Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN PHÚ NHUẬN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 736/2024/DS-ST

Ngày: 31-7-2024.

V/v tranh chấp về hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Ngọc Mỹ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Thanh Dung
  2. Bà Trần Thị Xuân Thảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Ánh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích P - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 232/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 88/2024/QĐST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Trụ sở: Lầu H, 2 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Tổng Giám đốc.

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Công ty TNHH MTV Q và Khai thác tài sản Ngân hàng S (Công ty S1).

Trụ sở: 278 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật Công ty S1: Ông Lê Ngọc T - Tổng Giám đốc. (Giấy ủy quyền số: 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022)

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Thân Lê N, sinh năm 1978 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Giấy ủy quyền số: 231/2024/UQ-TGĐ ngày 03/01/2024)

2. Bị đơn: Ông Trương Nguyễn Tuấn H, sinh năm 1997. (vắng mặt)

Nơi thường trú: 129/29 L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Nơi cư trú: C P, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 26/02/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (người đại diện hợp pháp ông Thân Lê N) trình bày:

Ngày 19/02/2020, ông Trương Nguyễn Tuấn H ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (viết tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng kèm theo Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (đơn vị phát hành thẻ) - các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Cụ thể: Loại thẻ Master, số thẻ 526830-3795, hạn mức 30.000.000 đồng, lãi suất áp dụng 2.77%/tháng.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 82.579.612 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt đến nay, ông H đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 71.969.989 đồng. Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 21 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự sau: Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước, giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước, giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước, các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ, giao dịch rút tiền mặt trong kỳ, giao dịch mua hàng hóa trong kỳ).

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng (viết tắt Bản điều khoản); ngày 23/11/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 35.690.242 đồng sang nợ quá hạn và làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 4.15%/tháng (= lãi suất trong hạn 2.77%/tháng x 150%) (Điều 24 của Bản điều khoản). Tính đến ngày 31/7/2024, ông H còn nợ các khoản sau gồm nợ gốc 35.690.242 đồng, lãi quá hạn 30.455.120 đồng, tổng cộng 66.145.362 đồng.

Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu ông H có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên ông H vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại hợp đồng đã ký. Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông H trả ngay một lần cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 31/7/2024 là 66.145.362 đồng, trong đó nợ gốc 35.690.242 đồng, lãi quá hạn 30.455.120 đồng. Và ông H có trách nhiệm trả lãi phát sinh từ ngày 01/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng.

Bị đơn ông Trương Nguyễn Tuấn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ông H vắng mặt không lý do.

* Tại phiên tòa hôm nay:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Thân Lê N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn ông H đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị đơn ông H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với Ngân hàng, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (viết tắt là Ngân hàng) khởi kiện yêu cầu ông Trương Nguyễn Tuấn H thanh toán khoản nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 19/02/2020. Xét đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Theo nội dung Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 19/02/2020, ông H cung cấp địa chỉ hộ khẩu tại 1 L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk và địa chỉ liên lạc tại C P, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo kết quả xác minh của Công an phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk: Ông H đăng ký thường trú tại tổ dân phố B phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Từ khoảng năm 2014 đã không còn cư trú tại địa phương, không rõ đi đâu, làm gì. Qua khai thác dữ liệu căn cước công dân tại thời điểm 17/8/2021, ông H cư trú tại địa chỉ C P, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo kết quả xác minh của Công an P1, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông H đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố B phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, có cư trú tại địa chỉ C P, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2020 đến tháng 02/2022 chuyển đi nơi khác, không rõ đi đâu làm gì.

Theo văn bản trình bày ngày 10/6/2024, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Thân Lê N không đồng ý thực hiện thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng đối với ông H và đề nghị giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, tranh chấp về hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng và ông H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

[1.3] Về việc xét xử vắng mặt đương sự:

Ngày 28/6/2024, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Thân Lê N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý; giấy triệu tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ nhất vào ngày 08/7/2024, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai vào ngày 31/7/2024 cho ông H nhưng ông H không đến Tòa án tham gia tố tụng, không có ý kiến với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ và vắng mặt không có lý do.

Căn cứ khoản 4 Điều 91; điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông N và bị đơn ông H; đồng thời giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập trong vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng yêu cầu ông H thanh toán nợ gốc là 35.690.242 đồng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 19/02/2020, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Theo nội dung Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 19/02/2020, ông H được Ngân hàng phê duyệt cấp thẻ tín dụng, loại thẻ Master, số thẻ 526830-3795, hạn mức 30.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Đồng thời, ông H cũng xác nhận đã đọc và đồng ý bị ràng buộc với Bản điều khoản. Xét thấy, nội dung Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 19/02/2020 là phù hợp điểm d khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 13 Thông tư số: 19/2016/TT-NHNN 30/6/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng, nên có hiệu lực pháp luật.

Theo tóm tắt sao kê ngày 31/7/2024 do Ngân hàng cung cấp thể hiện: Quá trình sử dụng thẻ từ ngày 22/02/2020 đến ngày 22/7/2022, ông H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 82.579.612 đồng và đã thanh toán nhiều lần cho Ngân hàng với tổng số tiền 71.969.989 đồng. Từ ngày 22/8/2022, ông H không tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng, vi phạm nghĩa vụ thanh toán với Ngân hàng căn cứ thỏa thuận tại Điều 13 và Điều 24 của Bản điều khoản. Ngày 23/11/2022, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ gốc thời điểm này là 35.690.242 đồng sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 31/7/2024, ông H còn nợ Ngân hàng nợ gốc là 35.690.242 đồng.

Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 19/02/2020 và Bản điều khoản, Ngân hàng yêu cầu yêu ông H thanh toán nợ gốc 35.690.242 đồng là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng yêu cầu ông H thanh toán nợ quá hạn là 30.455.120 đồng, tạm tính đến ngày 31/7/2024 và khoản lãi phát sinh kể từ ngày 01/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng:

Theo Quyết định v/v ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ T1 phát hành tại Việt Nam số: 2661/2022/QĐ-TTT ngày 28/10/2022 của Ngân hàng, lãi suất thẻ tín dụng nội địa là 2.77%/tháng, 33.2%/năm. Theo thỏa thuận tại Điều 24 của Bản điều khoản, áp dụng lãi suất quá hạn đối với toàn bộ dư nợ theo quy định của S2, là 150% của lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại, cụ thể lãi suất quá hạn hạn = 2.77%/tháng x 150% = 4.15%/tháng. Cụ thể tiền lãi quá hạn mà ông H còn phải trả cho Ngân hàng trên nợ gốc 35.690.242 đồng, tạm tính đến ngày 31/7/2024 là 30.455.120 đồng.

Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 13 Thông tư số: 19/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng, thì lãi suất Ngân hàng áp dụng là phù hợp quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, ông H có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng tiền lãi quá hạn tạm tính đến ngày ngày 31/7/2024 là 30.455.120 đồng.

Ngoài ra, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 19/02/2020.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc ông H có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 31/7/2024 là 66.145.362 đồng, trong đó nợ gốc 35.690.242 đồng, lãi quá hạn 30.455.120 đồng. Ngoài ra, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 19/02/2020; đồng thời phù hợp với ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên ông H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.307.268 đồng, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQG14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, Điều 147; điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 91, khoản 1 Điều 95, điểm d khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Điều 13 Thông tư số: 19/2016/TT-NHNN 30/6/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng;

Căn cứ Điều 5 và khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQG14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018, 2020 và 2022).

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

    Ông Trương Nguyễn Tuấn H có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền 66.145.362 (sáu mươi sáu triệu một trăm bốn mươi lăm nghìn ba trăm sáu mươi hai) đồng, trong đó nợ gốc 35.690.242 đồng và lãi quá hạn 30.455.120 đồng, tạm tính đến ngày 31/7/2024; phát sinh từ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 19/02/2020 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và ông Trương Nguyễn Tuấn H.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Trương Nguyễn Tuấn H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 19/02/2020 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và ông Trương Nguyễn Tuấn H.

    Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

  2. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Trương Nguyễn Tuấn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.307.268 (ba triệu ba trăm lẻ bảy nghìn hai trăm sáu mươi tám) đồng.

    Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.393.000 (một triệu ba trăm chín mươi ba nghìn) đồng theo biên lai thu số 0032220 ngày 07/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018, 2020 và 2022) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018, 2020 và 2022), thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018, 2020 và 2022).

  3. Về quyền kháng cáo:

    Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • TAND TPHCM;
  • VKSND quận Phú Nhuận, TPHCM;
  • Chi cục THADS quận Phú Nhuận, TPHCM;
  • Các đương sự;
  • Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Văn Thị Ngọc Mỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 736/2024/DS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 736/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger