Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

Bản án số:736/2024/DS-PT

Ngày: 13/12/2024

V/v tranh chấp Hợp đồng

vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Tuyết Băng

Các Thẩm phán: Ông Chu Tuấn Anh

Ông Trương Chí Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lưu Ly- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:

Bà Trịnh Thu Tân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 232/2024/TLPT-DS ngày 17/7/2024, về việc “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án số 140/2024/DS-ST ngày 21/5/2024 của Tòa án nhân dân quận B bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 528/2024/QĐ-PT ngày 14/11/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 633/2024/QĐPT-HPT ngày 27/11/2024; giữa:

*Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Thanh T, sinh năm 1961.

Nơi thường trú: Số A ngõ A phố K, phường K, quận T, thành phố Hà Nội. ( Có mặt).

*Bị đơn: Bà Hoàng Thị Minh G, sinh năm 1972. (Có mặt)

HKTT: B6 G093 Đơn nguyên 1, 1 N, G, B.

Nơi ở: P Tòa C phố T, phường G, quận B, thành phố Hà Nội. ( Vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1969; (Vắng mặt)

HKTT: SỐ H hẻm I, ngách C, ngõ G, A, Y, T, thành phố Hà Nội. ( Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn là bà Đỗ Thị Thanh T trình bày: Từ cuối năm 2019 đến tháng 8 năm 2020 bà cho chị Hoàng Thị Minh G vay tiền 09 lần, có giấy tờ thỏa thuận vay với tổng số tiền vay là 5.520.000.000 đồng. Việc vay nợ hai bên có lập giấy vay viết tay, cả 09 giấy vay nợ chị G là người giữ.

Bà xác nhận tính đến ngày 19/01/2021 chị G đã thanh toán trả hết cho bà số tiền nợ gốc là 5.520.000.000 đồng số tiền này chị G thanh toán trả rải rác không theo đúng giấy vay.

Quá trình thực hiện hợp đồng bà đã ghi âm lại nội dung nhận tiền gốc và giấy tờ vay gốc, cũng như việc tính lãi giữa hai bên. Chị G đã thanh toán trả lãi cho bà một phần theo thỏa thuận của hai bên với lãi suất là 2%/tháng, Tổng số tiện lãi của 9 giấy vay là 293.000.000 đồng, bà đã nhận lãi 293.000.000 đồng. Chị G còn nợ bà một phần nợ lãi theo thỏa thuận 2%/tháng của 09 giấy vay với số tiền lãi tổng là 320.000.000 đồng chị G chưa thanh toán trả cho bà. Tuy nhiên, nay bà chỉ yêu cầu chị G trả lãi cho bà với mức lãi suất là 1,66%/tháng là: 253.453.000 đồng.

Cụ thể lãi, bà xin giải trình như sau:

Chứng cứ chứng minh chị G còn nợ lãi của 09 lần vay: bà xuất trình Vi bằng số 0207/2024/VB-TPLKĐT ngày 27/02/2024 chứng minh có cuộc ghi âm giữa bà và chị G về việc chưa trả lãi.

1/ Giấy vay 700.000.000 đồng (bảy trăm triệu) ngày 29/12/2019.

Theo giấy này hai bên thoả thuận cho vay gốc 700.000.000 đồng, thời gian vay từ ngày 29/12/2019 đến 29/10/2020, lãi suất thỏa thuận 2%/tháng. Thỏa thuận lấy lãi 3 tháng/lần, nếu trả lãi trước chị G sẽ trừ ngay lãi khi nhận tiền gốc rồi ghi luôn vào “Giấy vay tiền” số tiền đã trả lãi, còn nếu trả lãi sau chị G sẽ ghi ngay vào giấy vay tiền là "Trả lãi sau” (Thỏa thuận này là cho tất cả các lần chị G vay tiền, áp dụng cho tất cả các giấy vay tiền ký hai bên).

Ngày hẹn trả của giấy vay này là 29/10/2020 (thỏa thuận thời hạn phải trả tiền gốc là 10 tháng).

Ngày trả tiền gốc 25/9/2020 (lấy tiền mặt tại nhà chị G, có ghi âm ngày 25/9/2020 Thủy cầm 1 tỷ 400 triệu. Ghi âm ngày 1/11/2020 sẽ nói rõ Thủy cầm 1 tỷ 400 triệu ngày 25/9/2020 là chị G trả cho tiền gốc của 2 giấy vay (700 triệu vay 29/12/1019 và 700 triệu vay 20/4/2020). Như vậy, đối với giấy vay này, ngày 25/9/2020 chị G đã trả gốc 700.000.000 đồng, căn cứ chứng minh ngày 25/9/2020 chị G trả gốc là:

Trang 1 Vi Bằng (file ghi âm ngày 01/11/2020): Trích File ghi âm lại tại nhà G2 ngày 25/9/2020.

G: Không em không trả lãi vội mà em cứ biết em trả gốc cho chị rồi chị đưa em cái giấy tờ thì chị em mình sẽ tính toán sau. Em cứ biết ngày hôm nay chị nhận của em 1 tỷ tư.

Trang 3 của vi bằng (file ghi âm ngày 01/11/2020): “Giang: 25/9 em trả chị tỷ tu".

T: Trong đấy có 700 này này.”

- 2 -

Theo giấy vay này thì:

Lãi chị G đã trả:

Ngày 29/12/2019 đến 29/3/2020 trả 42.000.000 đồng cho 3 tháng, chị G ghi “đã trả lãi” luôn vào tờ giấy vay “ “Hôm nay trả lãi trước 3 tháng từ 29/12/2019 đến 29/3/2020). Từ lần sau sẽ trả lãi sau tức là đến ngày 29/6/2020 chị T mới được lấy lãi lần nữa”.

Ngày 29/3/2020 đến 29/6/2020 trả 42.000.000 đồng cho 3 tháng.

Theo thỏa thuận đúng như ghi trong giấy vay tiền (bà đến nhà chị G vào ngày 30/6/2020 tại Chung cư C phòng 1302, Trần Huy L lấy 42 triệu cho 3 tháng từ 29/3/2020 đến 29/6/2020). Bà lấy lãi bằng tiền mặt, ghi “Giấy biên nhận tiền”, ký tên, giấy này bà đưa chị G cầm.

Tổng tiền lãi chị G đã trả bà 6 tháng là: 42.000.000 đồng + 42.000.000 đồng = 84.000.000 đồng (chứng cứ chứng minh đã trả lãi: Là 03 tháng đầu ghi trong giấy vay. 03 tháng sau, bà đến nhà chị G lấy lãi 42.000.000 đồng, bà viết giấy biên nhận tiền nhận lãi, ký tên ngày 30/6/2020, giấy này chị G cầm).

Lãi chưa trả:

Căn cứ chứng minh: Trang 3 vi bằng: “ Giang: 29/6 đến 29/7 là 1 tháng này. 29/7 đến 29/8 là 2 tháng này. 29/8 đến 29/9 là 3 tháng. Coi như thừa lãi 3 ngày. Nợ lãi 3 tháng.”

Như vậy, bà tính lãi từ 29/6/2020 đến 25/9/2020 ( ngày trả gốc): 2 tháng 26 ngày.

Tính lãi theo quy định của pháp luật là 1,66%/tháng của 700.000.000 sẽ là 11.620.000 đồng/tháng

2 tháng = 11.620.000 đ x 2 tháng = 23.240.000₫

26 ngày = 387.000đ/ngày x 26 ngày = 10.062.000₫

Tổng lãi chưa trả: 23.240.000đ + 10.062.000đ = 33.302.000 đ.

2/ Giấy vay 700.000.000 đồng vay ngày 20/4/2020:

Theo giấy vay này thì bà cho chị G vay 700.000.000 đồng, thời hạn vay 05 tháng từ 20/4/2020 đến 20/9/2020, lãi suất 2%/tháng.

Ngày 25/9/2020, chị G đã trả 700.000.000 đồng gốc căn cứ chứng minh ngày 25/9/2020 G trả gốc:

Trang 1 Vi Bằng(file ghi âm ngày 01/11/2020): Trích File ghi âm lại tại nhà G2 ngày 25/9/2020.

G: Không em không trả lãi vội mà em cứ biết em trả gốc cho chị rồi chị đưa em cái giấy tờ thì chị em mình sẽ tính toán sau. Em cứ biết ngày hôm nay chị nhận của em 1 tỷ tư.

Trang 3 của vi bằng (file ghi âm ngày 01/11/2020): “Giang: 25/9 em trả chị tỷ tu".

Lãi đã trả:

- 3 -

Ngày 20/4/2020 đến 20/7/2020, trà 42.000.000 đồng cho 3 tháng. (Chứng cứ chứng minh: G viết luôn vào giấy vay là đã trả lãi.

Lãi chưa trả:

Chứng cứ chứng minh: Trang 4 Vi bằng:

Trang 4 Vi bằng (file ghi âm ngày 01/11/2020):

“G: Đến cái này là 700 triệu ngày 20/4/2020 nhé.

T: D đã trả được 3 tháng rồi.

Giang: 20/4 đến 20/7 đã trả lãi rồi. còn nợ từ 20/7.

20/7 đến 20/8 là 1 tháng. 20/8 đến 20/9 là 2 tháng. Còn thiếu 5 ngày lãi nữa. Thế là 2 tháng 5 ngày nhé. Được rồi em cứ biết thế.

Từ 20/7/2020 đến 25/9/2020 ( ngày trả gốc) là 2 tháng 5 ngày.

Tính 1,66%/tháng của 700.000.000 đồng sẽ là 11. 620.000 đồng/tháng.

2 tháng = 11.620.000 đồng x 2 tháng = 23.240.000 đồng.

5 ngày = 387.000 đ/ngày x 5 ngày = 1.935.000 đồng.

*Tổng lãi chưa trả: 23.240.000 đồng + 1.935.000 đồng

= 25.175.000 đồng.

3/ Giấy vay 1.000.000.000 đồng vay ngày 5/6/2020

Lãi suất thỏa thuận 2%/tháng.

Ngày hẹn trả: 30/9/2020 (thỏa thuận thời hạn phải trả tiền gốc là 3 tháng).

Ngày trả tiền gốc 7/9/2020 ( chị G chuyển khoản qua ngân hàng). Bà đã nhận gốc ngày 7/9/2020.

Lãi đã trả:

Ngày 5/6/2020 đến 5/9/2020 trả 60.000.000đồng cho 3 tháng lãi. Bà đã nhận lãi 60.000.000 đồng. (Trang 3 của vi bằng: “ Giang: ....3 tháng này em đã trả lãi, thiếu 4 ngày lãi. Xong.”).

Lãi chưa trả: G nói là thiếu 4 ngày nhưng bà tính 2 ngày.

Còn 2 ngày chưa trả lãi vì là ngày 7/9 không phải ngày 9/9.

Tính 1,66%/tháng của 1000.000.000 đồng là 550.000 đồng/ngày.

Tổng lãi còn 2 ngày = 1.100.000 đồng ( Một triệu một trăm ngàn ).

4/ Giấy vay 200.000.000 đ ( Hai trăm triệu) vay ngày 27/7/2020.

Chị G vay 200.000.000 đồng, thời hạn vay từ 27/7/2020 đến 10/2020 (03 tháng), với lãi suất thỏa thuận 2%/tháng.

Ngày trả tiền gốc: 29/9/2020 bà nhận gốc 200.000.000 đồng (chị G chuyển khoản qua ngân hàng).

Trong giấy này, chị G ghi: “Lãi trả sau”.

- 4 -

Lãi chưa trả:

Từ 27/7/2020 đến 29/9/2020 ( ngày trả gốc): 2 tháng 2 ngày.

Tính 1,66%/tháng của 200.000.000 đồng là 3.320.000 đồng/tháng.

2 tháng = 3.320.000 đồng x 2 = 6.640.000 đồng

2 ngày = 110.000 đồng/ngày x 2 = 220.000 đồng

Tổng lãi chưa trả: 6.860.000 đồng.

5/ Giấy vay 500.000.000 đ ( Năm trăm triệu) vay ngày 30/7/2020.

Ngày 30/7/2020 cho chị G vay 500.000.000 đồng, thời hạn vay 03 tháng, lãi suất thỏa thuận 2%/tháng.

Hẹn trả tiền gốc vào tháng 10/2020

Ngày trả tiền gốc: 29/9/2020 tôi nhận tiền gốc (chị G chuyển khoản qua ngân hàng cùng với khoản vay 200.000.000 đồng, như vậy chuyển 700.000.000 đồng cho hai khoản vay: 200.000.000 đồng và 700.000.000 đồng).

Trong giấy này, chị G ghi: “Lãi trả sau”.

Lãi của giấy vay này chị G chưa trả.

Lãi chưa trả:

Trang 5 Vi bằng (file ghi âm ngày 01/11/2020): “ Giang: Trả lãi sau, OK em đều ghi đây rồi. Ok.

T: Lãi sau mà, chắc chắn, riêng chị em không phải lo.

G: Được rồi nợ chị 2 tháng nhé. Em cứ ghi là nợ 2 tháng lãi nhé. Ok rồi tính lãi thì hai chị em mình tính sau. Là ok, là xong.

Từ 30/7/2020 đến 30/9/2020 ( ngày trả gốc): 2 tháng.

Lãi suất 1,66%/tháng của 500.000.000 đồngsẽ là 8.300.000 đồng/tháng.

2 tháng = 8.300.000 đồng x 2 = 16.600.000 đồng.

Đối với 05 giấy vay nói trên G chưa trả số tiền lãi như đã giải trình ở trên và chứng cứ chứng minh là:

Trang 13 của vi bằng (file ghi âm ngày 01/11/2020)

T: Ghi thế phân biệt với 4 tờ kia về gốc. Còn lãi là chưa tính. Giờ tính luôn lãi đi.

G: Lãi hôm nay em không có đủ tiền ở đây. Thôi cứ để hôm nào trả xong. Thôi.

Trang 14 của vi bằng(file ghi âm ngày 01/11/2020):

Thuỷ: Thế mày cứ ghi vào là lãi chưa trả chứ lị. Về sau quên mất để chết tớ à?.

G: Thế thì đấy nó có chữ của em. Nó có chữ của em đấy. Tờ nào em viết tờ đấy rồi.

- 5 -

Trang 15 của vi bằng(file ghi âm ngày 01/11/2020):

T: Theo chị dì chưa trả tiền thì thôi nhưng mà vẫn phải tính lãi đi, tính lãi 5 cái tờ kia đi.

G: Không giời ơi lúc nào em trả em tính sau không tính trước để làm cái gì. Nó có ngày có tháng ở đây mà.

T: Cái gì nó dứt diểm cái dấy đi. Xong nếu chưa có tiền thì ghi chữ “NỢ” vào đấy. Đi

Trang 16 của vi bằng(file ghi âm ngày 01/11/2020):

T: Thế giấy gốc thì đưa nhưng lãi chưa có nhé. Tính toán sau nhé. Có nghĩa là cái lãi là chưa tính.

Trang 17 của vi bằng:

G: Rồi rồi rồi...

6/ Giấy vay 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu)

Ngày vay: 29/5/2020 (Giấy vay ghi 29/5/2019 là do chị G viết nhầm năm 2020 thành 2019).

Lãi suất thỏa thuận 2%/tháng, thời hạn vay 4 tháng, đến 29/9/2020

H trả vào 29/9/2020, nhưng ngày 30/12/2020 chị G trả 120.000.000 đồng gốc. ( chứng cứ chứng minh: Là giao dịch chuyển khoản qua Ngân hàng G3 chuyển trả tiền gốc).

Từ 29/5/2020 đến 30/12/2020 : là 7 tháng 01 ngày.

Tính 1,66%/tháng của 120.000.000 đồng sẽ là 1.998.000 đồng/tháng

7 tháng 1 ngày = (1.998.000 đồng x 7)+ 70 ngàn = 14.786.000 đồng

Chị G nói lấy tiền của người tên là T1 do G gửi nhờ vào tài khoản của T ( số tiền T1 gửi là 15.000.000 đồng) để trừ vào lãi của giấy này.

Bà phải trả tiền phạt hộ chị G coi như bà chịu, không tính vào giấy này.

Vậy thì giấy vay 120.000.000 đồng này đã thanh toán xong cả gốc và lãi nên không yêu cầu.

7/ Giấy vay 200 000.000 đ ( Hai trăm triệu ) ngày vay 11/11/2019

Lãi suất thỏa thuận 2%/tháng, thời hạn vay 12 tháng. Ngày đến hạn trả 11/11/2020.

Ngày 30/12/2020 chị G trả gốc.( chứng cứ chứng minh: Là giao dịch chuyển khoản qua Ngân hàng G3 chuyển trả tiền gốc).

Trang 2 của vi bằng (file ghi âm ngày 19/01/2021)

T (cho vay): 120 với 200 thì gốc trả rồi nhưng lãi chưa trả.

G: Vâng, thì chị cứ đưa em.

Trang 64 (file ghi âm ngày 19/01/2021).

- 6 -

G: Thì em bảo là chị thích trừ kiểu gì thì trừ. Giờ chị cứ đưa cái phiếu 120 triệu hay 200 ra đây. Liệu chuẩn bị trả ....ừ hai cái phiếu này trả tiền gốc rồi giờ chỉ có tính trả lãi thôi.

Chị G trả 3 tháng lãi từ 11/11/2019 đến 11/2/2020 (đã trả 12 triệu) và ghi luôn vào giấy vay.

Theo giấy vay này thì bà cho chị G vay 200.000.000 đồng, sau đó chị G cho chị S vay như nào bà không quan tâm.

Nhưng chị G có cho chị S số tk của bà nên chị S chuyển khoản vào TK của bà (T) trả lãi như sau:

Từ 11/2/2020 đến 11/5/2020 chị S đã trả 12 triệu/3 tháng.

Ngày 11/5/2020 đến 11/8/2020 đã trả 12 triệu/3 tháng.

Ngày 11/8/2020 chia làm đôi.

Ngày 11/8/2020 đến 11/11/2020 S chuyển 6 triệu trả lãi cho 100 triệu gốc.

Tổng trả được: 12tr+12tr+12tr+6tr = 42 triệu (Bốn hai triệu) lãi. (chứng minh bằng giao dịch chuyển khoản qua ngân hàng mà S chuyển cho bà).

Lãi chưa trả:

Chứng cứ chứng minh:

Trang 17 đến 22 của vi bằng (file ghi âm ngày 19/01/2021):

Trang 20 (file ghi âm ngày 19/01/2021):

G: Danh nghĩa chị S nợ mình chỉ còn có 100 nhưng mình phải nợ chị T 200...

G: ... Nhưng giờ mình chấp nhận là chị S trả mình 100 ý. Đúng không. Thì trên danh nghĩa mình vẫn chịu lãi 200 ý.

...

G: Bây giờ chị chỉ nợ em 100 triệu nữa thôi....

S: Đúng rồi, đúng rồi.

Trang 21 (file ghi âm ngày 19/01/2021)

G: Chị trả 100 triệu ý vào cái ngày nào thì cũng không quan trọng nữa vì sẽ coi là tiền của em.

Sáu: Đúng rồi đúng rồi.

Từ 11/11/2020 chị S dừng hẳn không trả lãi nữa.

Từ 11/8/2020 chị G cầm 100 triệu gốc nhưng không trả lãi (100 triệu Sáu rút từ giấy 200 triệu do chị G viết giấy vay cho T), T rút ra đưa lại cho chị G. Chị G cầm gốc nhưng quỵt luôn lãi từ 11/8/2020 đến nay.

Cho đến nay hai cô này quỵt luôn tiền lãi còn nợ là:

- 7 -

Chị S chưa trả lãi của gốc 100.000.000 đồng từ 11/11/2020 đến 30/12/2020: 1 tháng 19 ngày

Tính 1,66%/tháng của 100 triệu sẽ là 1 triệu 660 ngàn/tháng.

1 tháng = 1 triệu 660 ngàn.

19 ngày = 55 ngàn/ngày x 19 = 1 triệu 045 ngàn.

Tổng lãi chị S chưa trả: 1 triệu 660 ngàn + 1 triệu 045 ngàn = 2 triệu 705 ngàn

Chị G chưa trả lãi 100.000.000 đồng từ 11/8/2020 đến 30/12/2020: 4 tháng 19 ngày.

Tính 1,66%/tháng của 100 triệu sẽ là 1 triệu 660 ngàn/tháng.

4 tháng = 1 triệu 660 ngàn × 4 = 6 triệu 640 ngàn.

19 ngày = 55 ngàn/ngày x 19 = 1 triệu 045 ngàn.

Tổng lãi chị G chưa trả: 6 triệu 640 ngàn +1 triệu 045 ngàn= 7 triệu 685 ngàn (bảy triệu sáu trăm tám làm ngàn).

Tổng cộng chị G chưa trả lãi của giấy vay này là:

2.705.000 đồng + 7.685.000 = 10.380.000 đồng.

8/ Giấy vay 200 000.000 đ ( Hai trăm triệu) ngày 13/8/2020.

Lãi suất thỏa thuận 2%/ tháng, chị G ghi" Trà lãi sau". Không thoả thuận thời hạn vay.

Ngày trả tiền gốc: 19/1/2021 (chị G chỉ trả tiền gốc bằng tiền mặt, chứng cứ chứng minh là file ghi âm ngày 19/01/2021)

Từ trang 17 đến trang 78 (file ghi âm ngày 19/01/2021):

Trang 78 (file ghi âm ngày 19/01/2021):

T: Còn cái giấy 200 triệu cô trả tiền tôi đi.

T3 (file ghi âm ngày 19/01/2021):

G: Đấy thôi chị trả, Lliên.... Trả cho chị ý 200 triệu đi.

G: Đưa luôn cái cọc tiền ấy em vừa mới vay mà. Đấy cứ đưa cái cọc 200.

Lãi chưa trả:

Từ trang 17 đến trang 78 (file ghi âm ngày 19/01/2021):

Trang 78 (file ghi âm ngày 19/01/2021):

T: Còn cái giấy 200 triệu cô trả tiền tôi đi.

T3 (file ghi âm ngày 19/01/2021):

G: Đấy thôi chị trả, Lliên.... Trả cho chị ý 200 triệu đi.

G: Đưa luôn cái cọc tiền ấy em vừa mới vay mà. Đấy cứ đưa cái cọc 200.

Từ: 13/08/2020 đến 19/1/2021 (ngày trà gốc): 5 tháng 6 ngày.

- 8 -

Tính 1,66% /tháng của 200 triệu sẽ là 3.320.000 đồng

5 tháng = 3.320.000 đồng x 5= 16. 600.000 đồng.

6 ngày=110.000 đồng/ngày x 6 = 660.000 đồng.

Tổng lãi chưa trả 16.600.000 đồng + 660.000 đồng = 17.260.000 đồng.

9/ Giấy vay 1.900.000.000 đ vay ngày 9/6/2020.

Chị G vay 1.900.000.000 đồng, chị G viết giấy viết tay ngày 9/6/2020, trong giấy không ghi lãi suất cụ thể là bao nhiêu, nhưng G ghi: vay 1.900.000.000 đồng, kể từ ngày 9/6 đến ngày 15/9/2020 em sẽ trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi.

Từ khi vay chị G đã trả hết gốc, làm 03 lần:

Lần 1: 24/11/2020 chị G trả tiền gốc là 800.000.000 đồng (Chị G chuyển khoản qua ngân hàng). Chứng cứ chứng mình là bản sao kê giao dịch G chuyển khoản cho bà.

Từ 9/6/2020 đến 24/11/2020: 5 tháng 15 ngày.

Tính 1,66%/tháng sẽ là 31.540.000 đồng/tháng.

5 tháng = 31.540.000 đồng × 5 = 157.700.000 đồng.

15 ngày (nửa tháng) = 15.770.000 đồng.

Tổng lãi lần 1: 157.700.000 đồng + 15.770.000 đồng = 173.470.000 đồng.

Lần 2: 17/12/2020, chị G trả tiền gốc là 800.000.000 đồng (chuyển khoản qua ngân hàng). Chứng cứ chứng minh là bản sao kê giao dịch Ngân hàng G3 chuyển khoản cho tôi.

Vậy Từ 24/11/2020 còn nợ gốc 1 tỷ 100 triệu nên

Từ 24/11/2020 đến 17/12/2020: 23 ngày

Tính lãi là 1.66%/tháng = 13.984.000đồng/tháng

Lần 3: 19/1/2021. Trả 300 triệu tiền gốc bằng tiền mặt tại nhà bà. ( chứng cứ chứng minh là file ghi âm ngày 19/01/2021).

Trang 70 (file ghi âm ngày 19/01/2021):

T: Gốc còn 300 nữa.

G: Chị T trả cho em cho chị ý 300 đi.

Trang 71 (file ghi âm ngày 19/01/2021).

T: Trả nốt 300 hết gốc thì bây giờ bắt đầu tính lãi đi.

Trang 72 (file ghi âm ngày 19/01/2021).

T: Em tính lãi cho chị luôn đi, từ 9/6 trở đi.

G: Vâng nhưng xong rồi em còn lấy sổ ra trả những gì như thế nào.

Từ 17/12/2020 đến 19/1/2021 : 32 ngày

Còn gốc 300 triệu: Tính 1,66%/tháng = 4.980.000 đồng/tháng

1 tháng = 4.980.000 đồng.

- 9 -

2 ngày = 166.000/ngày x 2 = 332 000 đ.

Tổng lãi lần 3: 4.980.000 đồng + 332.000 đồng = 5.312.000 đồng.

Tổng nợ lãi cả 3 lần:

173.700.000 đồng + 13.984.000 đồng + 5.312.000 đồng = 192.760.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền nợ lãi của 09 giấy vay nợ trên chị G phải thanh toán trả cho bà là:

83.037.000 đồng + 221.211.000 đồng = 304.048.000 đồng.

Nhưng do ngày 19/01/2021 là ngày cuối cùng chị G trả tiền, hứa sẽ tính lãi cho từng tờ giấy vay nhưng không thực hiện và hôm đó chị G trả bà 50.000.000 đồng tiền lãi nên bà sẽ trừ số tiền này sau khi trừ số tiền này chị G còn nợ bà số tiền lãi là:

303.453.000 đồng – 50.000.000 đồng = 253.453.000 đồng.

Nay bà đề nghị Toà án buộc chị G trả cho bà tổng số tiền lãi của 09 giấy vay nợ trên là 253.453.000 đồng.

*Tại Các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn là bà Hoàng Thị Minh G trình bày: Bà và chị T là chị em họ (Bố của bà là em trai của mẹ bà T), bà thừa nhận có vay tiền của chị T nhiều lần vào khoảng năm 2020, không nhớ tháng, không nhớ cụ thể là vay bao nhiêu lần, số tiền vay bao nhiêu không nhớ. Mục đích chị vay tiền để kinh doanh quần áo đồng phục. Mỗi lần vay bà và chị T đều làm giấy tờ vay, có cả giấy vay đánh máy và giấy vay viết tay do bà viết và ký.

Khi bà trả tiền gốc và lãi thì chị T đưa lại toàn bộ 09 giấy vay nợ bản gốc cho bà. Khi trả gốc và lãi hai bên không làm giấy biên nhận.

Tổng số tiền cả gốc và lãi bà đã trả cho chị T là 5.520.000.000 đồng (khi trả chị T nhận tiền thì chị T đưa cho bà toàn bộ giấy tờ gốc và bà đã nộp cho Toà án các giấy tờ gốc đó). Thời gian trả số tiền này vào khoảng tháng 11/2020, do lâu ngày nên bà không nhớ thời gian cụ thể.

Cụ thể các lần vay như sau:

1/ Giấy vay 700.000.000 đồng ngày 29/12/2019: hạn vay là 10 tháng.

Theo giấy này hai bên thoả thuận cho vay gốc 700.000.000 đồng, thời gian vay từ ngày 29/12/2019 đến 29/10/2020, lãi suất thỏa thuận 2%/tháng. Thời hạn vay là 10 tháng.

Thỏa thuận lấy lãi 3 tháng/lần, lãi bà trả trước 3 tháng, bà T nhận lãi 03 tháng ngày 29/12/2029.

Ngày hẹn trả của giấy vay này là 29/10/2020.

Khi bà trả hết tiền gốc và tiền lãi cho bà T thì bà T trả giấy gốc.

Phần cuối của giấy vay này bà có viết bằng mực bị đen có dòng chữ:

Đã TT đầy đủ tiền gốc + lãi tiếp theo.

- 10 -

Sau đó bà ký và ghi rõ họ tên của bà.

Thời điểm viết: Khoảng tháng 11 năm 2020, sau khi nhận được giấy vay gốc từ bà T giao cho bà thì bà viết.

Lý do viết: Do bà đã trả hết gốc và lãi cho bà T nên bà viết như vậy vào bản gốc giấy vay.

2/ Giấy vay 700.000.000 đồng vay ngày 20/4/2020: Thời hạn vay 5 tháng (Giấy viết tay do bà G là người viết).

Theo giấy vay này thì bà vay 700.000.000 đồng, thời hạn vay 05 tháng từ 20/4/2020 đến 20/9/2020, lãi suất 2%/tháng và bà T lấy tiền lãi trước 03 tháng.

Lãi đã trả: 03 tháng lãi

Ngày 20/4/2020 đến 20/7/2020, trà 42.000.000 đồng cho 3 tháng.

Ngày 25/9/2020, bà đã trả 700.000.000 đồng gốc và trả nốt 02 tháng tiền lãi từ 20/7/2020 đến 25/9/2020, sau đó bà mới được bà T đưa giấy gốc để cầm về.

Khi nhận tiền gốc và nhận tiền lãi bà và bà T không làm giấy tờ gì mà chỉ trao tiền và bà T trao lại giấy gốc cho bà.

Phần cuối của giấy vay này bà có viết bằng mực bị đen dòng chữ:

Đã TT đầy đủ gốc + lãi tiếp theo.

Sau đó bà ký và ghi rõ họ tên của bà.

Thời điểm viết: Khoảng tháng 11 năm 2020, sau khi nhận được giấy vay gốc từ bà T giao cho bà thì bà viết.

Lý do viết: Do bà đã trả hết gốc và lãi cho bà T nên bà viết như vậy vào bản gốc giấy vay.

3/ Giấy vay 1.000.000.000 đ (Một tỷ) vay ngày 5/6/2020: thời hạn vay 3 tháng)

Lãi suất thỏa thuận 2%/tháng.

Ngày hẹn trả: 30/9/2020 (thỏa thuận thời hạn phải trả tiền gốc là 3 tháng).

Ngày trả tiền gốc bà không nhớ cụ thể nhưng bà nhớ là tháng 11/2020 bà trả tiền gốc bà T, bà trả tiền mặt cho bà T và khi trả đầy đủ thì bà mới được nhận giấy gốc về.

Lãi đã trả: 3 tháng.

Ngày 5/6/2020 đến 5/9/2020 trả 60.000.000đồng cho 3 tháng lãi.

Giấy vay này đã trả cả gốc và lãi, bà không còn nợ bà T giấy này.

Phần cuối của giấy vay này bà có viết bằng mực bị đen dòng chữ:

Đã TT đầy đủ T gốc + lãi.

Sau đó bà ký và ghi rõ họ tên bà (Hoàng Thị Minh G).

Thời điểm viết: Khoảng tháng 11 năm 2020, sau khi nhận được giấy vay gốc

- 11 -

từ bà T giao cho bà thì bà viết.

Lý do viết: Do bà đã trả hết gốc và lãi cho chị T nên bà viết như vậy vào bản gốc giấy vay.

4/ Giấy vay 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu) vay ngày 27/7/2020: thời hạn vay 03 tháng.

Thời hạn vay từ 27/7/2020 đến 10/2020 (03 tháng), với lãi suất thỏa thuận 2%/tháng.

Giấy này bà trả gốc 200.000.000 đồng.

Trong giấy này, bà ghi: “Lãi trả sau”.

Lãi của giấy vay này bà đã trả vì trả rồi thì bà mới được cầm giấy gốc về.

Phần cuối của giấy vay này bà có viết bằng mực bị đen dòng chữ:

Đã TT đầy đủ gốc + lãi tiếp theo.

Sau đó bà ký và ghi rõ họ tên bà (Hoàng Thị Minh G).

Thời điểm viết: Khoảng tháng 11 năm 2020, sau khi nhận được giấy vay gốc từ bà T giao cho bà thì bà viết.

Lý do viết: Do bà đã trả hết gốc và lãi cho chị T nên bà viết như vậy vào bản gốc giấy vay.

5/ Giấy vay 500.000.000 đ ( Năm trăm triệu) vay ngày 30/7/2020: thời hạn vay 03 tháng,

Ngày 30/7/2020 bà vay 500.000.000 đồng, thời hạn vay 03 tháng, lãi suất thỏa thuận 2%/tháng.

Hẹn trả tiền gốc vào tháng 10/2020 .

Ngày 29/9/2020 bà trả gốc.

Trong giấy này, bà ghi: “Lãi trả sau”.

Vì ghi là lãi trả sau nên khi trả gốc cho bà T bà mới được nhận giấy vay gốc về.

Phần cuối của giấy vay này bà có viết bằng mực bị đen dòng chữ:

Đã TT đầy đủ gốc + lãi tiếp theo

Sau đó bà ký và ghi rõ họ tên bà (Hoàng Thị Minh G).

Thời điểm viết: Khoảng tháng 11 năm 2020, sau khi nhận được giấy vay gốc từ bà T giao cho bà thì bà viết.

Lý do viết: Do bà đã trả hết gốc và lãi cho bà T nên bà viết như vậy vào bản gốc giấy vay.

6/ Giấy vay 120.000.000 đồng đề ngày 29/5/2019: thời hạn vay 4 tháng.

Ngày vay: 29/5/2020 (Giấy vay ghi 29/5/2019 là do bà viết nhầm năm 2020 thành 2019).

- 12 -

Lãi suất thỏa thuận 2%/tháng, thời hạn vay 4 tháng, đến 29/9/2020, tuy nhiên 29/9/2020 bà chưa trả được gốc và lãi cho bà T nên đến tháng 11/2020 bà mới trả được cả gốc và lãi và bà được nhận giấy gốc về.

Trong giấy vay này bà có viết bằng mực bị đen dòng chữ:

Đã TT đủ gốc + lãi

Sau đó bà ký và ghi rõ họ tên bà (Hoàng Thị Minh G).

Thời điểm viết: Khoảng tháng 11 năm 2020, sau khi nhận được giấy vay gốc từ bà T giao cho bà thì bà viết.

Lý do viết: Do bà đã trả hết gốc và lãi cho bà T nên bà viết như vậy vào bản gốc giấy vay.

7/ Giấy vay 200 000.000 đ ( Hai trăm triệu ) ngày vay 11/11/2019: thời hạn vay 12 tháng

Lãi suất thỏa thuận 2%/tháng, thời hạn vay 12 tháng. Ngày đến hạn trả 11/11/2020.

Bà đã trả cho bà T cả gốc và lãi đối với giấy vay này, bà là người trực tiếp nhận khoản vay này từ bà Thuỷ và bà cũng đã trả bà T xong.

Bà đã thanh toán gốc vào ngày 30/11/2020.

Bà đã thanh toán cho bà T toàn bộ số tiền gốc và lãi theo mã này.

Trong giấy vay này bà có viết bằng mực bị đen dòng chữ:

Đã TT gốc + lãi tiếp theo.

Sau đó bà ký và ghi rõ họ tên bà (Hoàng Thị Minh G).

Thời điểm viết: Khoảng tháng 11 năm 2020, sau khi nhận được giấy vay gốc từ bà Thuỷ giao cho bà thì bà viết.

Lý do viết: Do bà đã trả hết gốc và lãi cho chị T nên bà viết như vậy vào bản gốc giấy vay.

8/ Giấy vay 200 000.000 đồn ( Hai trăm triệu) ngày 13/8/2010: Không thoả thuận thời hạn vay.

Lãi suất thỏa thuận 2%/ tháng, bà G ghi" Trà lãi sau". Không thoả thuận thời hạn vay.

Ngày trả tiền gốc: tháng 11/2020 bà đã trả tiền gốc và lãi cho bà T nên bà đã cầm được giấy tờ gốc này về.

Trong phần cuối giấy vay này bà có viết bằng mực bị đen dòng chữ:

Em đã nhận lại 100.000.000 đồng của chị S chuyển trả nhờ chị T rút ra hộ.

Ngày 13/8/2020 em G có vay của chị T T/số tiền (200.000₫) (Hai trăm triệu đồng chẵn) (Trả lãi sau)

Sau đó bà ký và ghi rõ họ tên bà (Hoàng Thị Minh G).

Thời điểm viết: Khoảng tháng 11 năm 2020, sau khi nhận được giấy vay gốc

- 13 -

từ bà T giao cho bà thì bà viết.

Lý do viết: Do bà đã trả hết gốc và lãi cho bà T nên bà viết như vậy vào bản gốc giấy vay.

9/ Giấy vay 1.900.000.000 đ vay ngày 9/6/2020.

Bà vay bà T 1.900.000.000 đồng, bà viết giấy viết tay ngày 9/6/2020, trong giấy không ghi lãi suất cụ thể là bao nhiêu, nhưng bà ghi: vay 1.900.000.000 đồng, kể từ ngày 9/6 đến ngày 15/9/2020 em sẽ trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi.

Từ khi vay bà đã trả hết gốc, làm nhiều lần, số tiền lãi trả bao nhiêu bà không nhớ.

Trong phần cuối giấy vay này bà có viết bằng mực bị đen dòng chữ:

Đã TT đầy gốc + lãi tiếp theo.

Sau đó bà ký và ghi rõ họ tên bà (Hoàng Thị Minh G).

Thời điểm viết: Khoảng tháng 11 năm 2020, sau khi nhận được giấy vay gốc từ bà T giao cho bà thì bà viết.

Lý do viết: Do bà đã trả hết gốc và lãi cho bà T nên bà viết như vậy vào bản gốc giấy vay.

Như vậy, tổng số 09 giấy vay tiền nêu trên bà đã trả bà T gốc và lãi theo 9 giấy vay nêu trên. Vào tháng 11/2020 tại nhà riêng của bà T, bà đã trả xong cả gốc và lãi cho bà T theo từng giấy vay, khi trả tiền xong cả gốc và lãi của từng giấy vay, khi bà T nhận tiền gốc và lãi thì bà T giao lại toàn bộ 09 giấy vay gốc cho bà. Khi trả tiền gốc và trả tiền lãi thì hai bên không làm giấy tờ gì mà chỉ giao tiền và giao giấy vay gốc cho nhau theo hình thức “tiền trao cháo múc”.

Đối với 05 giấy vay sau đây, bà xin giải trình như sau: Bản gốc bà cầm và bản phô tô bà Thủy C. Cụ thể:

1/ Giấy vay 700.000.000 đồng ngày 29/12/2019:

Phần cuối của giấy vay phô tô này có dòng chữ viết bằng mực bị xanh là : 29/6 – 29/7 (1 tháng); 29/7- 29/8, 2 tháng; 29/8-29/9, 3 tháng. 3 tháng (Đã trả gốc 700.000.000 đồng, thừa lãi 3 ngày); 25/9 trả một tỷ tư . Đây là chữ của bà tự viết.

Còn dòng chữ: (3 tháng, 3 ngày, N lại): Đây không phải chử của bà mà là chữ của bà T viết.

Thời điểm viết: Khoảng tháng 11 năm 2020. Do bà T đưa bản gốc cho bà nên bà viết vào bản phô tô cho bà T.

2/ Giấy vay 700.000.000 đồng vay ngày 20/4/2020:

Phần cuối giấy photo này bà có viết bằng mực xanh có nội dung:

Dòng chữ “Nợ lãi” Đây không phải chữ của bà.

Các dòng chữ sau đây mới là chữ của bà.

20/7– 20/8: 1

20/8- 20/9. 2 tháng + 5

- 14 -

Đã trả gốc 700

Thiếu (5 ngày) lãi.

Nợ lại.

Thời điểm viết: Bà không nhớ rõ thời điểm viết.

Lý do viết: Vì bà đã trả lãi 2 tháng chỉ còn thiếu 05 ngày lãi, sau đó bà đã trả hết cả 05 ngày lãi thì bà mới được lấy giấy gốc về.

3/ Giấy vay 1.000.000.000 đ (Một tỷ) vay ngày 5/6/2020:

Phần cuối giấy photo bà có viết bằng mực xanh có nội dung:

Đã trả tỷ và thiếu 4 ngày lãi.

5/6 – 5/7 (1 t)

5/7-5/8 1 tháng

5/8-5/9 1 tháng

Đã trả thiếu 4 ngày.

Nợ (Không phải chữ của bà)

Thời điểm viết: Bà không nhớ thời điểm viết.

Lý do viết: Vì bà cầm lại bản gốc của giấy vay này và đưa cho bà T bản phô tô giấy vay, sau đó bà viết các nội dung nêu trên vào bản phô tô giấy vay này.

4/ Giấy vay 200.000.000 đ ( Hai trăm triệu) vay ngày 27/7/2020:

Phần cuối giấy photo bà có viết bằng mực xanh có nội dung:

27/7- 27/8 (1 tháng)

27/8- 27/9 (2 tháng)

Nợ lãi: 2 tháng + 3 ngày.

Đã trả gốc: 2000.000.

Sau đó bà đã trả hết cả 2 tháng+ 3 ngày lãi cho bà T và khi bà trả hết cả gốc và lãi bà T mới giao giấy vay gốc cho bà.

Nợ lại.(không phải chữ của bà)

Thời điểm viết: Bà không nhớ thời điểm viết.

Lý do viết: Vì bà cầm lại bản gốc của giấy vay này và đưa cho bà T bản phô tô giấy vay, sau đó bà viết các nội dung nêu trên vào bản phô tô giấy vay này.

5/ Giấy vay 500.000.000 đ vay ngày 30/7/2020:

Phần cuối giấy photo bà có viết bằng mực xanh có nội dung:

30/7-30/8 (1 tháng)

30/8- 30/9 (2 tháng)

Nợ 2 tháng lãi.

- 15 -

Bà đã thanh toán cả gốc lãi cho bà T và khi bà trả hết cả gốc và lãi bà T mới giao giấy vay gốc cho bà.

Nợ lại. (Không phải chữ của bà).

Thời điểm viết: Bà không nhớ thời điểm viết.

Lý do viết: Vì bà cầm lại bản gốc của giấy vay này và đưa cho bà T bản phô tô giấy vay, sau đó bà viết các nội dung nêu trên vào bản phô tô giấy vay này.

Nay bà T khởi kiện yêu cầu bà phải trả nợ lãi còn thiều là 253.453.000 đồng bà không đồng ý vì bà đã trả hết cả gốc và lãi cho bà T. Không còn nợ bà T khoản tiền nào. Bởi lẽ khoảng tháng 11/2020 tại nhà chị T bà đã quyết toán xong với bà T cả gốc lẫn lãi (có chị Nguyễn Thị L1 và chị Nhâm Thị Thanh T2 là bạn của bà G - người tính gốc và lãi giúp bà G, chị Liên thông B cho bà G số nợ gốc và lãi phải trả và chị Nhâm Thị Thanh T2 đếm lại số tiền gốc và lãi để trả bà T2).

Cuối năm 2023 bà T2 có đến nhà bà và gặp chị Nguyễn Thị L1 đang ở dưới sảnh nhà bà nhưng không gặp bà, bà T2 nói với chị L1 người nhà bà G bảo đã đưa cho chị L1 300.000.000 đồng để mang trả tiền lãi cho bà T2, lúc đó bà không gặp bà T2.

Bà T2 có trình bày ngày 19/01/2021 tại nhà bà T2, bà và bà T2 có quyết toán về việc trả nợ gốc và lãi của 09 khoản vay. Bà không nhớ thời gian cụ thể nhưng cũng có thể vào ngày 19/01/2021 là lúc bà quyết toán với bà T2 về việc trả nợ gốc và lãi của 09 khoán vay.

Đối với những bằng ghi âm hay đoạn băng mà chị T2 đã lập vi bằng và nộp cho Toà án, bà thừa nhận những buổi làm việc với bà thì bà T2 đều ghi âm và bà có đồng ý cho bà T2 ghi âm, việc bà T2 có cắt xén ghi âm hay không thì bà không thể nắm bắt được.

Thời điểm bà thanh toán cả gốc và lãi của các giấy vay tại nhà bà T2, lúc đó bà và bà T2 rất căng thẳng (từ khoản vay 200.000.000 đồng của bà S) nên bà có tuyên bố với bà T2: “Còn giấy tờ gốc nào chị mang hết ra đây”, bà T2 còn nói thiếu những khoản 5 ngày, 3 ngày lãi, lúc đó bà và bà T2 rất căng thẳng nên bà có cho thêm bà T2 50.000.000 đồng và nói là “bố thí” cho bà T2 và sau đó bà đi về luôn.

Những lần bà trả lãi cho bà T2 bà không viết giấy biên nhận, có khoản vay thì trả lãi trước, có khoản trả lãi sau, có lần chuyển khoản, có lần trả tiền mặt. Do lâu ngày bà không nhớ chính xác.

Sau ba ngày trả nợ cho bà T2, bà đã được nhận 09 giấy vay bản gốc về và phát hiện đã trả thừa tiền cho bà T2, tuy nhiên nay bà không yêu cầu bà T2 phải trả lại bà số tiền thừa và cũng không yêu cầu tính lại lãi suất đã trả cho bà T2 do bà và bà T2 là chị em họ.

Bà T2 kiện bà không có căn cứ. Đề nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu của bà T2.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị S trình bày:

Bà không có tài liệu chứng cứ nào xuất trình cho Toà án, không có yêu cầu độc lập, không có yêu cầu gì đối với chị T2 và chị G. Không liên quan gì đến chị

- 16 -

T2 vì bà không vay nợ chị T2.

Vào khoảng tháng 11/2019 bà cần tiền để kinh doanh nên có hỏi vay chị G nhưng chị G không có tiền nên đã vay hộ bà, bà được biết chị G đã vay của chị T2 hộ bà 200.000.000 đồng. Sau đó bà nhận 200.000.000 đồng tiền mặt tại nhà chị G, bà và chị G có viết giấy vay nợ số tiền 200.000.000 đồng này. Khi vay bà và chị G thoả thuận lãi suất là 2%/tháng. Thời hạn vay 01 năm. Khoảng tháng 9/2020 bà trả chị T2 100.000.000 đồng tiền gốc qua tài khoản của chị T2 vì chị G cho bà số tài khoản của chị T2 và ngày 11/5/2021 bà trả chị G 100.000.000 đồng tiền gốc qua tài khoản của chị G. Như vậy, bà đã trả đủ số nợ gốc 200.000.000 đồng cho chị G. Bà cũng trả đủ lãi cho chị G, do thời gian nên bà không nhớ chính xác đã trả bao nhiêu lãi cho chị T2, bà trả lãi qua tài khoản (chị G cho bà số TK của chị T2). Cụ thể bà trả lãi cho bà T2 vào số tài khoản của bà T2 để trả lãi là:

Từ 11/2/2020 đến 11/5/2020 trả 12 triệu.

11/5/2020 đến 11/8/2020 đã trả 12 triệu.

11/8/2020 đến 11/11/2020 chuyển trả 6 triệu.

Như vậy, bà không còn nợ chị G khoản tiền nào. Do bà không liên quan gì đến chị Đỗ Thị Thanh T vì vậy đề nghị Toà án không triệu tập bà nữa. Bà xin được vắng mặt tại Toà án nhân dân quận B trong suốt quá trình giải quyết vụ án và xin vắng mặt tại phiên toà xét xử vụ án.

Tại bản án số 140/2024/DS-ST ngày 21/5/2024 của Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hà Nội đã xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Thanh T đối với bà Hoàng Thị Minh G.
  2. Bà Hoàng Thị Minh G phải trả bà Đỗ Thị Thanh T số tiền nợ lãi: 119.283.000 đồng.

Kể từ ngày bà Đỗ Thị Thanh T có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Hoàng Thị Minh G chưa thi hành thì hàng tháng bà Hoàng Thị Minh G còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định của khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm ngày 10/6/2024 bà Đỗ Thị Thanh T có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án tính lại số tiền lãi; Ngày 13/6/2024 bà Hoàng Thị Minh G có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.

Tại phiên tòa Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo; Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự xác nhận ngoài các tài liệu chứng cứ đã xuất trình cho Tòa án thì không còn chứng cứ nào khác xuất trình cho Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:

- 17 -

+Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự trong vụ án chấp hành quyền, nghĩa vụ theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho các đương sự. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay bà G vắng mặt không có lý do. Do vậy coi như bà G đã từ bỏ quyền kháng cáo, nên đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu kháng cáo của bà G

+Về nội dung: căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ xét thấy có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà T và bà G. Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự sửa bản án dân sự sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà T. Cụ thể buộc bà G phải thanh toán trả cho bà T số tiền nợ lãi là của số tiền 1.900.000.000 đồng theo lãi suất 1,66%/năm; Về án phí các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về tố tụng: Đơn kháng cáo của Nguyên đơn bà Đỗ Thị Thanh T và Bị đơn là bà Hoàng Thị Minh G đều làm trong thời hạn luật định. Người kháng cáo đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, nên việc kháng cáo là hợp lệ. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền.

Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay bà Hoàng Thị Minh G đã được tống đạt hợp lệ, nhưng bà G vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, vì vậy coi như bà G đã từ bỏ yêu cầu kháng cáo, nên đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu kháng cáo của bà G.

- Về người tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho các đương sự. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay Bị đơn bà Hoàng Thị Minh G, và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị S vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hàng xét xử vắng mặt các đương sự.

[2].Về nội dung: Hội đồng xét xử xét thấy quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều xác nhận bà Đỗ Thị Thanh T và bà Hoàng Thị Minh G là chị em họ, nên từ cuối năm 2019 đến tháng 8 năm 2020 bà Đỗ Thị Thanh T cho bà Hoàng Thị Minh G vay 09 lần tiền, với tổng số tiền là 5.520.000.000 đồng. Việc vay tiền hai bên có lập giấy vay nợ, trong đó có 08 giấy vay hai bên thoả thuận lãi suất 2%/tháng và 01 giấy vay không thoả thuận lãi. Sau khi ký giấy vay tiền bà T đã cho bà G vay 5.520.000.000 đồng làm nhiều lần.

Theo bà T thì tính đến ngày 19/01/2021 bà G đã trả bà T toàn bộ số tiền nợ gốc là 5.520.000.000 đồng và một phần nợ lãi là 343.000.000 đồng. Hiện bà G còn nợ bà số tiền nợ lãi của 09 khoản vay là 253.453.000 đồng.

- 18 -

Theo bà G thì bà đã thanh toán trả cho bà T toàn bộ khoản nợ gốc và nợ lãi của 09 khoản vay trên vào ngày 19/01/2021, nên bà T mới trả bà các giấy vay nợ, khi trả gốc và lãi cho bà T hai bên không làm giấy biên nhận, nay đề nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu của bà T.

Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay bà G không xuất trình được các tài liệu chứng cứ để chứng minh về việc bà đã thanh toán trả hết cho bà T số tiền nợ lãi của các giấy vay nợ, các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện:

+ Đối với giấy vay 700.000.000 đồng ngày 29/12/2019: thời hạn vay từ ngày 29/12/2019 đến 29/10/2020, lãi suất thỏa thuận 2%/tháng.

Bà Tê khai ngày 25/9/2020 bà G đã trả gốc 700.000.000 đồng.

Ngày 29/12/2019 đến 29/3/2020 trả lãi 42.000.000 đồng cho 3 tháng.

Ngày 29/3/2020 đến 29/6/2020 trả lãi 42.000.000 đồng cho 3 tháng.

Lãi chưa trả từ ngày 29/6/2020 đến 25/9/2020 (ngày trả gốc): 2 tháng 26 ngày.

Nay bà T yêu cầu tính lãi 1,66%/tháng.

Bà G cho rằng đã trả hết gốc và lãi.

Xét thấy, tại giấy vay tiền (bản photo) bà G xác nhận bà có viết bằng bút mực xanh có dòng chữ:

“29/6 – 29/7 (1 tháng); 29/7- 29/8, 2 tháng; 29/8-29/9, 3 tháng. (Đã trả gốc 700.000.000 đồng, thừa lãi 3 ngày); 25/9 trả 1 tỷ tư.

Bà T xuất trình vi bằng số 0207/2024/VB-TPLĐT ngày 27/02/2024 của Văn phòng T4, tại trang 1 Vi bằng (Trích file ghi âm tại nhà G2 ngày 25/9/2020):

T: Thế bây giờ cô tạm trả lãi bao nhiêu đi, tạm trả lãi bao nhiêu đi để về tính.

G: Không em không trả lãi vội mà em cứ biết em trả gốc cho chị rồi chị đưa em cái giấy tờ thì chị em mình sẽ tính toán sau. Em cứ biết ngày hôm nay chị nhận của em 1 tỷ tư.

Tại trang 3 vi bằng (File ghi âm ngày 01/11/2020 ghi âm cuộc nói chuyện giữa bà T và bà G) thể hiện nội dung :

“ Giang: Từ 29/12 đến 29/6 đã trả rồi. Đúng không

“ G: 25/9 em trả chị tỷ tư

T: Trong đấy có 700 này này.

G: 29/6 đến 29/7 là 1 tháng này. 29/7 đến 29/8 là 2 tháng này. 29/8 đến 29/9 là 3 tháng. Coi như thừa lãi 3 ngày. Nợ lãi 3 tháng. Đã trả gốc nhé”.

Như vậy, có căn cứ xác định ngày 25/9/2020 bà G trả gốc cho bà T, và đã trả 6 tháng (29/12/2019 đến 29/6/2020) lãi 84.000.000 đồng.

Từ ngày 29/6/2020 đến 25/9/2020 (88 ngày) bà G chưa trả lãi cho bà T.

Xét lãi suất hai bên thoả thuận khi cho vay là 2%/tháng (24%/năm) là vượt quá mức lãi suất giới hạn (20%/năm) theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ

- 19 -

luật dân sự năm 2015 nên mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực, do đó các khoản lãi đã trả cần được tính lại theo mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Lãi đã trả: 06 tháng từ 29/12/2019 đến 29/6/2020: bà G đã trả 84.000.000 đồng.

Nay tính lại như sau: 1,66%/tháng (tháng (0,055% ngày).

06 tháng x 1,66%/tháng x 700.000.000 đồng = 69.720.000 đồng.

Lãi chưa trả: Các khoản lãi chưa trả bà T yêu cầu tính lãi 1,66%/tháng (0,055% ngày) là không vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự nên được chấp nhận.

88 ngày x 0,055%/ngày x 700.000.000 đồng = 33.880.000 đồng.

Như vậy, tổng lãi: 69.720.000 đồng + 33.880.000 đồng = 103.600.000 đồng.

Bà G đã trả 84.000.000 đồng lãi, nay còn phải trả:

103.600.000 đồng- 84.000.000 đồng = 19.600.000 đồng.

+ Đối với giấy ngày 20/4/2020, vay 700.000.000 đồng: thời hạn vay 05 tháng từ 20/4/2020 đến 20/9/2020.

Bà T khai ngày 25/9/2020, bà G đã trả 700.000.000 đồng và lãi đã trả 3 tháng là 42.000.000 đồng. Lãi chưa trả: Từ 20/7/2020 đến 25/9/2020 ( ngày trả gốc) là 2 tháng 5 ngày.

Xét thấy, tại giấy vay tiền bản phô tô bà G có viết bằng mực xanh dòng chữ:

"20/7 – 20/8: 1

20/8- 20/9. 2 tháng + 5

Đã trả gốc 700

+ Thiếu (5 ngày) lãi.

Tại trang 4 Vi bằng (file ghi âm ngày 01/11/2020):

“G: Đến cái này là 700 triệu ngày 20/4/2020 nhé.

T: D đã trả được 3 tháng rồi.

Giang: 20/4 đến 20/7 đã trả lãi rồi. còn nợ từ 20/7.

20/7 đến 20/8 là 1 tháng. 20/8 đến 20/9 là 2 tháng. Còn thiếu 5 ngày lãi nữa. Thế là 2 tháng 5 ngày nhé. Được rồi em cứ biết thế.

Như vậy, có căn cứ xác định khoản vay này bà G chưa trả lãi từ ngày 20/7/2020 đến 25/9/2020 ( 67 ngày). Như nhận định ở trên thì lãi của khoản vay này được tính như sau:

Lãi đã trả: 03 tháng là 42.000.000 đồng.

Được tính lại như sau:

03 tháng x 1,66%/tháng x 700.000.000 đồng = 34.860.000 đồng.

- 20 -

Lãi chưa trả:

67 ngày x 0,055%/ngày x 700.000.000 đồng = 25.795.000 đồng.

Như vậy, tổng lãi: 34.860.000 đồng + 25.795. 000 đồng = 60.655.000 đồng.

Bà G đã trả 42.000.000 đồng lãi, nay còn phải trả:

60.655.000 đồng - 42.000.000 đồng = 18.655.000 đồng.

+ Đối với giấy vay ngày 5/6/2020, vay 1000.000.000 đồng: thời hạn vay từ 5/6/2020 đến 30/9/2020.

Bà T khai bà G trả tiền gốc 7/9/2020 và lãi 3 tháng (5/6/2020 đến 5/9/2020). Lãi chưa trả: 2 ngày.

Xét thấy, tại giấy vay tiền bà G có viết: “Đã trả 1 tỷ và thiếu 4 ngày lãi. Nợ”.

Nay bà T chỉ yêu cầu tính 02 ngày lãi. Như nhận định ở trên thì lãi của khoản vay này được tính như sau:

Lãi đã trả: 03 tháng: là 60.000.000 đồng.

Được tính lại như sau:

03 tháng x 1,66%/tháng x 1000.000.000 đồng = 49.800.000đồng

Lãi chưa trả:

02 ngày x 0,055%/ngày x 1000.000.000 đồng = 1.100.000 đồng.

Như vậy, tổng lãi: 49.800.000 đồng + 1.100. 000 đồng = 50.900.000đồng.

Bà G đã trả 60.000.000 đồng lãi, nay bà T phải trả lại bà G:

60.000.000 đồng- 50.900.000 đồng = 9.100.000 đồng.

+ Đối với giấy vay 200.000.000 đồng ngày 27/7/2020: thời hạn vay từ 27/7/2020 đến 10/2020 (03 tháng). Lãi suất thoả thuận 2%/tháng.

Bà T khai ngày trả tiền gốc: 29/9/2020.

Lãi chưa trả: từ 27/7/2020 đến 29/9/2020.

Xét thấy, tại giấy vay bản phô tô bà G có viết bằng mực xanh dòng chữ:

“27/7- 27/8 (1 tháng)

27/8- 27/9 (2 tháng)

Nợ lãi: 2 tháng + 3 ngày.

Đã trả gốc: 200.000.000 đ”.

Bà G xác nhận đó là chữ viết xác nhận của bà nhưng sau đó bà đã trả lãi 2 tháng và 03 ngày lãi nhưng bà G không có chứng cứ chứng minh đã trả lãi, do đó bà G phải trả lãi cho khoản vay này.

Lãi phải trả từ 27/7/2020 đến 29/9/2020 là : ngày 64 ngày.

64 ngày x 0,055%/ngày x 200.000.000 đồng = 7.040.000đồng.

- 21 -

+ Đối với giấy vay 500.000.000 đồng ngày 30/7/2020: thời hạn vay 03 tháng, hẹn trả tiền gốc vào tháng 10/2020, lãi suất thỏa thuận 2%/tháng, thoả thuận lãi trả sau.

Ngày trả gốc: Ngày 29/9/2020.

Lãi chưa trả.

Xét thấy, tại bản photo giấy vay bà G có viết bằng mực xanh dòng chữ:

30/7- 30/8 (1 tháng)

30/8-30/9 (2 tháng)

Nợ 2 tháng lãi.

Tại Trang 5 Vi bằng (file ghi âm ngày 01/11/2020): “ Giang: Trả lãi sau, OK em đều ghi đây rồi. Ok.

T: Lãi sau mà, chắc chắn, riêng chị em không phải lo.

G: Được rồi nợ chị 2 tháng nhé. Em cứ ghi là nợ 2 tháng lãi nhé. Ok rồi tính lãi thì hai chị em mình tính sau. Là ok, là xong.

Như vậy, có căn cứ xác định khoản vay này bà G chưa trả lãi cho bà T. Như nhận định ở trên thì lãi của khoản vay này được tính như sau:

Lãi chưa trả: 30/7/2020 đến 30/9/2020 là 02 tháng.

02 tháng x 1,66%/tháng x 500.000.000 đồng = 16.600.000 đồng

Bà G phải trả: 16.600.000 đồng

+ Đối với giấy vay 120.000.000 đồng ngày vay: 29/5/2020 (Giấy vay ghi 29/5/2019 là do chị G viết nhầm năm 2020 thành 2019). Thời hạn vay 4 tháng, đến 29/9/2020. Bà G đã thanh toán xong cả gốc và lãi bà T không yêu cầu nên Toà án không xem xét.

+ Đối với giấy vay 200. 000.000 đồng ngày vay 11/11/2019: thời hạn vay 12 tháng. Ngày đến hạn trả 11/11/2020. Thoả thuận lãi 2%/tháng.

Ngày 30/12/2020 bà G trả gốc.

Lãi đã trả: 3 tháng lãi từ 11/11/2019 đến 11/2/2020: 12.000.000 đồng

Từ 11/2/2020 đến 11/5/2020: 12.000.000 đồng

Từ 11/5/2020 đến 11/8/2020: 12.000.000 đồng

Từ 11/8/2020 đến 11/11/2020: 6.000.000 đồng trả lãi cho khoản gốc 100.000.000 đồng.

Tổng lãi đã trả: 42.000.000 đồng.

Như nhận định ở trên thì lãi của khoản vay này được tính như sau:

Lãi đã trả 09 tháng trên khoản nợ gốc 200.000.000 đồng được tính lại như sau:

09 tháng x 1,66%/tháng x 200.000.000 đồng = 29.880.000đồng

Lãi đã trả 03 tháng trên khoản nợ gốc 100.000.000 đồng được tính lại như sau:

- 22 -

03 tháng x 1,66%/tháng x 100.000.000 đồng = 4.980.000 đồng.

Cộng : 29.880.000đồng + 4.980.000 đồng = 34.860.000 đồng.

Lãi chưa trả trên nợ gốc 100.000.000 đồng:

Từ 11/11/2020 đến 30/12/2020: 49 ngày

49 ngày x 0,055%/ngày x 100.000.000 đồng = 2.695.000 đồng.

Từ 11/8/2020 đến 30/12/2020: 141 ngày

141 ngày x 0.055%/ngày x 100.000.000 đồng = 7.755.000 đồng.

Cộng: 2.695.000 đồng + 7.755.000 đồng = 10.450.000 đồng

Như vậy, tổng lãi: 34.860.000 đồng + 10.450.000 đồng = 45.310.000 đồng.

Bà G đã trả 42.000.000 đồng, nay còn phải trả:

45.310.000 đồng – 42.000.000 đồng = 3.310.000 đồng

+ Đối với giấy vay 200.000.000 đồng ngày 13/8/2020: lãi suất thỏa thuận 2%/ tháng, bà G ghi" Trả lãi sau", không thoả thuận thời hạn vay.

Ngày trả tiền gốc: 19/01/2021. Lãi chưa trả: Từ: 13/08/2020 đến 19/1/2021

Xét thấy, bà G xác nhận có gặp bà T để cùng nhau đối chiếu, tính toán các khoản nợ gốc và lãi của các lần vay.

Bà T ghi âm lại và tại trang 78 (file ghi âm ngày 19/01/2021) có nội dung:

T: Còn cái giấy 200 triệu cô trả tiền tôi đi.

Tại trang 79 (file ghi âm ngày 19/01/2021):

G: Đấy thôi chị trả, Lliên.... Trả cho chị ý 200 triệu đi.

G: Đưa luôn cái cọc tiền ấy em vừa mới vay mà. Đấy cứ đưa cái cọc 200.

Như vậy, có căn cứ xác định bà G đã trả bà T 200.000.000 đồng nợ gốc ngày 19/01/2021.

Lãi chưa trả: từ ngày 13/8/2020 đến 19/01/2021 là 159 ngày.

159 ngày x 0,055%/ngày x 200.000.000 đồng = 17.490.000 đồng.

+ Đối với giấy vay 1.900.000.000 đồng ngày 9/6/2020: Xét yêu cầu kháng cáo của bà T, Hội đồng xét xử xét thấy, theo giấy vay ngày 09/6/2020 có nội dung: “.... Vay 1.900.000.000 đồng, kể từ ngày 9/6 đến 15/9/2020 em sẽ trả đầy đủ cả gốc và lãi..” điều này thể hiện mặc dù giấy vay không ghi lãi cụ thể là bao nhiên nhưng thể hiện các bên có thỏa thuận về lãi, hơn nữa tại biên bản phiên tòa ngày 31/5/2024 của Tòa án cấp sơ thẩm bà G1 trả lời về khoản vay này là; “ Tuy giấy vay không ghi lãi những vẫn ngầm thỏa thuận với nhau là 2%/ tháng”; Tại file ghi âm ngày 30/01/2021 ( đã được Văn phòng T5 lập vi băng – trang số 15) bà G nói: “ Du côn hay không du côn thì nói thật lấy của chị 5 tỷ 520 triệu lãi mẹ đẻ lãi con rồi còn chị ngồi trước bàn thờ nhà em chị có cho em vay lãi 2%/tháng.....”. Do đó có cơ sở xác định khoản vay này các bên có thỏa thuận tính lãi là 2%/năm. Tuy nhiên mức lãi này vượt quá quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

- 23 -

Xét thấy, bà T khai bà G đã trả hết gốc 03 làm lần, cụ thể: lần 1 ngày 24/11/2020 trả 800.000.000 đồng chuyển khoản qua ngân hàng, lần 2 ngày 17/12/2020 trả 800.000.000 đồng chuyển khoản qua ngân hàng, lần 3 ngày 19/01/2021 trả 300.000.000 đồng tiền mặt, lãi chưa trả.

Do đó, bà G phải thanh toán trả cho bà T lãi suất theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, cụ thể là:

Từ 9/6/2020 đến 24/11/2020 (168 ngày) chưa trả gốc 1.900.000.000 đồng nên lãi là:

168 ngày x 0,055 %/ngày x 1.900.000.000 đồng = 175.560.000 đồng.

Lần 1: 24/11/2020 trả gốc: 800.000.000 đồng.

Từ đó số gốc chưa trả là 1.100.000.000 đồng nên lãi từ ngày 24/11/2020 đến 17/12/2020 (23 ngày) lãi là:

23 ngày × 0,055 %/ngày x 1.100.000.000 đồng = 13.915.000 đồng

Lần 2: 17/12/2020 trả tiền gốc 800.000.000 đồng như vậy, số gỗc còn lại là 300.000.000 đồng nên lãi từ 17/12/2020 đến 19/01/2021 (33 ngày) là:

33 ngày x 0, 055%/ngày x 300.000.000 đồng = 5.445.000 đồng.

Lần 3 ngày 19/01/2021 trả hết gốc 300.000.000 đồng nên không phát sinh lãi.

Cộng lãi:

175.560.000 đồng + 13.915.000 đồng + 5.445.000 đồng = 194.920.000 đồng.

Như vậy, tổng cộng nợ lãi của các khoản vay nêu trên là:

(19.600.000 đồng + 18.655.000 đồng + 7.040.000 đồng + 16.600.000 đồng + 3.310.000 đồng + 17.490.000 đồng + 194.920.000 đồng) – 9.100.000 đồng = 268.515.000đồng.

Bà T xác nhận ngày 19/01/2021 bà G trả 50.000.000 đồng tiền lãi cho các khoản vay. Do đó, nay bà G phải trả bà T:

268.515.000 đồng – 50.000.000 đồng = 218.515.000 đồng.

Ngoài ra bà T còn kháng cáo cho rằng bà không yêu cầu tính lại lãi suất bà G đã trả vì việc trả lãi này đã xong và theo đúng thỏa thuận của các bên, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn tính lại số tiền lãi vượt quá quy định và khấu trừ vào số tiền lãi mà bà G phải thanh toán trả cho bà là không đúng. Xét thấy giữa bà G và bà T đang tranh chấp về số tiền lãi còn phải thanh toán cho nhau của các khoản vay theo 09 giấy vay tiền đã ký kết. Do đó cần phải xem xét đánh giá việc ký kết, thực hiện của từng khoản vay từ khi các bên ký kết cho đến khi có tranh chấp. Vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm đã tính khoản tiền lãi mà bà G đã thanh toán trả cho bà T vượt quá theo quy định của pháp luật và khấu trừ khoản tiền này vào khoản nợ lãi chưa thanh toán là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu này của bà T.

- 24 -

Từ nhận định trên, có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà T. Nên sửa một phần bản án sơ thẩm, buộc bà G phải thanh toán cho bà T tổng số tiền lãi chưa thanh toán là 218.515.000 đồng

Kể từ ngày bà T có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà G chưa thi hành thì hàng tháng bà G còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định của khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành.

Đề nghị của Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ nên được chấp nhận.

* Về án phí: Do bà Đỗ Thị Thanh T là người cao tuổi và đã có đơn xin miễn giảm án phí, nên miễn án phí cho bà T.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điều 296; khoản 2 Điều 308, 309 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 357; 466; 468; 470 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 12, Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Sửa bản án Dân sự sơ thẩm số 140/2024/DS-ST ngày 21/5/2024 của Tòa án nhân quận B, thành phố Hà Nội.

Xử:

  1. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu kháng cáo của bà Hoàng Thị Minh G.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Thanh T đối với bà Hoàng Thị Minh G.
  3. Bà Hoàng Thị Minh G phải trả bà Đỗ Thị Thanh T số tiền nợ lãi: 218.515.000 đồng.

Kể từ ngày bà Đỗ Thị Thanh T có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Hoàng Thị Minh G chưa thi hành thì hàng tháng bà Hoàng Thị Minh G còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định của khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành.

  1. Về án phí:
    • + Án phí sơ thẩm: Bà Hoàng Thị Minh G phải chịu án phí sơ thẩm là: 10.925.750 đồng.
    • Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Đỗ Thị Thanh T.
    • + Án phí phúc thẩm: Miễn toàn bộ án phí cho bà Đỗ Thị Thanh T do bà T là người cao tuổi.

- 25 -

+ Sung công quỹ nhà nước 300.000 đồng án phí phúc thẩm của bà Hoàng Thị Minh G theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0030199 ngày 14/6/2024 của Chi cục thi hành án quận B, thành phố Hà Nội.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì người phải thi hành án còn phải thanh toán cho người được thi hành khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND quận B;
  • - Chi cục THADS quận B;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

NGÔ TUYẾT BĂNG

- 26 -

- 27 -

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND huyện Sóc Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Sóc Sơn;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

NGÔ TUYẾT BĂNG.

- 28 -

- 29 -

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 736/2024/DS-PT ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 736/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị Thanh T - Hoàng Thị Minh G
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger