Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 736/2023/DS-PT

Ngày: 24 - 10 - 2023

V/v Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng

đất cho mượn, yêu cầu hủy một phần

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và

yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Mười

Các Thẩm phán: Ông Chung Văn Kết

Ông Cao Văn Tám

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Lê Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 354/2023/TLPT-DS ngày 22 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất cho mượn, yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất”

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2023/DS-ST ngày 13 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.

  1. Nguyên đơn: Ông Đặng Văn T (T1), sinh năm 1965; địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có mặt)
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1954; địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có mặt)
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Ngô Ngọc N, sinh năm 1973 (vắng mặt)
    2. Bà Đặng Xuân L, sinh năm 1954 (vắng mặt)
    3. Chị Đặng Thị Như N1, sinh năm 2001 (vắng mặt)
    4. Cùng địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

    5. Bà Phạm Thị Kim A, sinh năm 1985 (vắng mặt)
    6. Ông Nguyễn Hoàng T2, sinh năm 1981 (vắng mặt)
    7. Cùng địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

    8. Ngân hàng Thương mại cổ phần B; Địa chỉ: Tòa nhà H, số D, N, phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
    9. Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng; địa chỉ: Ấp A, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt)
    10. Người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện T: Ông Trần Văn C, Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T; địa chỉ: Ấp A, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Văn bản ủy quyền ngày 13/02/2023) (vắng mặt)

  4. Người kháng cáo: Bà Phạm Ngọc N2 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện đề ngày 13/12/2021 (BL số 01), nguyên đơn ông Đặng Văn T trình bày:

Ông có thửa đất số 53, tờ bản đồ số 01, diện tích 5.257m², tọa lạc Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng do Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) ngày 19/10/1992 và gia đình ông sử dụng thửa đất nêu trên cho đến nay. Trước đây, ông thấy chị ruột của ông là bà Đặng Thị T3 có hoàn cảnh khó khăn không có nhà ở nên ông cho bà T3 mượn phần đất có diện tích 520m², thuộc một phần của thửa đất nêu trên để bà T3 và ông Nguyễn Thanh H cất nhà ở tạm, khi nào ông cần thì bà T3, ông H sẽ di dời và trả đất lại cho ông. Đến ngày 09/8/2017, bà T3 chết và ông H đóng cửa nhà không ở cũng không lo nhang khói cho bà T3 nên ông yêu cầu ông H trả lại phần đất mà ông đã cho mượn, nhưng ông H không đồng ý trả cho ông. Đến ngày 10/10/2021, ông gửi đơn yêu cầu đến Hội đồng hòa giải xã V hòa giải nhưng không thành. Do đó, ông yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông H phải tháo dỡ toàn bộ căn nhà và trả lại phần đất có diện tích 520m², thuộc một phần thửa đất số 53, tờ bản đồ số 01, tọa lạc Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng cho ông T1.

Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn cho rằng phần đất ông T quản lý, sử dụng từ trước năm 1990, đến năm 2003 thì cho bà T3 và ông H mượn diện tích 520m² để cất nhà ở tạm; ông H cho rằng cha ông tặng cho đất là không có căn cứ, không có giấy tờ gì để chứng minh; không yêu cầu Tòa án định giá lại đối với đất và tài sản trên đất. Hiện nay chỉ có con trai và con dâu ông H sinh sống trong nhà trên đất tranh chấp, ông H không thực hiện thờ cúng bà T3. Nay yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông H phải tháo dỡ toàn bộ căn nhà trên đất để trả lại cho ông T phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 535,9m², thuộc một phần thửa đất số 53, tờ bản đồ số 01, tọa lạc Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Còn tài sản khác trên đất bao gồm: Cây nước và cây trồng ông T đồng ý trả giá trị cho ông H.

* Tại Đơn phản tố đề ngày 20/4/2022 (BL số 41), bị đơn ông Nguyễn Thanh H trình bày:

Nguyên trước đây cha mẹ vợ ông là ông Đặng Văn Đ (chết năm 2005) và bà Trần Thị T4 (chết năm 1990) có diện tích đất khoảng 50 công tầm điền, tọa lạc tại Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Đến năm 1988, cha mẹ vợ ông có cho vợ ông là bà Đặng Thị T3 (chết năm 2017) phần đất diện tích 26 công tầm điền và vợ ông được cấp giấy chứng nhận QSDĐ vào năm 1988. Đến năm 1998, ông và vợ ông kết hôn và canh tác phần đất này đến năm 2014 do hoàn cảnh khó khăn nên vợ chồng ông mới cố phần đất này lại cho bà Huỳnh Thị L1. Ngoài ra, vào năm 2001 cha vợ ông mới cho vợ chồng ông một nền nhà có diện tích 520m², tọa lạc tại Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (phần đất đang tranh chấp hiện nay). Lúc cha vợ ông cho đất thì phần đất này là mương líp và đìa lạng, sau đó vợ chồng ông đã thuê xáng cạp lấy đất lên để sang lắp mặt bằng, đến năm 2003 thì vợ chồng ông xây dựng nhà kiên cố để ở cho đến nay.

Đến năm 2017 thì vợ ông chết, ông T lật lộng và đòi lại phần đất có diện tích 26 công tầm điền mà trước đây cha mẹ vợ ông đã cho vợ ông, do nghĩ phần đất này có nguồn gốc của cha mẹ vợ và hiện nay vợ ông đã chết thì ông cũng không muốn tranh giành nên mới đồng ý giao đất lại cho ông T. Tuy nhiên, đối với yêu cầu khởi kiện của ông T về việc buộc ông phải tháo dỡ căn nhà trên đất để trả lại cho ông T phần đất có diện tích 520m² thì ông không đồng ý, vì phần đất này là do cha vợ ông cho vợ chồng ông vào năm 2001, vợ chồng ông có công bồi đắp để xây dựng nhà kiên cố để ở và trồng cây lâu năm trên đất. Hiện nay, căn nhà trên đất còn có con và cháu ông đang ở ổn định.

Do đó, ông yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy một phần giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho ông T đối với phần đất có diện tích 520m², thuộc một phần thửa đất số 53, tờ bản đồ số 01, tọa lạc Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng và yêu cầu công nhận phần đất có diện tích 520m², thuộc một phần thửa đất số 53, tờ bản đồ số 01, tọa lạc Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông.

Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của bị đơn cho rằng nguồn gốc đất tranh chấp là do ông Đ tặng cho vào năm 2001, không có làm giấy tờ, đến năm 2003 bà T3 và ông H cất nhà ở; ông T cho rằng có cho bà T3 mượn đất cất nhà ở là không có căn cứ; ông H hiện đang sinh sống trong nhà trên đất tranh chấp cùng với con trai, con dâu và 02 đứa cháu nội của ông H; không yêu cầu Tòa án định giá lại đối với đất và tài sản trên đất. Nay yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy một phần giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho ông T đối với phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 535,9m², thuộc một phần thửa đất số 53, tờ bản đồ số 01, tọa lạc Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng và yêu cầu công nhận phần đất này là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông H.

* Tại Công văn số 140/UBND-VP ngày 17/02/2023 (BL số 217), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân huyện T trình bày:

Cơ sở pháp lý cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho ông Đặng Văn T năm 1992 căn cứ vào đơn đăng ký được Ủy ban nhân dân xã X, số mục kê và bản đồ giải thửa. Việc cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho ông Đặng Văn T đúng trình tự, thủ tục quy định tại thời điểm cấp giấy. Tại thời điểm cấp giấy không có kiểm tra đo đạc hiện trạng, cấp theo bản đồ giải thửa.

* Tại Biên bản lấy khai ngày 11/7/2022 (BL số 139), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoàng T2 trình bày:

Ông là con ruột của ông H, bà T3 là mẹ kế. Từ khi ông H chung sống với bà T3 thì ông về đây chung sống cùng gia đình. Đất đang tranh chấp, ông nghe nói là do cha bà T3 cho, nên cha ông và bà T3 mới cất nhà ở cho đến nay. Trên đất tranh chấp không có tài sản gì của ông. Việc ông T kiện đòi đất thì do cha ông quyết định, ông không có ý kiến.

* Tại Biên bản lấy khai ngày 11/7/2022 (BL số 140), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Kim A trình bày:

Bà là vợ của ông T2, là dâu của ông H. Bà và ông T2 cưới nhau vào năm 2010, từ khi cưới thì bà về đây chung sống cho đến nay. Trên đất tranh chấp không có tài sản gì của bà. Việc ông T kiện đòi đất thì do cha chồng bà quyết định, bà không có ý kiến.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2023/DS-ST ngày 13 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, quyết định:

Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 1, khoản 4 Điều 34, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 165, khoản 1 Điều 166, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2, 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; căn cứ khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015; căn cứ khoản 3 Điều 17, khoản 5, 7 Điều 166, Điều 202, khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Văn T.
    • Buộc ông Nguyễn Thanh H có trách nhiệm trả giá trị quyền sử dụng đất cho ông Đặng Văn T, tổng số tiền là 36.796.500 đồng (Ba mươi sáu triệu bảy trăm chín mươi sáu nghìn năm trăm đồng).
    • Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, đối với thời gian chậm thi hành án.
  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Thanh H về việc yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Đặng Văn T đối với phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 535,9m², thuộc một phần thửa đất số 53, tờ bản đồ số 01, tọa lạc Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng và yêu cầu công nhận phần đất này là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Nguyên Thanh H.
  3. Ổn định cho ông Nguyễn Thanh H phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 535,9m², thuộc một phần thửa đất số 53, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; trên đất có nhà cửa và cây trồng của ông Nguyễn Thanh H. Phần đất có số đo tứ cận như sau: Hướng Đông giáp với đất ông Trần Hoàng L2 (thuộc thửa đất số 49 và 364), có số đo 37,23m. Hướng Tây giáp với phần đất còn lại của thửa đất số 53, có số đo 33,82m. Hướng Nam giáp với lộ đal, có số đo 10,78m. Hướng Bắc giáp với phần đất còn lại của thửa đất số 53, có số đo 19,68m.
  4. (Đính kèm bản án sơ thẩm là sơ đồ đo đạc đất tranh chấp ngày 06/7/2002 - BL số 89).

  5. Kiến nghị đến Ủy ban nhân dân hoặc cơ quan có thẩm quyền thu hồi hoặc điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Đặng Văn T đối với phần đất có diện tích 535,9m², thuộc một phần thửa đất số 53, tờ bản đồ số 01, để xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Thanh H khi có yêu cầu.

Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, việc thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

Ngày 27/4/2023, người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm như sau:

Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ổn định phần đất trên cho ông H, buộc ông H phải trả giá trị cho nguyên đơn là có căn cứ và phù hợp.

Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Xét kháng cáo của nguyên đơn đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T về việc yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm buộc ông H phải tháo dỡ toàn bộ căn nhà trên đất theo đo đạc thực tế có diện tích 535,9m2, thuộc một phần thửa đất số 53, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
  2. Qua các chứng cứ đã thu thập về nguồn gốc đất tranh chấp: Các bên đương sự đều xác định nguồn gốc thửa đất số 53, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng có nguồn gốc là của cha mẹ ông T và bà T3 là ông Đặng Văn Đ và bà Trần Thị T4. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  3. Ông H cho rằng vào năm 2001 cha vợ ông là ông Đ có cho vợ chồng ông một nền nhà có diện tích 520m² (theo đo đạc thực tế có diện tích 535,9m²), thuộc một phần thửa đất số 53, tờ bản đồ số 01. Lúc cha vợ ông cho đất thì phần đất này là mương líp và đìa lạng, sau đó vợ chồng ông đã thuê xáng cạp lấy đất lên để sang lấp mặt bằng, đến năm 2003 thì vợ chồng ông xây dựng nhà kiên cố để ở cho đến nay và trồng cây lâu năm trên phần đất này.
  4. Mặc dù, vợ chồng ông xây cất nhà và trồng cây lâu năm trên phần đất đang tranh chấp là có thật, nhưng ông không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh vợ chồng ông được cha vợ ông tặng cho phần đất đang tranh chấp. Bên cạnh đó, ông T đã được cha mẹ ông tặng cho toàn bộ thửa đất số 53, tờ bản đồ số 01, ông T đã đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất vào ngày 19/10/1992, nên vào năm 2001 thửa đất này không còn là đất của ông Đ, nên ông Đ không có quyền tặng cho vợ chồng ông H như lời ông H trình bày. Do đó, ông H yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận phần đất đang tranh chấp là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông là không có căn cứ, không phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 17 của Luật Đất đai năm 2013, vì vậy việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của phía bị đơn là có căn cứ.

  5. Tuy nhiên, thấy rằng quá trình quản lý, sử dụng đất phía gia đình ông H có sang lắp mặt bằng, xây dựng nhà và trồng cây lâu năm trên phần đất này; nên Tòa án cấp sơ thẩm giao cho ông H phần đất đang tranh chấp. Ông H có nghĩa vụ thờ phụng bà T3 theo phong tục, tập quán và đạo lý của người Việt Nam. Điều này cũng phù hợp với nội dung kháng cáo của nguyên đơn rằng: “...Nếu hiện này, ông H có sinh sống tại căn nhà trên và lo nhang khói cho chị tôi, thì ông T vẫn giao cho ông H sinh sống (chúng tôi sẽ không khởi kiện)”.
  6. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông H khẳng định là ông vẫn thường xuyên lo nhang khói cho bà T3 và không có nơi ở nào khác.

  7. Từ những nhận định trên cho thấy, quyết định của bản án sơ thẩm là có căn cứ và có tình, có lý. Kháng cáo của phía nguyên đơn là không có cơ sở để chấp nhận, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  8. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
  9. Do kháng cáo không được chấp nhận, nên nguyên đơn phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2023/DS-ST ngày 13 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

Áp dụng khoản 3 Điều 17; khoản 5, 7 Điều 166; Điều 202; khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Văn T.
    • Buộc ông Nguyễn Thanh H có trách nhiệm trả giá trị quyền sử dụng đất cho ông Đặng Văn T, tổng số tiền là 36.796.500 đồng (Ba mươi sáu triệu bảy trăm chín mươi sáu nghìn năm trăm đồng).
    • Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với thời gian chậm thi hành án.
  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Thanh H về việc yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Đặng Văn T đối với phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 535,9m², thuộc một phần thửa đất số 53, tờ bản đồ số 01, tọa lạc Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng và yêu cầu công nhận phần đất này là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Thanh H.
  3. Ổn định cho ông Nguyễn Thanh H phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 535,9m², thuộc một phần thửa đất số 53, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; trên đất có nhà cửa và cây trồng của ông Nguyễn Thanh H. Phần đất có số đo tứ cận như sau: Hướng Đông giáp với đất ông Trần Hoàng L2 (thuộc thửa đất số 49 và 364), có số đo 37,23m. Hướng Tây giáp với phần đất còn lại của thửa đất số 53, có số đo 33,82m. Hướng Nam giáp với lộ đal, có số đo 10,78m. Hướng Bắc giáp với phần đất còn lại của thửa đất số 53, có số đo 19,68m.
  4. (Đính kèm Bản án sơ thẩm là sơ đồ đo đạc đất tranh chấp ngày 06/7/2002 - BL số 89).

  5. Kiến nghị Ủy ban nhân dân hoặc cơ quan có thẩm quyền thu hồi hoặc điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Đặng Văn T đối với phần đất có diện tích 535,9m2, thuộc một phần thửa đất số 53, tờ bản đồ số 01, để xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Thanh H khi có yêu cầu.
  6. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Tổng chi phí số tiền là 7.286.258 đồng (Bảy triệu hai trăm tám mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi tám đồng) ông Nguyễn Thanh H phải chịu toàn bộ số tiền này. Do ông ông Đặng Văn T đã nộp tạm ứng trước toàn bộ, nên ông Nguyễn Thanh H có trách nhiệm nộp để hoàn trả lại cho ông Đặng Văn T số tiền 7.286.258 đồng (Bảy triệu hai trăm tám mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi tám đồng).
  7. Về án phí: Nguyên đơn ông Đặng Văn T (Thưởng) phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền bà Phạm Ngọc N2 (là người đại diện theo ủy quyền cho ông T) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0008391 ngày 12/5/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng, đương sự đã nộp đủ tiền.
  8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), thì những người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Cục THADS tỉnh Sóc Trăng;
  • - NĐ;
  • - BĐ;
  • - NCQL&NVLQ;
  • - Lưu: HS, VP, 18bTNB.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Công Mười

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 736/2023/DS-PT ngày 24/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất cho mượn, yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 736/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất cho mượn, yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Đặng Văn T kiện ông Nguyễn Thanh H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger