Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 735/2024/DS-PT Ngày: 23-8-2024

“V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phượng

Các thẩm phán:Bà Phạm Thị Kim

Bà Lê Thị Anh Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Anh – Thư ký Tòa án, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoàng – Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 515/2024/TLPT-DS ngày 26/6/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” do Bản án dân sự sơ thẩm số 125/DS-ST ngày 14/5/2024 của Tòa án Nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo và Kháng nghị; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2462/2024/QĐPT-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2365/2024/QĐPT-DS ngày 31/7/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần T4; địa chỉ: A T, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Tô Hoàng D; địa chỉ: A Â, Phường C, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

  3. Bị đơn:
    1. Ông Đỗ Văn H; địa chỉ: B P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
    2. Ông Trần Hoàng M; địa chỉ: B P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Sơn H1- Luật sư thuộc Công ty L và Cộng sự- Đoàn Luật sư thành phố H; địa chỉ: P R R, G N, quận T, thành phố Hà Nội. (Có mặt)

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Hồ Thị Thanh D1; địa chỉ: B P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
    2. Nguyễn Thị Cẩm H2, ông Nguyễn Ngô Thành T và cháu Trần Minh A – sinh năm 2011; cùng địa chỉ: B P, Phường F, Quận H, Tp .
    3. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hoàng M; địa chỉ: 2 P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

    4. Nguyễn Thị T1 và ông Phạm B; cùng địa chỉ: 2 P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
    5. Ông Quách T2; địa chỉ: B Đường B Khu dân cư B, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
    6. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh T3; địa chỉ: A Đ, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung bản án sơ thẩm:

Ý kiến trình bày của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn - Công ty Cổ phần T4 (Viết tắt là Công ty T4) như sau: Công ty T4 yêu cầu ông Đỗ Văn H (Viết tắt là “ông H” và những người đang cư trú trên thửa đất tranh chấp phải trả lại Công ty thửa đất diện tích 59,6 m² có vị trí số (9), (10), (11), (12) theo bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh có số hợp đồng 130683/TTĐĐBĐ – VPTT ngày 27/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc sở Tài nguyên và môi trường Thành phố H tại địa chỉ nhà số B P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Các công trình xây dựng, nhà ở, vật dụng, cây trồng trên thửa đất đó sẽ do ông Hoàng t tháo dỡ, di dời nếu ông H không tự tháo dỡ, di dời thì Công ty có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án Dân sự có thẩm quyền tháo dỡ, di dời. Diện tích đất này Công ty đã đền bù cho ông H nên Công ty muốn thu hồi lại để xây dựng dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Công ty yêu cầu ông Trần Hoàng M (Viết tắt là “ông M”) và những người đang cư trú trên thửa đất tranh chấp phải trả lại Công ty thửa đất diện tích 33 m² có vị trí số (7), (8) theo bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh có số hợp đồng 130683/TTĐĐBĐ – VPTT ngày 27/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H tại địa chỉ nhà số B P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Các công trình xây dựng, nhà ở, vật dụng, cây trồng trên thửa đất đó sẽ do ông M tự tháo dỡ, di dời nếu ông M không tự tháo dỡ, di dời thì Công ty có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án Dân sự có thẩm quyền tháo dỡ, di dời. Diện tích đất này Công ty đã đền bù cho bà Nguyễn Thị T1 (Viết tắt là “bà T1”), sau đó bà T1 bán lại nhà và đất cho gia đình ông M nên Công ty muốn thu hồi lại để xây dựng dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Ý kiến trình bày của ông Đỗ Văn H và bà Hồ Thị Thanh D1 như sau: Ông bà xác nhận có bán diện tích đất 427 m² đất thuộc thửa 83 không nhớ rõ tờ bản đồ số mấy cho Công ty T4 do Hợp tác xã C đứng ra đại diện thương lượng, giá tiền và thời gian đã quá lâu nên ông bà không nhớ rõ. Thời điểm bán xong thì công ty đã xây nhà xưởng và rào chắn theo đúng ranh mua bán. Sau đó vào năm 2001, ông Võ Ngọc V đã đến mua 573,5 m² đất thuộc thửa 83 theo bản vẽ của Công ty TNHH Đ với giá tiền 170.000.000 đồng và hai bên đã rào chắn phân định ranh rõ ràng. Ông bà xác nhận diện tích đất 573,5 m² là bán cho ông Võ Ngọc V với giá 170.000.000 đồng chứ không hề bán cho Công ty T4 diện tích đất này nhưng Công ty T4 lại cung cấp cho Toà phiếu chi bán cho Công ty T4 với giá 470.000.000 đồng ngày 17/4/2006, phiếu chi này là hoàn toàn không có và Công ty T4 không phải là người mua lại diện tích đất này của gia đình ông bà. Đến năm 2007, Công ty T4 đến thương lượng và mua thêm của ông bà 7,3 m² đất thuộc thửa 83 nói trên với giá tiền 10.950.000 đồng, hai bên cũng đã rào chắn phân định ranh rõ ràng. Từ đó cho đến nay hai bên đã rào chắn phân định ranh rõ ràng nên không ai lấn chiếm của ai. Nay Công ty T4 nói ông bà lấn chiếm diện tích đất của công ty là hoàn toàn không có cơ sở vì Công ty T4 chỉ mua của ông bà 7,3 m². Gia đình ông bà không có lấn chiếm đất dự án của Công ty T4 nhưng Công ty lại dựa trên bản vẽ 130683/TTĐĐBĐ – VPTT ngày 27/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cho rằng ranh chồng ranh và nói gia đình ông bà đã nhận tiền đền bù rồi là không đúng. Phía Công ty trả giá 02 lần, lần đầu 5.000.000 đồng, lần thứ hai 10.000.000 đồng mà gia đình ông bà không phản hồi thì Công ty nói nếu không nhận số tiền hỗ trợ lần thứ hai này thì Công ty sẽ không hỗ trợ một đồng nào nữa vì Công ty đã đền bù diện tích đất này rồi, điều này là không đúng. Ông bà không đồng ý với yêu cầu của Công ty T4.

Ý kiến trình bày của ông Trần Hoàng M như sau: Việc mua bán đất giữa bà T1Công ty T4 như thế nào ông hoàn toàn không biết. Năm 2017 bố ông mua lại nhà đất B P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh của bà T1 và ông Phạm B (Chồng bà T1) với giá là bao nhiêu ông không rõ để vợ chồng ông MNguyễn Thị Cẩm H2 đứng tên. Khi nhận nhà từ bà T1 và ông B, ông vẫn giữ nguyên hiện trạng nhà cho đến nay. Vì vậy, Công ty T4 cho rằng ông lấn chiếm đất của Công ty là không có căn cứ. Ông không đồng ý với yêu cầu của Công ty T4.

Nguyễn Thị Cẩm H2, Nguyễn Ngô Thành T, cháu Trần Minh A có đại diện là ông Trần Hoàng M trình bày thống nhất với lời trình bày của ông M, đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo qui định pháp luật, không có ý kiến yêu cầu nào khác.

Ý kiến trình bày của ông Quách T2 và người đại diện theo uỷ quyền như sau: Ông T2 là người trực tiếp đại diện Công ty T4 đứng ra mua bán và đền bù đất với gia đình ông Đỗ Văn H. Vào năm 2001, Công ty T4 có mua lại của ông Võ Ngọc V 573,5 m² đất là một phần thửa 83 có lập bản vẽ do Công ty TNHH Đ lập ngày 25/9/2001, phần đất này ông Võ Ngọc V mua của ông H. Đến năm 2006, để hoàn tất hồ sơ chuyển nhượng, Công ty T4 có ký lại với ông H biên bản kiểm kê hiệp thương ngày 17/4/2006; biên bản bàn giao mặt bằng giải tỏa ngày 20/4/2006 có xác nhận của Ủy ban Nhân dân Phường F, Quận H và Phiếu chi ngày 17/4/2006; không cắm ranh thực địa và diện tích đất này hiện nay đang bị lấn chiếm. Đến năm 2007 khi Công ty T4 đo đạc lại để làm dự án thì thấy thiếu 7,3 m² nên mua thêm từ gia đình ông H 7,3 m² theo Biên bản bàn giao mặt bằng giải tỏa ngày 23/7/2007 và biên bản kiểm kê hiệp thương bồi thường ngày 23/7/2007 có xác nhận của Ủy ban Nhân dân Phường F, Quận H; không có đo vẽ, không cắm ranh thực địa và diện tích đất này hiện nay đang bị lấn chiếm. Ông T2 là người trực tiếp đại diện Công ty T4 đứng ra mua bán và đền bù đất đai đối với gia đình bà Nguyễn Thị T1, quá trình đền bù như sau: Vào năm 1998, Công ty T4 đã đền bù cho bà T1 diện tích 49 m² và đã xây dựng nhà xưởng nên 49 m² này không liên quan đến vụ án này. Vào năm 2001, ông Quách Trung Á là thành viên góp vốn của Công ty T4 đứng tên hợp đồng chuyển nhượng 271 m² đất là 1 phần thửa 85 tờ bản đồ số 1 do bà T1 chuyển nhượng cho ông Á với giá tiền 81.300.000 đồng. Khi thực hiện việc chuyển nhượng thì có làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có xác nhận của Ủy ban Nhân dân Phường F; không có cắm ranh trên thực địa, chỉ lập bản vẽ do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 27/6/2001. Diện tích đất này hiện nay vẫn là đất trống nhưng gia đình bà T1 không lấn chiếm diện tích đất này. Vào năm 2005, Công ty T4 do ông làm đại diện theo pháp luật có bồi thường cho gia đình bà T1 diện tích đất 312 m² theo biên bản kiểm kê hiệp thương ngày 05/9/2005 và biên bản bàn giao mặt bằng giải tỏa ngày 12/9/2005 có xác nhận của Ủy ban Nhân dân Phường F; không có đo vẽ, không cắm ranh thực địa và diện tích đất này hiện nay đang bị lấn chiếm. Đến năm 2007 khi Công ty T4 đo đạc lại để làm dự án thì thấy thiếu 6,8 m² nên mua thêm từ gia đình bà T1 6,8 m² theo biên bản bàn giao mặt bằng giải tỏa ngày 23/7/2007 và biên bản kiểm kê hiệp thương bồi thường ngày 23/7/2007 có xác nhận của Ủy ban Nhân dân Phường F; không có đo vẽ, không cắm ranh thực địa và diện tích đất này hiện nay đang bị lấn chiếm. Do đã đền bù đầy đủ cho gia đình ông H, bà T1 nên Ủy ban Nhân dân Thành phố H mới giao toàn bộ diện tích đất cho Công ty T4 theo Quyết định số 517/QĐ-UBND ngày 10/2/2009 căn cứ theo bản đồ hiện trạng vị trí số 0606/ĐĐBĐ/MP do Công ty TNHH Đ2 lập và được Trung tâm Kiểm định bản đồ và tư vấn Tài nguyên Môi trường thuộc sở T kiểm duyệt ngày 17/7/2008. Công ty T4 đã đền bù đầy đủ thì Ủy ban Nhân dân Thành phố H mới giao đất. Như vậy diện tích đất nằm trong ranh giới theo bản đồ hiện trạng vị trí số 0606/ĐĐBĐ/MP do Công ty TNHH Đ2 lập đã được đền bù đầy đủ cho các hộ dân có liên quan.

Ngày 14/5/2024, Tòa án Nhân dân Quận 8 đã ban hành Bản án số 125/2024/DS-ST theo đó tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của Công ty T4, buộc ông Đỗ Văn H và những người đang cư trú trên thửa đất tranh chấp phải trả lại Công ty thửa đất tranh chấp có vị trí số (9), (10), (11), (12) diện tích 59,6 m² theo bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh có số hợp đồng 130683/TTĐĐBĐ – VPTT ngày 27/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc sở T tại địa chỉ nhà số B P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Các công trình xây dựng, nhà ở, vật dụng, cây trồng trên thửa đất đó sẽ do ông Hoàng t tháo dỡ, di dời nếu ông H không tự tháo dỡ, di dời thì Công ty có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án Dân sự có thẩm quyền tháo dỡ, di dời.
  2. Chấp nhận yêu cầu của Công ty T4, buộc ông Trần Hoàng M và những người đang cư trú trên thửa đất tranh chấp phải trả lại Công ty thửa đất tranh chấp có vị trí số (7), (8) diện tích 33 m² theo Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh có số hợp đồng 130683/TTĐĐBĐ – VPTT ngày 27/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc sở T tại địa chỉ nhà số B P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Các công trình xây dựng, nhà ở, vật dụng, cây trồng trên thửa đất đó sẽ do ông M tự tháo dỡ, di dời nếu ông M không tự tháo dỡ, di dời thì Công ty T4 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án Dân sự có thẩm quyền tháo dỡ, di dời.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 23/5/2024, ông Trần Hoàng M và ông Đỗ Văn H có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên hủy Bản án số 125/2024/DS-ST ngày 14/5/2024 của Tòa án Nhân dân Quận 8.

Ngày 27/5/2024, Viện kiểm sát Nhân dân Quận 8 có Quyết định kháng nghị phúc thẩm theo đó đề nghị hủy Bản án số 125/2024/DS-ST ngày 14/5/2024 của Tòa án Nhân dân Quận 8 vì các lý do Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập các chứng cứ để giải quyết triệt để đối với vụ án; cụ thể theo chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

  1. Đối với tranh chấp của Công ty T4 và ông Trần Hoàng M:
    • Giấy chứng nhận của F cấp ngày 28/5/1999 thì bà Nguyễn Thị T1 được quyền sử dụng 661m² đất tại số thửa 78 và 85, tờ bản đồ số 1. Nhưng tại các biên bản bồi thường giữa Công ty T4 với bà T1 lại thể hiện: Diện tích đất bồi thường 6.8m² thuộc thửa đất 16 tờ bản đồ 83 và diện tích bồi thường 312m² thuộc thửa đất 84, 85 tờ bản đồ số 1 tại phường F, Quận H. Như vậy, Công ty T4 đã bồi thường không đúng với thửa đất của F cấp, cụ thể: Công ty đã bồi thường theo thửa đất 16 tờ bản đồ 83 và thửa đất 84, 85 tờ bản đồ số 1 là không đúng đối tượng, thửa đất được bồi thường, nhưng Tòa án Nhân dân Quận 8 lại chưa làm rõ nội dung trên để xác định chính xác đối tượng được bồi thường là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
    • Trong quá trình sử dụng thửa đất trên bà T1 đã 03 lần chuyển nhượng đất cho Công ty T4 (Tất cả các lần chuyển nhượng đều có xác nhận của UBND phường F, Quận H nhưng chưa tiến hành cập nhập biến động); tổng cộng diện tích đất sau 03 lần chuyển nhượng là 589,8 m² (Cụ thể: Năm 2003 diện tích 271m², năm 2005 diện tích 312m² và năm 2007 diện tích 6.8m²); như vậy, thực tế bà T1 chỉ còn lại 71,2 m² đất. Tuy nhiên, cũng thửa đất trên năm 2017 bà T1 lại làm hợp đồng mua bán công chứng và đã được cập nhật biến động của Văn phòng Đ3 cho Trần Hoàng M diện tích là 661m².

    Như vậy, hồ sơ có sự mâu thuẫn giữa diện tích đất thực tế đã bán và diện tích đất được cập nhập biến động. Tuy nhiên, Tòa án chưa tiến hành xác minh, đối chiếu, làm rõ diện tích đất thực tế giữa các bên tranh chấp là bao nhiêu m², tại thửa đất nào? Mà Tòa án lại buộc ông M trả lại cho Công ty T4 33m² đất là thiếu căn cứ, chưa chính xác và không phù hợp với diễn biến khách quan của vụ án. Mặt khác, theo như ông M trình bày: Việc mua bán đất giữa bà T1Công ty T4 như thế nào ông M hoàn toàn không biết. Năm 2017, bố của ông M là ông Trần Cao H3 mua thửa đất trên của bà T1 với giá là bao nhiêu ông không rõ, sau đó ông H3 để cho vợ chồng con trai là ông MNguyễn Thị Cẩm H2 đứng tên. Nên để giải quyết triệt để vụ án, làm rõ thửa đất, diện tích đất nhận chuyển nhượng của bà T1 như thế nào cần đưa ông H3 (Người thực tế mua đất) vào tham gia với vai trò người liên quan trong vụ án.

  2. Đối với tranh chấp giữa nguyên đơn Công ty T4 và bị đơn ông Đỗ Văn H:
  3. Theo Giấy chứng nhận tạm thời quyền sử dụng ruộng đất (Dành cho xã viên, tập đoàn viên và cá nhân có sử dụng đất vào mục đích nông lâm nghiệp) ngày 16/11/1991 do Ủy ban Nhân dân phường F, Quận H cấp cho ông H được sử dụng diện tích đất 1.800m2 tại tờ bản đồ số 1, số thửa b-172, phường 6; tuy nhiên, tại các biên bản bồi thường giữa Công ty T4 và ông H thể hiện ông Đỗ Văn H nhận tiền đền bù của thửa 83-1. Như vậy, Công ty T4 bồi thường không đúng với thửa đất của F cấp cho ông H, cụ thể: Công ty T4 bồi thường theo thửa đất thửa đất 83-1 là không đúng với đối tượng, thửa đất được bồi thường. Tòa án Nhân dân Quận 8 lại chưa làm rõ nội dung trên để xác định chính xác đối tượng được bồi thường là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông H, bà D1, ông M, bà H2 và ông Tô Hoàng D(Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn- Công ty T4) thống nhất và đã tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án; cụ thể như sau:

  1. Công ty T4 đã bồi thường, đền bù và ông Võ Ngọc V đã nhận tiền đối với phần đất 573,5 m² đất là 1 phần thửa 83 có lập bản vẽ do Công ty TNHH Đ lập ngày 25/9/2001 mà ông Võ Ngọc V mua của ông Đỗ Văn H.
  2. Công ty T4 đã bồi thường, đền bù và ông Đỗ Văn H đã nhận tiền đối với phần đất 7,3m² (Ông H bán cho Công ty T4) và phần đất 427m² (Ông H bán cho Công ty TNHH T4 do Hợp tác xã Chiến Thắng chi trả tiền thay cho Công ty T4).
  3. Công ty T4 đã bồi thường, đền bù và bà Nguyễn Thị T1 đã nhận tiền đối với phần đất diện tích 271m² thuộc một phần thửa 85 tờ bản đồ số 1 (Đất này ông Quách Trung Á đã nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị T1 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có xác nhận số 91/IB ngày 03/8/2001 của F, Quận H và Bản đồ hiện trạng vị trí (Bổ túc hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất) do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 13/4/2001 và Công ty T4 đã bồi thường cho ông Quách Trung Á bằng hình thức góp vốn quyền sử dụng đất); phần đất 312m² (thửa 84. 85 tờ bản đồ số 1 mà Công ty T4 nhận chuyển nhượng của bà T1 năm 2005) và diện tích đất 6.8m² (thửa 16 tờ số 83 mà Công ty T4 nhận chuyển nhượng của bà T1 năm 2007).
  4. Ông Đỗ Văn H, bà Hồ Thị Thanh D1 đồng ý giao lại cho Công ty T4 phần đất diện tích 59,6m² tọa lạc tại địa chỉ số B P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, đất có vị trí số (9), (10), (11), (12) theo bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh có số hợp đồng 130683/TTĐĐBĐ – VPTT ngày 27/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc sở Tài nguyên và môi trường Thành phố H.
  5. Ông Trần Hoàng M, bà Nguyễn Thị Cẩm H2 đồng ý giao lại cho Công ty T4 phần đất diện tích đất 33 m² tọa lạc tại địa chỉ nhà số B P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, đất có vị trí số (7), (8) theo bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh có số hợp đồng 130683/TTĐĐBĐ – VPTT ngày 27/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc sở Tài nguyên và môi trường Thành phố H.
  1. Công ty T4 hỗ trợ giá trị quyền sử dụng đất tương ứng 21.000.000 đồng/m² đất; cụ tthể:
    1. Công ty T4 hỗ trợ cho ông Đỗ Văn H và bà Hồ Thị Thanh D1 số tiền 1.251.600.000 đồng (= 21.000.000 đồng/m² x 59,6m²).
    2. Công ty T4 hỗ trợ cho ông Trần Hoàng M và bà Hồ Thị Thanh D1 số tiền 693.000.000 đồng (= 21.000.000 đồng/m2 x 33 m²).

Việc thanh toán tiền làm 02 đợt; cụ thể:

Đợt 1: Trong vòng 10 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Công ty T4 thanh toán số tiền 10% trên tổng số tiền hỗ trợ cho ông H, bà D1, ông M, bà H2; trong thời gian này ông H, bà D1 có trách nhiệm tháo dỡ, di dời các công trình và cây trồng trên đất diện tích 59,6m² và ông M, bà H2 có trách nhiệm tháo dỡ, di dời các công trình và cây trồng trên đất diện tích 33 m² nêu trên.

Đợt 2: Trong vòng 30 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Công ty T4 thanh toán đủ số tiền 90 % số tiền hỗ trợ còn lại cho ông H, bà D1, ông M, bà H2.

Trong thời gian này, ông H, bà D1, ông M, bà H2Công ty T4 có trách nhiệm cùng nhau phối hợp để Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H (Do Công ty T4 chịu chi phí) tiến hành cắm ranh đất trên thực địa đối với phần diện tích đất 59,6m² tại địa chỉ nhà số B P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vị trí (9), (10), (11), (12) và phần đất diện tích 33 m² tại địa chỉ nhà số B P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vị trí (7), (8) theo Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh có số hợp đồng 130683/TTĐĐBĐ – VPTT ngày 27/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H; đồng thời, tháo dỡ hàng rào, công trình còn hiện hữu trên đất giao trả; ký biên bản cắm mốc và bàn giao đất trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật thi hành.

  1. Ông H, bà D1, ông M, bà H2Công ty T4 được quyền liên hệ các cơ quan có thẩm quyền làm các thủ tục liên quan đến cấp giấy chứng nhận các thửa đất liên quan tranh chấp, điều chỉnh và cập nhật biến động diện tích đất trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00061 ngày 28/5/1999 do F cấp và cập nhật sang tên ngày 20/3/2017 sau khi trừ phần diện tích đất giao lại cho Công ty T4.
  2. Về chi phí tố tụng giải quyết vụ án Công ty T4 chịu.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng giải quyết vụ án và các đương sự tham gia tố tụng thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án; cụ thể: Nguyên đơn hỗ trợ cho bị đơn 21.000.000 đồng/m² để nhận toàn bộ diện tích đất tranh chấp (ông H 59,6m², ông M 33m²), việc giao nhận đất và tiền thực hiện trong 30 ngày kể từ ngày bản án phúc thẩm có hiệu lực; xét thấy, thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của luật nên cần công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Về án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng (Quyền, thời hạn kháng cáo, kháng nghị và thẩm quyền giải quyết)

Đơn kháng cáo ngày 23/5/2024 của ông M và ông H trong thời hạn và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định tại Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Ngày 27/5/2024, Viện kiểm sát Nhân dân Quận 8 có Quyết định kháng nghị phúc thẩm đối với Bản án sơ thẩm số 125/2024/DS-ST ngày 14/5/2024 của Tòa án Nhân dân Quận 8 việc kháng nghị nằm trong thời hạn.

Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết theo trình tự phúc thẩm đối với Bản án sơ thẩm số 125/2024/DS-ST ngày 14/5/2024 của Tòa án Nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[2] Về nội dung:

[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đỗ Văn H, bà Hồ Thị Thanh D1, ông Trần Hoàng M, bà Nguyễn Thị Cẩm H2 và ông Tô Hoàng D (Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn- Công ty Cổ phần T4) đã tự thỏa thuận và thống nhất được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án; cụ thể như sau:

  1. Công ty T4 đã bồi thường, đền bù và ông Võ Ngọc V đã nhận tiền đối với phần đất 573,5 m² đất là 1 phần thửa 83 có lập bản vẽ do Công ty TNHH Đ lập ngày 25/9/2001 mà ông Võ Ngọc V mua của ông Đỗ Văn H.
  2. Công ty T4 đã bồi thường, đền bù và ông Đỗ Văn H đã nhận tiền đối với phần đất 7,3m² (Ông H bán cho Công ty T4) và phần đất 427m² (Ông H bán cho Công ty T4 do Hợp tác xã Chiến Thắng chi trả tiền thay cho Công ty T4).
  3. Công ty T4 đã bồi thường, đền bù và bà Nguyễn Thị T1 đã nhận tiền đối với phần đất diện tích 271m² thuộc một phần thửa 85 tờ bản đồ số 1 (Đất này ông Quách Trung Á đã nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị T1 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có xác nhận số 91/IB ngày 03/8/2001 của F, Quận H và Bản đồ hiện trạng vị trí (Bổ túc hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất) do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 13/4/2001 và Công ty T4 đã bồi thường cho ông Quách Trung Á bằng hình thức góp vốn quyền sử dụng đất); phần đất 312m² (thửa 84. 85 tờ bản đồ số 1 mà Công ty T4 nhận chuyển nhượng của bà T1 năm 2005) và diện tích đất 6.8m² (thửa 16 tờ số 83 mà Công ty T4 nhận chuyển nhượng của bà T1 năm 2007).
  4. Ông Đỗ Văn H, bà Hồ Thị Thanh D1 đồng ý giao lại cho Công ty T4 phần đất diện tích 59,6m² tọa lạc tại địa chỉ số B P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, đất có vị trí số (9), (10), (11), (12) theo bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh có số hợp đồng 130683/TTĐĐBĐ – VPTT ngày 27/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc sở Tài nguyên và môi trường Thành phố H.
  5. Ông Trần Hoàng M, bà Nguyễn Thị Cẩm H2 đồng ý giao lại cho Công ty T4 phần đất diện tích đất 33 m² tọa lạc tại địa chỉ nhà số B P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, đất có vị trí số (7), (8) theo bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh có số hợp đồng 130683/TTĐĐBĐ – VPTT ngày 27/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc sở Tài nguyên và môi trường Thành phố H.
  6. Công ty T4 hỗ trợ giá trị quyền sử dụng đất tương ứng 21.000.000 đồng/m² đất; cụ tthể:
    1. Công ty T4 hỗ trợ cho ông Đỗ Văn H và bà Hồ Thị Thanh D1 số tiền 1.251.600.000 đồng (= 21.000.000 đồng/m² x 59,6m²).
    2. Công ty T4 hỗ trợ cho ông Trần Hoàng M và bà Hồ Thị Thanh D1 số tiền 693.000.000 đồng (= 21.000.000 đồng/m² x 33 m²).

Việc thanh toán tiền làm 02 đợt; cụ thể:

Đợt 1: Trong vòng 10 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Công ty T4 thanh toán số tiền 10 % trên tổng số tiền hỗ trợ cho ông H, bà D1, ông M, bà H2; trong thời gian này ông H, bà D1 có trách nhiệm tháo dỡ, di dời các công trình và cây trồng trên đất diện tích 59,6m² và ông M, bà H2 có trách nhiệm tháo dỡ, di dời các công trình và cây trồng trên đất diện tích 33 m² nêu trên.

Đợt 2: Trong vòng 30 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Công ty T4 thanh toán đủ số tiền 90 % số tiền hỗ trợ còn lại cho ông H, bà D1, ông M, bà H2.

Trong thời gian này, ông H, bà D1, ông M, bà H2Công ty T4 có trách nhiệm cùng nhau phối hợp để Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H (Do Công ty T4 chịu chi phí) tiến hành cắm ranh đất trên thực địa đối với phần diện tích đất 59,6m² tại địa chỉ nhà số B P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vị trí (9), (10), (11), (12) và phần đất diện tích 33 m² tại địa chỉ nhà số B P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vị trí (7), (8) theo Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh có số hợp đồng 130683/TTĐĐBĐ – VPTT ngày 27/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H; đồng thời, tháo dỡ hàng rào, công trình còn hiện hữu trên đất giao trả; ký biên bản cắm mốc và bàn giao đất trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật thi hành.

  1. Ông H, bà D1, ông M, bà H2Công ty T4 được quyền liên hệ các cơ quan có thẩm quyền làm các thủ tục liên quan đến cấp giấy chứng nhận các thửa đất liên quan tranh chấp, điều chỉnh và cập nhật biến động diện tích đất trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00061 ngày 28/5/1999 do F cấp và cập nhật sang tên ngày 20/3/2017 sau khi trừ phần diện tích đất giao lại cho Công ty T4.
  2. Về chi phí tố tụng giải quyết vụ án Công ty T4 chịu.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định của pháp luật.

[2.2] Việc tự thỏa thuận hòa giải của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với quy định của luật, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của luật. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm thống nhất đề nghị của Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Tuyên xử:

  1. Sửa Bản án số 125/2024/DS-ST ngày 14/5/2024 của Tòa án Nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm:
    • - Công ty Cổ phần T4 đã bồi thường, đền bù và ông Võ Ngọc V đã nhận tiền đối với phần đất 573,5 m² đất là 1 phần thửa 83 có lập bản vẽ do Công ty TNHH Đ lập ngày 25/9/2001 mà ông Võ Ngọc V mua của ông Đỗ Văn H.
    • - Công ty Cổ phần T4 đã bồi thường, đền bù và ông Đỗ Văn H đã nhận tiền đối với phần đất 7,3m² (Ông H bán cho Công ty Cổ phần T4) và phần đất 427m² (Ông H bán cho Công ty TNHH T4 do Hợp tác xã Chiến Thắng chi trả tiền thay cho Công ty Cổ phần T4).
    • - Công ty Cổ phần T4 đã bồi thường, đền bù và bà Nguyễn Thị T1 đã nhận tiền đối với phần đất diện tích 271m² thuộc một phần thửa 85 tờ bản đồ số 1 (Đất này ông Quách Trung Á đã nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị T1 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có xác nhận số 91/IB ngày 03/8/2001 của F, Quận H và Bản đồ hiện trạng vị trí (Bổ túc hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất) do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 13/4/2001 và Công ty Cổ phần T4 đã bồi thường cho ông Quách Trung Á bằng hình thức góp vốn quyền sử dụng đất); phần đất 312m² (thửa 84. 85 tờ bản đồ số 1 mà Công ty Cổ phần T4 nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị T1 năm 2005) và diện tích đất 6.8m² (thửa 16 tờ số 83 mà Công ty Cổ phần T4 nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị T1 năm 2007).
    • - Ông Đỗ Văn H, bà Hồ Thị Thanh D1 giao lại cho Công ty Cổ phần T4 phần đất diện tích 59,6m² tọa lạc tại địa chỉ số B P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, đất có vị trí số (9), (10), (11), (12) theo bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh có số hợp đồng 130683/TTĐĐBĐ – VPTT ngày 27/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc sở Tài nguyên và môi trường Thành phố H.
    • - Ông Trần Hoàng M, bà Nguyễn Thị Cẩm H2 giao lại cho Công ty Cổ phần T4 phần đất diện tích đất 33 m² tọa lạc tại địa chỉ nhà số B P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, đất có vị trí số (7), (8) theo bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh có số hợp đồng 130683/TTĐĐBĐ – VPTT ngày 27/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc sở Tài nguyên và môi trường Thành phố H.
    • - Công ty Cổ phần T4 hỗ trợ giá trị quyền sử dụng đất tương ứng 21.000.000 đồng/m2 đất; cụ tthể:
      • + Công ty Cổ phần T4 hỗ trợ cho ông Đỗ Văn H và bà Hồ Thị Thanh D1 số tiền 1.251.600.000 đồng (= 21.000.000 đồng/m² x 59,6m²).
      • + Công ty Cổ phần T4 hỗ trợ cho ông Trần Hoàng M và bà Hồ Thị Thanh D1 số tiền 693.000.000 đồng (= 21.000.000 đồng/m² x 33 m²).

Việc thanh toán tiền hỗ trợ làm 02 đợt; cụ thể:

  • + Đợt 1: Trong vòng 10 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Công ty Cổ phần T4 thanh toán số tiền 10% trên tổng số tiền hỗ trợ cho ông Trần Văn H4, bà Hồ Thị Thanh D1, ông Trần Hoàng M, bà Nguyễn Thị Cẩm H2.
  • Trong thời gian này ông Trần Văn H4, bà Hồ Thị Thanh D1 có trách nhiệm tháo dỡ, di dời các công trình và cây trồng trên đất diện tích 59,6m² và ông Trần Hoàng M, bà Nguyễn Thị Cẩm H2 có trách nhiệm tháo dỡ, di dời các công trình và cây trồng trên đất diện tích 33 m² nêu trên.

  • + Đợt 2: Trong vòng 30 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Công ty Cổ phần T4 thanh toán đủ số tiền 90 % số tiền hỗ trợ còn lại cho ông Trần Văn H4, bà Hồ Thị Thanh D1, ông Trần Hoàng M, bà Nguyễn Thị Cẩm H2.

Trong thời gian này, Trần Văn H4, bà Hồ Thị Thanh D1, ông Trần Hoàng M, bà Nguyễn Thị Cẩm H2Công ty Cổ phần T4 có trách nhiệm cùng nhau phối hợp để Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H (Do Công ty Cổ phần T4 chịu chi phí) tiến hành cắm ranh đất trên thực địa đối với phần diện tích đất 59,6m² tại địa chỉ nhà số B P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vị trí (9), (10), (11), (12) và phần đất diện tích 33 m² tại địa chỉ nhà số B P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vị trí (7), (8) theo Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh có số hợp đồng 130683/TTĐĐBĐ – VPTT ngày 27/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H; đồng thời, tháo dỡ hàng rào, công trình còn hiện hữu trên đất giao trả; ký biên bản cắm mốc và bàn giao đất trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật thi hành.

  • - Ông Trần Văn H4, bà Hồ Thị Thanh D1, ông Trần Hoàng M, bà Nguyễn Thị Cẩm H2Công ty Cổ phần T4 được quyền liên hệ các cơ quan có thẩm quyền làm các thủ tục liên quan đến cấp giấy chứng nhận các thửa đất liên quan tranh chấp, điều chỉnh và cập nhật biến động diện tích đất trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00061 ngày 28/5/1999 do F cấp và cập nhật sang tên ngày 20/3/2017 sau khi trừ phần diện tích đất giao lại cho Công ty T4.
  • - Về chi phí tố tụng giải quyết vụ án Công ty Cổ phần T4 chịu.
  • 3. Về án phí dân sự
    • Án phí dân sự sơ thẩm: 600.000 đồng, Công ty Cổ phần T4 tự nguyện chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0044887 và số AA/2019/0044888 ngày 18/01/2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

      Công ty Cổ phần T4 đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

    • Án phí dân sự phúc thẩm:
      • - Ông Trần Văn H4 phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền án phí, lệ phí Tòa án số 0028158 ngày 24/5/2024; ông Trần Văn H4 đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
      • - Ông Trần Hoàng M phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền án phí, lệ phí Tòa án số số 0028159 ngày 24/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Trần Hoàng M đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
  • Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  • Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
  • Nơi nhận:

    • - TAND Tối cao;
    • - TAND cấp cao tại Tp.HCM;
    • - VKSND cấp cao tại Tp.HCM;
    • - VKSND Tp. HCM;
    • - TAND Quận 8- Tp.HCM;
    • - Chi cục THADS Quận 8;
    • - Các đương sự;
    • - Lưu (T8/2024).

    TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

    THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

    Nguyễn Thị Minh Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 735/2024/DS-PT ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 735/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa Bản án số 125/2024/DS-ST ngày 14/5/2024 của Tòa án Nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger