|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 739/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23/8/2024 V/v "Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trúc Lý
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đào Quốc Thắng
2. Bà Nguyễn Thị Bông Hường
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Đào, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Hương, Kiểm sát viên
Trong ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 38/2023/HNST ngày 11 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 588/2024/QĐXXST-HN ngày 01/7/2024, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Trần Hoàng Nô V, sinh năm 1993 (có đơn xin vắng mặt)
Hộ khẩu thường trú: Xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
Tạm trú: Số C Quốc lộ B, Ấp Đ, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Bùi Huy P, sinh năm 1991 (vắng mặt)
Hộ khẩu thường trú: Xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
Tạm trú: Số B đường T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Hoàng Nô V trình bày:
Bà và ông Bùi Huy P có kết hôn vào ngày 10/7/2022, có tổ chức lễ cưới và có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T. Thời gian chung sống vợ chồng không hạnh phúc, mâu thuẫn xảy ra vào tháng 9/2022 do ông P không quan tâm, chăm sóc bảo vệ khi vợ mang Thai, vợ bị động thai và cho đến khi sinh con. Gia đình nhà chồng và bà không hợp về cách sống, về chi tiêu tiền bạc trong gia đình. Sau đó bà đã về nhà mẹ ruột sinh sống và sinh con, từ đó hai vợ chồng sống ly thân đến nay. Hai bên tự hòa giải với nhau nhưng không thành, thời gian dài chồng không thăm con, gia đình chồng không quan tâm đến cháu. Bà nhận thấy mâu thuẫn hai bên đã lâu, cả hai không khả năng hàn gắn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy nay ba xin ly hôn để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Cả hai có một con chung tên Bùi Trần Thiên N, sinh ngày 21/4/2023. Sau khi ly hôn bà xin được nuôi con chung và không yêu cầu ông Bùi Huy P cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Không có
Về nghĩa vụ dân sự chung: Không có
Bị đơn ông Bùi Huy P vắng mặt, không có ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát phát nhân dân quận T ý kiến:
* Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định tại các Điều 48, Điều 49, Điều 51 Điều 63 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc Tòa thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, đúng quan hệ tranh chấp và về thu thập chứng cứ, xác định đúng tư cách đương sự. Yêu cầu chung đối với phiên tòa sơ thẩm Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định tại Điều 222, Điều 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.
* Về nội dung: Căn cứ Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình 2014,
Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Hoàng Nô V về việc xin ly hôn ông Bùi Huy P.
Về con chung: Giao con chung tên Bùi Trần Thiên N, sinh ngày 21/4/2023 cho bà Trần Hoàng N1 Va nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông P do bà Trần Hoàng Nô V không yêu cầu.
Về tài sản chung: không có nên không xem xét
Về nghĩa vụ dân sự chung: không có nên không xem xét
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét đơn khởi kiện của bà Trần Hoàng Nô V yêu cầu ly hôn cùng ông Bùi Huy P đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do bị đơn ông Bùi Huy P có nơi cư trú tại quận T nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt: Nguyên đơn bà Trần Hoàng Nô V có đơn xin vắng mặt và bị đơn ông Bùi Huy P vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà Trần Hoàng Nô V và ông P theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về nội dung tranh chấp:
- Về quan hệ hôn nhân:
Xét Giấy chứng nhận kết hôn số 36/2022 ngày 12/04/2022 của Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh có đủ cơ sở xác nhận hôn nhân giữa bà Trần Hoàng Nô V và ông Bùi Huy P là hợp pháp phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Bà Trần Hoàng Nô V trình bày nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn với gia đình chồng.
Hội đồng xét xử xét thấy, vợ chồng giữa bà Trần Hoàng Nô V và ông Bùi Huy P mâu thuẫn thực tế có xảy ra. Mặt khác, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham dự phiên tòa nhưng ông P vắng mặt thể hiện ông P không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà Trần Hoàng Nô V và ông Bùi Huy P đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên không thể xây dựng gia đình hạnh phúc theo Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu...có nghĩa vụ sống chung...”. Do vậy, xét yêu cầu ly hôn của bà Trần Hoàng Nô V là có căn cứ và phù hợp quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
- Về con chung: Bà Trần Hoàng Nô V và ông Bùi Huy P có một con chung tên Bùi Trần Thiên N, sinh ngày 21/4/2023. Bà Trần Hoàng Nô V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Bùi Huy P cấp dưỡng.
Hội đồng xét xử xét thấy con chung tên Bùi Trần Thiên N, sinh ngày 21/4/2023 dưới ba tuổi hiện đang sống chung với bà Trần Hoàng Nô V, nên cần giao con chung cho bà Trần Hoàng N1 Va trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông P do bà Trần Hoàng Nô V không yêu cầu.
- Về tài sản chung: Bà Trần Hoàng Nô V xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nghĩa vụ dân sự: Bà Trần Hoàng Nô V xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do nguyên đơn Bà Trần Hoàng Nô V phải nộp không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 264, Điều 266; Điều 267; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Trần Hoàng Nô V.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Hoàng Nô V được ly hôn với và ông Bùi Huy P. Quan hệ hôn nhân theo Giấy chứng nhận kết hôn số 36/2022 ngày 12/4/2022 của Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Bùi Huy P và bà Trần Hoàng Nô V chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
- - Về con chung: Giao con chung tên Bùi Trần Thiên N, sinh ngày 21/4/2023 cho bà Trần Hoàng N1 Va trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông P do bà Trần Hoàng Nô V không yêu cầu.
Khi có lý do chính đáng mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Nếu hai bên không tự thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong trường hợp bà Trần Hoàng Nô V không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì trên cơ sở lợi ích của con, bà Trần Hoàng Nô V hoặc ông P, hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Ông P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
- - Về tài sản chung: Không có nên không xem xét
- - Về nghĩa vụ dân sự: Không có nên không xem xét.
2. Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Bà Trần Hoàng N1 Va nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007410 ngày 11/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Hoàng Nô V đã nộp đủ án phí.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
4. Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Trúc Lý |
Bản án số 739/2024/HNGĐ-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 739/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
