ck lai cho e. so tai khoan cua e 026699085888. E xin cam ơn”; "trong ngay hnay a ko hop tac ck lai tien cho e thi e se lam viec voi cong an de giai quyet".
Mặc dù biết chị T1 đã chuyển nhầm tiền vào tài khoản của mình nhưng do lòng tham nên V đã chiếm đoạt toàn bộ, chuyển 38.040.000 đồng vào số tài khoản 3901168889 tại Ngân hàng B mang tên Công ty TNHH V1 để mua vàng; chuyển 600.000 đồng vào tài khoản số 19025722125022 tại Ngân hàng T4 của chị Lê Thị D và chuyển 2.060.000 đồng vào tài khoản số [...] tại Ngân hàng V2 của chị Dương Thị O để rút tiền mặt, chi tiêu hết cho cá nhân.
Ngày 15/7/2022, chị T1 trực tiếp gặp V để trao đổi và yêu cầu V trả lại tiền; do không có tiền để trả ngay nên V đã viết 01 “Đơn cam đoan” với nội dung (bút lục 204) đã nhận được số tiền 40.700.000 đồng mà chị T1 đã chuyển nhầm, hẹn ngày 20/9/2022 sẽ trả lại chị T1; ngày 16/02/2023, V mới chuyển khoản trả chị T1 là 1.000.000 đồng và còn chiếm giữ là 39.700.000 đồng, không trả nữa; ngày 10/6/2023 (bút lục 189), chị T1 đến Công an huyện G trình báo sự việc.
Ngày 11/10/2023 (bút lục số 22, 30 và 31), Cơ quan điều tra đã ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can Lương Thế V; do bị can bỏ trốn khỏi nơi cư trú nên ngày 06/02/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã và ngày 05/3/2024, V bị bắt truy nã tại xã L, huyện C, tỉnh Long An.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2024/HS-ST ngày 30/5/2024, Toà án nhân dân huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Lương Thế V phạm tội Chiếm giữ trái phép tài sản; Căn cứ khoản 1 Điều 176, các điểm i và s khoản 1 Điều 51, các Điều 38 và 48 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lương Thế V 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/3/2024; Buộc bị cáo Lương Thế V phải trả lại chị Nguyễn Thị T1 là 39.700.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí sơ thẩm, các điều kiện thi hành án dân sự và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 11/6/2024, người bị hại Nguyễn Thị T1 có đơn kháng cáo đối với các quyết định về hình sự và dân sự của Bản án sơ thẩm, đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Lương Thế V và có biện pháp thu hồi tài sản nhằm đảm bảo quyền lợi về bồi thường của người bị hại.
* Tại phiên tòa phúc thẩm: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên Bản án sơ thẩm: Áp dụng khoản 1 Điều 176, các điểm i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lương Thế V 09 tháng tù về tội Chiếm giữ trái phép tài sản; Buộc bị cáo phải trả lại người bị hại Nguyễn Thị T1 là 39.700.000 đồng; Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật nên không xem xét.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại Nguyễn Thị T1 lập luận và đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, áp dụng bổ sung tình tiết tăng nặng “Có tình thực hiện tội phạm đến cùng” và tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Lương Thế V; về dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các biện pháp thu hồi tài sản do phạm tội mà có nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người bị hại về việc bồi thường thiệt hại tài sản.
Ông Nguyễn Quý T2 (đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH V1) khai nhận và có quan điểm: Công ty TNHH V1 kinh doanh hợp pháp, đã nhận chuyển khoản 38.040.000 đồng của khách hàng, đã giao vàng kèm hóa đơn bán hàng; ông T2 và các nhân viên bán hành của Công ty không biết gì về việc phạm tội bị cáo Lương Thế V và không biết khoản tiền này do phạm tội mà có; việc mua bán nêu trên là công khai, ngay thẳng, hợp pháp và pháp luật không cấm nên Công ty TNHH V1 không có trách nhiệm phải giao nộp lại khoản tiền đã nhận nêu trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của người bị hại Nguyễn Thị T1 phù hợp quy định tại các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự về chủ thể và thời hạn kháng cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[2] Lời khai nhận của bị cáo Lương Thế V tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cấp sơ thẩm, lời khai của người bị hại và những người làm chứng, phù hợp các vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án- Đủ cơ sở kết luận: khoảng 18 giờ 20 phút ngày 14/6/2022, chị Nguyễn Thị T1 đã chuyển nhầm số tiền 40.700.000 đồng vào tài khoản số 0066990858888 của Lương Thế V mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (M); biết là tiền do chị T1 chuyển nhầm nhưng Lương Thế V đã sử dụng chi tiêu hết cho mục mục đích cá nhân và cố tình không trả lại chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị T1; hành vi của Lương Thế V đã phạm tội Chiếm giữ trái phép tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 176 Bộ luật Hình sự; Bản án sơ thẩm đã quy kết bị cáo V theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phien tòa phúc thẩm, bị cáo Lương Thế V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo khai nhận do hoàn cảnh kinh tế của bị cáo và gia đình hiện nay rất khó khăn nên sau này, bị cáo sẽ kiếm việc làm và có thu nhập để bồi thường cho người bị hại.
[3] Bị cáo Lương Thế V không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và đã “khắc phục một phần hậu quả” là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo các điểm i và s khoản 1, khoản Điều 51 Bộ luật hình sự và đã được Bản án sơ thẩm xem xét, áp dụng cho bị cáo. Bản án sơ thẩm đã xem xét và đánh giá đúng về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo để xử phạt bị cáo 09 tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội trình bày tại phiên tòa phúc thẩm, giữ nguyên quyết định về hình sự của Bản án sơ thẩm và không chấp nhận kháng cáo của người bị hại về việc tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Lương Thế V; đủ tác dụng để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Hội đồng xét xử không chấp nhận quan điểm của người bị hại, đại diện theo ủy quyền của người bị hại và lập luận của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại cho rằng không áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và cần áp dụng bổ sung tình tiết tăng nặng theo điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lương Thế V.
[4] Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa thể hiện: sau khi biết trong tài khoản ngân hàng của mình có thêm 40.700.000 đồng do bị hại Nguyễn Thị T1 chuyển nhầm thì bị cáo Lương Thế V đã chuyển khoản 38.040.000 đồng vào số tài khoản 3901168889 tại Ngân hàng B mang tên Công ty TNHH V1 để mua vàng, chuyển khoản 600.000 đồng vào tài khoản số 19025722125022 tại Ngân hàng T4 của chị Lê Thị D đẻ rút tiền mặt và chuyển khoản 2.060.000 đồng vào tài khoản số [...] tại Ngân hàng V2 của chị Dương Thị O để rút tiền mặt, bị cáo tiếp tục bán vàng (không nhớ địa chỉ và giá bán) để lấy tiền mặt; bị cáo đã chi tiêu hết cho cá nhân đối với số tiền do người bị hại chuyển đến. Khi chuyển khoản cho người khác, bị cáo Lương Thế V đều không nói là tiền do phạm tội mà có và người nhận chuyển khoản cũng không biết là tiền phạm pháp, việc nhận chuyển khoản nêu trên là công khai, ngay thẳng và hợp pháp; Bản án sơ thẩm không đưa Công ty TNHH V1, chị Lê Thị D và chị Dương Thị O tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và không buộc họ phải giao nộp lại các khoản tiền đã nhận chuyển khoản nêu trên là có căn cứ, phù hợp các tình tiết khách quan của vụ án và quy định tại khoản 1 Điều 133 Bộ luật Dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người bị hại và quan điểm, lập luận của đại diện theo ủy quyền của người bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại đề nghị truy vết dòng tiền và thu hồi các khoản tiền do bị cáo đã chuyển khoản nêu trên; Hội đồng xét xử giữ nguyên quyết định về dân sự của Bản án sơ thẩm.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 343 Bộ luật tố tụng hình sự.
[6] Yêu cầu kháng cáo của người bị hại không được chấp nhận nên bị hại phải nộp án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại điểm e khoản 2 và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết về án phí; bị cáo không kháng cáo nên không phải nộp án phí hình sự và dân sự phúc thẩm.
[7] Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2024/HS-ST ngày 30/5/2024 của Toà án nhân dân huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội đối với bị cáo Lương Thế V:
* Áp dụng khoản 1 Điều 176, các điểm i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lương Thế V 09 (chín) tháng tù về tội Chiếm giữ trái phép tài sản; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/3/2024.
* Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 133 và các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Lương Thế V phải trả lại người bị hại Nguyễn Thị T1 là 39.700.000 (ba mươi chín triệu, bảy trăm nghìn) đồng.
Không áp dụng biện pháp thu hồi các khoản tiền do bị cáo Lương Thế V đã chuyển khoản cho Công ty TNHH V1, chị Lê Thị D và chị Dương Thị O.
2. Căn cứ khoản 4 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm e khoản 2 Điều 23 và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án:
- Buộc người bị hại Nguyễn Thị T1 phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
- Bị cáo Lương Thế V không phải nộp án phí hình sự và dân sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về án phí sơ thẩm và các điều kiện thi hành án dân sự không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA PHẠM NĂNG THÀNH |
Bản án số 739/2024/HS- PT ngày 28/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm về tội chiếm giữ trái phép tài sản
- Số bản án: 739/2024/HS- PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Chiếm giữ trái phép tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lương Thế V phạm tội Chiếm giữ trái phép tài sản
