TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 734A/2024/DS-PT
Ngày: 10 - 9 - 2024
V/v “Tranh chấp lối đi chung, yêu cầu hủy
giấy chứng nhận QSDĐ”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Minh
Các thẩm phán: Ông Phạm Trí Tuấn
Ông Phan Nhựt Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân
dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ba Duy – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ thụ lý số 285/2024/TLPT-DS
ngày 20 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp lối đi chung, yêu cầu hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 133/2023/DS –ST ngày 18 tháng 12 năm
2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1036/2024/QĐPT-DS
ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
- Ông Võ Khắc L, sinh năm 1977. (có mặt)
- Bà Ngô Thị D, sinh năm 1976. (vắng mặt)
Cùng nơi cư trú: số B, tổ B, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của ông L, bà D:
- ông Võ Văn Ú, sinh năm 1957, nơi cư trú: số B, tổ B khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang. (có mặt)
- Ông Võ Đặng N, sinh năm 1996; tạm trú: 37/3 đường số D, khu phố A, phường L, Tp T, Tp Hồ Chí Minh. (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Nguyễn Tiến H – Luật
sư thuộc Văn phòng L2, Đoàn luật sư Thành phố H. (có mặt)
Địa chỉ: số A đường số F, phường L, Tp T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn:
ông Lê Văn K, sinh năm 1950; nơi cư trú: số B, tổ F, khóm V,
phường N, thành phố C, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của ông K: Bà Lê Thị Huyền T, sinh năm
1979, nơi cư trú 235/10 tổ F, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang.
(có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Võ Văn Ú, sinh năm 1957 (có mặt)
- Bà Đặng Thị Thủy L1, sinh năm 1955. (vắng mặt)
- Ông Lê Quốc V, sinh năm 1977 (con ông K), địa chỉ: Số B tổ F, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang. (có mặt)
- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1975. (vắng mặt)
- Bà Thái Thị Hồng H1. Sinh năm 1974. (vắng mặt)
- Sở Tài nguyên và Môi trưởng tỉnh A, địa chỉ số H, T, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang
Đại diện theo ủy quyền của ông Ú: Ông Võ Đặng N, sinh năm 1996; tạm trú: 37/3 đường số D, khu phố A, phường L, Tp T, Tp Hồ Chí Minh. (có mặt)
Cùng nơi cư trú: số B, Tổ 02, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang;
Bà L1 ủy quyền cho ông Võ Văn Ú, sinh năm 1957, nơi cư trú: số B, khóm V, Phường N, thành phố C, tỉnh An Giang.
Cùng nơi cư trú: khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Hùng D1 – Phó Chủ tịch (Đơn xin xét xử vắng mặt)
Người kháng cáo: người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Võ Văn Ú
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:
Cha mẹ ông L, bà D là ông Võ Văn Ú, bà Đặng Thị Thủy L1 được Ủy ban nhân dân thị xã C cấp giấy chứng nhận QSDĐ số CH00997 ngày 01/9/2010 diện tích 14268m², gồm các thửa 132, 133, 134, 140, 141. Khi ông Ú, bà L1 kê khai đăng ký quyền sử dụng phần đất 14.268m² thì có khoảng 220m² đất bờ kênh để làm đường đi nên nhà nước không cho đăng ký. Phần đất 220m² là của ông Ú, bà L1 đã được hình thành từ năm 1998, ông L, bà D, ông Ú, bà L1 và
nhiều hộ dân khác sử dụng phần đất 220m² để đi ra lộ kênh 5. Giáp với đất ông Ú, bà L1 là phần đất của ông L, bà D có diện tích 3.192m² được Ủy ban nhân dân thành phố C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết QSDĐ) số CH03287fE ngày 31/5/2020, thửa 138, 145, tờ bản đồ 100.
Khoảng tháng 10/2021 khi thu hoạch lúa ông Lê Quốc V con ông Lê Văn K cản trở không cho ông L, bà D, ông Ú, bà L1 vận chuyển lúa trên phần đất 220m². Sau đó ông V, ông K tranh chấp với ông L, bà D tại Ủy ban nhân dân phường N thì mới biết ông Lê Văn K được cấp quyền sử dụng đất luôn cả phần đất lối đi 220m².
Ông L, bà D yêu cầu:
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Lê Văn K số bìa CP080452; số vào sổ CS07646, thửa 143, tờ bản đồ 100, diện tích 6.251m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A ký ngày 30/10/2018.
- Trả lại nguyên trạng đất công làm đường đi chung diện tích khoảng 220m², ông Lê Văn K và Lê Quốc V không được quyền cản trở chúng tôi đi con đường này.
Sau khi có kết quả đo đạc thì ông L, bà D thay đổi yêu cầu khởi kiện:
- Yêu cầu ông K trả lại diện tích đất 69m² theo bản trích do hiện trạng khu đất tranh chấp ngày 18/9/2023 của Công ty TNHH Đ. Ông Lê Văn K và Lê Quốc V không được quyền cản trở chúng tôi đi con đường này; phần đất còn lại rút yêu cầu khởi kiện.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Lê Văn K số bìa CP080452; số vào sổ CS07646, thửa 143, tờ bản đồ 100, diện tích 6.251m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A ký ngày 30/10/2018.
Bị đơn: ông Lê Văn K do bà Lê Thị Huyền T đại diện trình bày:
Ông Lê Văn K được Ủy ban nhân dân thị xã C cấp giấy chứng nhận QSDĐ số H.00257fE ngày 30/6/2009 diện tích 6.004m². Ngày 04/9/2018 ông K chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn T1, bà Thái Thị Hồng H1 diện tích 181m², diện tích đất ông K còn lại 5.823m².
Ông Lê Quốc V được Ủy ban nhân dân Thị xã C cấp giấy chứng nhận QSDĐ số H.00238fE ngày 30/6/2009 diện tích 1.067m². Ngày 04/9/2018 ông V chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn T1, bà Thái Thị Hồng H1 diện tích 639m². Ngày 10/10/2018 ông V chuyển nhượng cho ông K diện tích 428m², ông V không còn đất.
Ngày 30/10/2018 ông K được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 6.251m² bao gồm phần đất 5.823m² còn lại và phần đất tích 428m² chuyển nhượng của ông V.
Hiện nay giáp phần đất 6.251m² của ông K vẫn còn con đường đất đi ra lộ kênh 5, phần đất lối đi này là đất công nhiều hộ dân vẫn sử dụng để vận chuyển lúa. Ông L, bà D cho rằng trong phần đất cấp cho ông K có phần đất của ông Ú
là không đúng. Ông K không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Yêu cầu nguyên đơn phải cung cấp chứng cứ chứng minh phần đất lối đi nằm trong giấy chứng nhận QSDĐ của ông K là của nguyên đơn.
Đối với biên bản hòa giải ngày 14/8/2009 tại Văn phòng Ban Tư pháp phường Núi Sam, do ông Ú cho rằng phần đất công là đất của ông Ú nên ngăn cản không cho ông K đi trên phần đất công để vào đất canh tác mới xảy ra tranh chấp. Ông K yêu cầu ông Ú chứng minh phần đất phần đất lối đi là đất của ông Ú nhưng ông Ú không cung cấp được chứng cứ, nên Ủy ban nhân dân phường N xác định phần đất lối đi là đất công mọi người đều được sử dụng, chứ ông K không xin ông Ú đặt ống thoát nước đi qua đất ông Ú.
Trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Võ Văn Ú: Tôi và vợ bà Đặng Thị Thủy L1 được Ủy ban nhân dân thị xã C cấp giấy chứng nhận QSDĐ số CH00997 ngày 01/9/2010 diện tích 14.268m², gồm các thửa 132, 133, 134, 140, 141. Khi cấp giấy chứng nhận QSDĐ thì tôi còn để lại phần đất khoảng 220m² để làm lối đi chung do phần đất này là đất bờ kênh nhà nước không cấp giấy. Từ năm 1998 đến nay thì gia đình tôi đã sử dụng phần đất 220m² để phơi lúa, vận chuyển lúa ra lộ kênh 5. Nếu phần đất 220m² không phải là đất của tôi thì tại sao năm 2009 khi hòa giải tại Văn phòng Ban Tư pháp phường Núi Sam ông Kéo lại xin tôi đặt ống thoát nước. Sau khi có kết quả đo đạc thì ông Ú xác định lại phần đất ông để làm lối đi là 69m² theo bản trích do hiện trạng khu đất tranh chấp ngày 18/9/2023 của Công ty TNHH Đ. Ông thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại văn bản ghi nhận ý kiến ngày 20/10/2023 ông Nguyễn Văn T1, bà Thái Thị Hồng H1 trình bày (BL 130): Năm 2018 vợ chồng tôi có mua đất của ông Lê Văn K là 181m² và ông Lê Quốc V 639m² tổng cộng 820m², sau đó tôi bán lại cho người khác, đến nay tôi không còn sử dụng đất trên. Do công việc làm ăn của gia đình, nên vợ chồng tôi không có điều kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh An Giang để tham dự theo giấy triệu tập.
Ông Lê Quốc V: Tôi thống nhất với ý kiến của bà Lê Thị Huyền T.
Tại văn bản số 1789/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 29/5/2023 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A (BL 159): Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn K là đúng theo trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tranh luận:
Ông Ú, ông L: Khi ông V đăng ký quyền sử dụng đất và chuyển nhượng đất cho ông T1, bà H1 thì ông không được ký giáp ranh nên ông V được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.067m² là không đúng; ông Ú, ông L không có chứng cứ chứng minh phần đất 69m² là của ông Ú.
Bà T, ông V: Ông Ú, ông L không có chứng cứ chứng minh phần đất 69m² là của hai ông nên việc yêu cầu ông K trả lại là không có căn cứ.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 133/2023/DS –ST ngày 18 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Võ Khắc L và Ngô Thị D về việc yêu cầu bị đơn Lê Văn K trả phần đất 151m².
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Khắc L, bà Ngô Thị D về việc yêu cầu ông Lê Văn K phải trả phần đất 69m² theo bản trích đo hiện trạng khu đất tranh chấp ngày 18/9/2023 của Công ty TNHH Đ; ông Lê Văn K và Lê Quốc V không được quyền cản trở ông L, bà D đi con đường này và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Lê Văn K số CS07646, thửa 143, tờ bản đồ 100, diện tích 6.251m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A ký ngày 30/10/2018.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự
Ngày 02/01/2024, đại diện theo ủy quyền nguyên đơn ông Võ Khắc L và bà Ngô Thị D - ông Võ Văn Ú có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị theo hướng sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm để cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án vì lý do cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng nghiêm trọng và trên giấy chứng nhận sử dụng đất của ông V không thể hiện tọa độ nên không xác định được cụ thể ranh giới để đống cọc lên lối đi chung ảnh hưởng đến quyền lợi của ông Ú và bà D.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm, bác kháng cáo của nguyên đơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, đảm bảo cho các đương sự có các quyền và nghĩa vụ
theo quy định; gửi các Quyết định, Thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự đầy đủ, đúng thời hạn. Hội đồng xét xử đúng thành phần, phiên tòa diễn ra theo đúng trình tự và quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Xét thấy bản án sơ thẩm xét xử là có căn cứ, phù hợp với các quy định pháp luật, ông Lê Quốc V có nguồn gốc sử dụng đất rõ ràng đã được cấp giấy chứng nhận. Ông L và bà D kháng cáo nhưng không có tài liệu chứng minh nên đề nghị Hội đồng xét xử bác đơn kháng cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Ngày 25/11/2001 ông Võ Văn Ú, bà Đặng Thị Thủy L1 có đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa số 132, 133, 134, 140, 141 với tổng diện tích là 14.268m². Ngày 01/9/2010 ông Ú, bà L1 được Ủy ban nhân dân thị xã C cấp giấy chứng nhận QSDĐ số CH00997 đối với các thửa đất trên, với tổng diện tích 14.268m². Toàn bộ hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Ú, bà L1 không có tài liệu nào thể hiện ông Ú, bà L1 còn phần đất khoảng 220m² (đo đạc thực tế hiện nay là 69m²) không được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận với lý do là đất bờ kênh. Phần đất với tổng diện tích là 14.268m² mà ông Ú, bà L1 được cấp giấy chứng nhận đúng với diện tích đất mà ông Ú, bà L1 đăng ký sử dụng.
[2] Đối với phần diện tích đất mà ông Lê Văn K được cấp giấy chứng nhận thì vào ngày 30/6/2009 ông K được Ủy ban nhân dân thị xã C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.00257Fe đối với phần đất có tổng diện tích 6.004m², cụ thể là thửa 143 diện tích 1.228m² và thửa 144 diện tích 4.776m².
Ngày 04/9/2018 ông K chuyển nhượng cho bà Thái Thị Hồng H1, ông Nguyễn Văn T1 181m² đất tại thửa 143. Như vậy tổng diện tích đất ông K còn lại là của thửa 143, 144 là 5.823m².
Đến ngày 10/10/2018, ông K nhận chuyển nhượng của ông Lê Quốc V phần đất có diện tích 428m² thuộc một phần thửa đất số 142 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.00238fE do Ủy ban nhân dân thị xã C cấp cho ông V ngày 30/6/2009.
Ngày 25/7/2017 ông K có đơn đề nghị hợp các thửa đất số 143 diện tích 1.047m², thửa 144 diện tích 4.776m² và một phần thửa 142 diện tích 428m² thành thửa 143 diện tích 6.251m².
Ngày 30/10/2018 ông K được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS07646 đối với thửa số 143, tờ bản đồ 100, diện tích 6.251m², đúng với diện tích mà ông K đăng ký sử dụng.
Riêng ông Lê Quốc V tiếp tục chuyển nhượng cho bà Thái Thị Hồng H1, ông Nguyễn Văn T1 phần đất còn lại của thửa đất số 142 với diện tích 639m²; ông V không còn đất.
[3] Hội đồng xét xử nhận thấy, căn cứ theo các bộ hồ sơ pháp lý thửa đất nêu trên thì việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất của ông Ú, bà L1, ông K đều được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật; đúng với quá trình tạo lập và đăng ký sử dụng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh phần đất có diện tích 69m² là của ông Ú, bà L1, đất bờ kênh hoặc đất công đang được sử dụng làm lối đi chung. Theo Bản trích đo hiện trạng ngày 18/9/2023 của Công ty TNHH Đ thì phần đất có diện tích 69m² nằm hoàn toàn trong thửa đất đã được Nhà nước công nhận quyền sử dụng hợp pháp cho bị đơn. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông L, bà D phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ 158, 163 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 133/2023/DS –ST ngày 18 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Khắc L và bà Ngô Thị D về việc yêu cầu bị đơn ông Lê Văn K phải trả lại phần đất có diện tích 151m².
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Khắc L, bà Ngô Thị D về việc:
- Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS07646 đối với thửa đất số 143, tờ bản đồ số 100, diện tích 6.251m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 30/10/2018 cho ông Lê Văn K.
- Yêu cầu ông Lê Văn K phải trả phần đất có diện tích 69m² thuộc thửa đất số 143 theo bản trích đo hiện trạng khu đất tranh chấp ngày 18/9/2023 của Công ty TNHH Đ làm lối đi chung.
- Yêu cầu ông Lê Văn K, ông Lê Quốc V không được quyền cản trở ông L, bà D sử dụng phần đất có diện tích 69m² trên làm lối đi chung.
- Về chi phí tố tụng: Ông Võ Khắc L, bà Ngô Thị D phải chịu 12.700.000 đồng; ông L, bà D đã nộp xong.
- Về án phí:
- Ông Võ Khắc L, bà Ngô Thị D mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí mà ông L, bà D đã nộp tại các biên lai thu số 0000220 và 0000221 cùng ngày 04/5/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
- Ông Võ Khắc L, bà Ngô Thị D mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí mà ông L, bà D đã nộp tại các biên lai thu số 0000115 và 0000116 cùng ngày 04/1/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Minh |
Bản án số 734A/2024/DS-PT ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp lối đi chung, yêu cầu hủy giấy chứng nhận qsdđ
- Số bản án: 734A/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp lối đi chung, yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSDĐ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Võ Khắc L kiện ông Lê Văn K về việc “Tranh chấp lối đi chung, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Tuyên xử Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 133/2023/DS –ST ngày 18 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
