Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 734/2024/HS-PT

Ngày 27-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thúy Hồng

Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phượng – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 543/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Lê Ngọc D và đồng phạm. Do có kháng cáo của các bị cáo Lê Ngọc D, Phạm Minh S, Vương Công K đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 209/2024/HS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Các bị cáo có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị:

  1. Lê Ngọc D; giới tính: Nam; sinh ngày 11/11/1973; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký NKTT: A H, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số: 737/33/24 L, Phường A, quận B (bị cáo khai ở quận T; lý lịch bị can thể hiện hồ sơ bút lục số 454-455 ghi quận T, xác nhận của Công an P1 ghi bị cáo không đăng ký cư trú, không thực tế cư trú tại số: 737/33/24 L, Phường A, quận T), Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn N và bà Lê Thị T (đã chết); vợ: Nguyễn Thị Hoàng O, sinh năm: 1987; con: có 01 người con, sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không.
  2. Nhân thân: Tại bản án hình sự số 145/HSST ngày 05/11/1991 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng, về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa”; đã chấp hành xong toàn bộ bản án và đương nhiên xóa án tích. Tại bản án hình sự số 18/HSST ngày 07/8/1992 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 03 tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”; đã chấp hành xong toàn bộ bản án và đương nhiên xóa án tích. Tại bản án hình sự số 703/HSST ngày 11/7/1994 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù, về tội “Trốn khỏi nơi giam” và 05 năm tù, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân”. Tổng hợp hình phạt buộc chấp hành hình phạt chung là 06 năm tù; đã chấp hành xong toàn bộ bản án và đương nhiên xóa án tích.

    - Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2022 đến nay - tại Trại tạm giam C, Công an Thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. Phạm Minh S; giới tính: Nam; sinh ngày 01/01/1983; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký NKTT: 245/69/37, N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 181, Nguyễn Cửu P, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Phụng N1, sinh năm 1943 và bà Phạm Thị M (bị cáo khai mẹ là Phan Thị M1; lý lịch bị can, hồ sơ bút lục số 484 ghi mẹ là Phan Thị M1), sinh năm 1956; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
  4. - Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2022 đến nay - tại Trại tạm giam C, Công an Thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  5. Vương Công K; giới tính: Nam; sinh ngày 02/02/1987; tại: Quảng Bình; nơi đăng ký NKTT: thôn L, xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình; chỗ ở: A, Ni Sư H, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Vương Công K1 (chết) và bà Lê Thị L (chết); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
  6. - Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2022 đến nay - tại Trại tạm giam C, Công an Thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Ngọc D: Ông Trần Ngọc Ầ và ông Nguyễn Hồng K2, là Luật sư của Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, bào chữa chỉ định cho bị cáo. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Minh S: Ông Hồ Hoài N2, là Luật sư của Công ty L3, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, bào chữa chỉ định cho bị cáo. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Vương Công K: Bà Đào Thị Mỹ T1, là Luật sư của Công ty L4, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, bào chữa chỉ định cho bị cáo. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ 15 phút ngày 22/12/2022, tại trước nhà số I, Â, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an quận T bắt quả tang Trần Quốc H đang điều khiển xe máy biển số 59S1- 958.37, có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng, thu giữ trên xe máy của H có một hộp giấy hình chữ nhật in chữ “Bamba- Drill Template”, trong hộp giấy có một cân điện tử và một gói ma túy ở thể rắn có khối lượng 4,9769 gam, loại Methamphetamine.

Tiến hành mở rộng điều tra vụ án, vào lúc 15 giờ 00 phút cùng ngày, tại tầng trệt nhà số A, Ni Sư H, Phường A, quận T, Đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an quận T bắt quả tang Trần Văn T2 và Nguyễn Đông H1, có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng và bán cho người khác. Thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của Trần Văn T2 đang mặc có một gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 4,5556 gam, loại Methamphetamine; và thu giữ trong balo màu đen Nguyễn Đông H1 đang mang trên người có một gói nylon màu xám bên ngoài được quấn băng keo màu vàng, bên trong có một gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 380,98 gam, loại Methamphetamine. Tiếp tục kiểm tra trên gác căn nhà trên, phát hiện Vương Công K có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để bán cho người khác. K tự nguyện giao nộp 01 gói nylon màu xanh, bên trong có 01 gói giấy màu trắng được quấn băng keo trong, bên trong gói giấy đựng 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 97,5325 gam, loại Methamphetamine. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Văn T2, Nguyễn Đông H1, Vương Công K và thu giữ toàn bộ số ma túy nêu trên.

Trong quá trình kiểm tra căn nhà nêu trên, Công an còn phát hiện Nguyễn Minh Q điều khiển xe máy hiệu Honda SH màu đỏ, biển số 59T2- 348.60 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, mời làm việc nhưng không phát hiện thu giữ ma túy.

Vào lúc 14 giờ 45 phút ngày 23/12/2022, tại khu vực thang máy T2 dưới hầm xe, thuộc tòa nhà B chung cư T - số 01, T, Phường F, Quận H, Tổ công tác Đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an Q1 phát hiện Lê Ngọc D và Phạm Minh S có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để bán cho người khác. Thu giữ của Lê Ngọc D và Phạm Minh S 01 balô màu đen bên trong có 08 gói nylon màu trắng đục, bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 4.908,15 gam, loại Methamphetamine. Cơ quan CSĐT Công an Q1 đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Ngọc D, Phạm Minh S và thu giữ toàn bộ số ma túy trên.

Cùng ngày 23/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an Q1 tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Ngọc D và Phạm Minh S tại nhà số E, Â, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả khám xét phát hiện thu giữ của Lê Ngọc D, gồm: 05 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 816,98 gam, loại Methamphetamine và 01 cân điện tử.

Tất cả số ma túy thu giữ trong vụ án đã được giám định, kết quả thể hiện tại các bản Kết luận giám định số: 225/KLGĐ và 227/KLGĐ ngày 30/12/2022 của Phòng K3 Công an Thành phố H (hồ sơ bút lục số: 144, 145, 167, 168).

Quá trình điều tra xác định:

+ Lê Ngọc D khai nhận: Khoảng tháng 11/2022, D quen biết một người đàn ông tên Đ (không rõ lai lịch). Đ và D thỏa thuận, D cất giữ ma túy của Đ và đi bán ma túy theo sự chỉ đạo của Đ. Mỗi lần bán ma túy, Đ sẽ trả cho D số tiền 3.000.000 đồng. Ngoài ra, khi có người mua ma túy thì D sẽ lấy ma túy của Đ để bán. Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 20/12/2022, Đ gọi điện thoại yêu cầu D ra đầu hẻm E, Â, phường P, quận T nhận 01 balo màu đen chứa ma túy của một thanh niên (không rõ lai lịch). Du mang balo về nhà số E, Â, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra thấy 15 gói ma túy.

Lê Ngọc D và Phạm Minh S sống cùng tại nhà số E, Â, phường P, quận T là nhà thuê do D trả tiền thuê nhà nhưng để S đứng tên hợp đồng thuê. Du và S cùng nhau thực hiện việc cất giấu và mua bán ma túy, Phạm Minh S đã đi giao ma túy cho D 03 lần. Cụ thể:

- Hai lần đầu: Vào khoảng 12h30' và khoảng 19h30' trong ngày 21/12/2022, Đ gọi điện thoại yêu cầu D bán mỗi lần một gói ma túy cho 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) ở khu vực đường C, Phường D, Quận H; rồi D gọi điện thoại nói S mang ma túy đi giao theo yêu cầu của Đ. Sau khi bán ma túy, một nam thanh niên (không rõ lai lịch) đã đến và đưa cho D 3.000.000 đồng, D chia S 1.000.000 đồng tiền công bán ma túy.

- Lần thứ ba: Khoảng 12h00' ngày 23/12/2022, Đ điện thoại yêu cầu D mang 08 gói ma túy đá đến tầng hầm Tòa nhà B1, chung cư T bán cho một người phụ nữ (không rõ lai lịch); D gọi điện thoại yêu cầu S lấy 01 balo đen có 05 gói ma túy đá và lấy trong tủ thêm 03 gói ma túy bỏ vào ba lô mang tới khu vực giao lộ T - Quốc lộ E, Phường F, Quận H đưa cho D đi bán cho khách. Một lúc sau, S chở theo 01 balo màu đen chứa 08 gói ma túy đá để trước baga xe gắn máy biển số 70E1-121.95 đến gặp D, còn D điều khiển xe gắn máy biển số 59S2-792.79 chạy trước, S chạy theo sau đến tầng hầm Tòa nhà B1, chung cư T gửi xe. S xách ba lô màu đen chứa ma túy đá đi theo D đến trước cửa thang máy tại tầng hầm thì bị Công an kiểm tra, bắt quả tang như nêu trên. Phạm Minh S khai nhận phù hợp với lời khai của Lê Ngọc D về việc đã giúp D mua bán ma túy.

Ngoài ra, khoảng đầu tháng 12/2022, Lê Ngọc D được C (không rõ lai lịch) giới thiệu quen biết với Vương Công K. Từ đầu tháng 12/2022 đến ngày 22/12/2022, D đã bán ma túy cho K 04 lần, cụ thể:

- Hai lần đầu vào khoảng 12/2022, K gọi điện thoại D đặt mua 100 gam ma túy đá với giá 33.000.000 đồng trả tiền sau. D đồng ý và giao ma túy tại chỗ ở của K số 168, Ni Sư H, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi bán ma túy, K trực tiếp gặp và trả tiền mua ma túy cho D; D đã đưa 28.000.000 đồng tiền bán ma túy cho người của Đ.

- Lần thứ ba: vào khoảng 12/2022, K gọi điện thoại D đặt mua 50 gam ma túy đá với giá 17.000.000 đồng. D đồng ý và giao ma túy tại chỗ ở của Khoa như trên. Sau khi bán ma túy, K trực tiếp trả tiền mua ma túy cho D; sau đó, D đã đưa 14.000.000 đồng tiền bán ma túy cho người của Đ.

- Lần thứ tư: Sáng ngày 22/12/2022: Du đến chỗ ở của K tại số A, Ni Sư H, Phường A, quận T cho K 500 gam ma túy đá với giá 150.000.000 đồng, K hẹn khi nào bán xong sẽ trả tiền, D đồng ý.

+ Vương Công K khai nhận phù hợp với lời khai của Lê Ngọc D về việc K và D mua bán ma túy như nêu trên.

Riêng khối lượng 500 gam ma túy K đã mua của Lê Ngọc D ngày 22/12/2022, đến chiều cùng ngày, K đưa số ma túy này cho Nguyễn Đông H1 mang ra bến xe A để gửi về Đà Nẵng cho khách của K và H1 thì bị Công an bắt quả tang thu giữ như đã nêu trên.

Đối với gói ma túy màu xanh thu tại hộc tủ nhà số A, Ni Sư H, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh: Ngày 21/12/2022, K khai mua của Nguyễn Minh Q với giá 32.000.000 đồng/100 gam để bán lại cho người đàn ông tên L1 (không rõ lai lịch) ở Đà Nẵng với giá 35.000.000 đồng. L1 đã chuyển 19.000.000 đồng vào tài khoản Momo qua số điện thoại 0707.705.xxx tên Nguyễn Thị Thu B là bạn của K. Sau đó, K đã yêu cầu Thu B chuyển số tiền 19.000.000 đồng vào tài khoản Nguyễn Minh Q số 1031672040 tại ngân hàng V; khi Q đến nhà đưa ma túy, K đưa Q thêm 5.000.000 đồng. Đến sáng ngày 22/12/2022, Q gọi điện thoại yêu cầu K trả lại ma túy đã giao do bị lỗi và hẹn chiều cùng ngày Q sẽ qua nhận lại; đến khoảng 15h15' cùng ngày, Công an kiểm tra thu giữ số ma túy trên.

Ngoài ra, mỗi lần D đến nhà số A, Ni Sư H, Phường A, quận T ma túy đá cho K thì K đều lấy ma túy đá sử dụng thử, dụng cụ sử dụng ma túy đá là của K. Lần cuối cùng, D sử dụng ma túy đá tại nhà K vào ngày 21/12/2022 cùng với Vương Công K, Nguyễn Đông H1 và Trần Văn T2.

+ Nguyễn Đông H1 khai: Khoảng 10h00, ngày 22/12/2022, H1 đến nhà Vương Công K tại số A, Ni Sư H, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cùng sử dụng ma túy đá với K, Lê Ngọc D và Trần Văn T2; sau đó D và H1 đi về. Đến khoảng 14h00 cùng ngày, H1 đang ở nhà tại số D, Â, Phường A, quận T thì K điện thoại yêu cầu H1 quay lại nhà K lấy ma túy và 1.500.000 đồng để gửi ma túy đi Đà Nẵng cho khách thì bị Cơ quan điều tra bắt quả tang H1 và T2 như đã nêu trên. H1 khai biết K mua ma túy đá của D nhưng giá cả và số lượng giữa D và K thỏa thuận như thế nào thì H1 không được biết.

Đối với hai gói ma túy H1 đưa cho Trần Văn T2, H1 khai đây là số ma túy còn dư khi H1 và K sử dụng tại nhà của K, H1 cất ở góc nhà của K. Khoảng 13h00 ngày 22/12/2022, H1 lấy 01 gói ma túy bán cho T2 với giá 2.200.000 đồng, 01 gói ma túy H1 đưa T2 giữ, sau khi đi gửi ma túy cho K xong H1 quay lại lấy sẽ mang về nhà sử dụng thì bị Công an phát hiện thu giữ như đã nêu trên.

+ Trần Văn T2 khai: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 22/12/2022, Trần Quốc H gọi điện thoại mua một hộp 05 gói ma túy đá (khoảng 05gam) với giá 2.500.000 đồng. T2 mua của Nguyễn Đông H1 số ma túy này với giá 2.200.000 đồng và cất giấu gói ma túy, một cân điện tử vào trong một hộp giấy giao cho H tại số A, Ni Sư H, Phường A, quận T. Khoảng 15 phút sau, H1 đến gặp T2 nhận tiền bán ma túy; sau đó, H1 đưa T2 01 gói ma túy đá nhờ T2 cất giữ giúp H1, T2 nhận gói ma túy đá cất vào túi quần thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang như đã nêu trên.

+ Trần Quốc H khai nhận phù hợp với lời khai của Trần Văn T2 về việc mua ma túy về để sử dụng và được T2 cho cân điện tử như trên.

Đối với Nguyễn Minh Q không thừa nhận bán ma túy cho K. Q khai ngày 13/12/2022 cho K mượn số tiền 40.000.000 đồng trong một tuần với lãi suất 750.000 đồng. Đến hạn, K đã trả cho Q 24.000.000 đồng trước và hẹn ngày 22/12/2022 đến nhà K tại A, Ni Sư H, Phường A, quận T trả số tiền còn lại. Khi Q chạy xe máy một mình đến nhà K thì Công an kiểm tra hành chính mời làm việc.

Nguyễn Thị Thu B khai nhận chuyển tiền theo yêu cầu của Vương Công K, T3 Ba không biết việc mua bán ma túy của K. Kết quả điều tra xác định, Vương Công K không có sử dụng tài khoản ngân hàng.

Qua điều tra nhận thấy không đủ căn cứ xử lý hình sự đối với Nguyễn Minh Q, kết quả xét nghiệm ma túy của Q âm tính nên Công an quận T không lập hồ sơ xử lý Q.

Đối với các đối tượng tên Đ, L1 và các đối tượng giao ma túy, do Lê Ngọc D khai không rõ lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý.

Vật chứng của vụ án: đã được liệt kê tại Phiếu nhập kho vật chứng của Phòng Cảnh sát điều tra (PC04) và Phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp (PC10) Công an Thành phố H

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 209/2024/HS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
    • 1.1 Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc D tử hình, về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
    • 1.2 Xử phạt: Bị cáo Phạm Minh S tử hình, về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
  2. Căn cứ vào điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; các điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 40; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  3. - Xử phạt: Bị cáo Vương Công K tử hình, về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; 08 (tám) năm tù, về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Vương Công K chấp hành hình phạt chung của hai tội là tử hình; tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên án đối với các bị cáo Nguyễn Đông H1, Trần Văn T2, Lê Quốc H2; giải quyết các vấn đề liên quan án phí, các biện pháp tư pháp; xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo luật định.

Cùng ngày 14 tháng 5 năm 2024, các bị cáo Lê Ngọc D, Phạm Minh S, Vương Công K, làm đơn kháng cáo, nêu lý do: Bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo tử hình là quá nặng, xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã xét xử, nhưng cho rằng mức án tử hình là quá nặng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo còn cơ hội sống về với gia đình và xã hội.

- Bị cáo Lê Ngọc D cho rằng khối lượng ma túy khi xét xử bị cáo không phải là 6.356 gam như quy kết mà khi bắt bị cáo khối lượng ma túy trên 14.000 gam đã bị công an thu giữ lấy bớt đi để bán. Đề nghị làm rõ hành vi của những người này. Sở dĩ bị cáo khai như vậy nhằm thể hiện sự thật khách quan vụ án, thành khẩn khai báo và tích cực hợp tác giúp cơ quan điều tra vụ án.

- Bị cáo Phạm Minh S cho rằng bị cáo chỉ giúp D bán ma túy và được D trả tiền công chở đi, không phải chủ mưu, cầm đầu nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét vai trò của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt.

- Bị cáo Vương Công K cho rằng thực tế số lượng ma túy bị cáo mua bán chỉ khoãng 480 gam không phải như bản án quy kết đến 750 gam, nên đề nghị xem xét lại cho bị cáo để giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đầy đủ theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), những người tham gia phiên tòa cũng đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo luật định.

Về nội dung: Việc xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm xác định các bị cáo Lê Ngọc D, Phạm Minh S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị cáo Vương Công K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, không oan. Xét thấy tại phiên tòa các bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được các tình tiết giảm nhẹ nào đặc biệt mới. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

- Các luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Ngọc D trình bày tranh luận: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội nên không tranh luận về tội danh. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như bị cáo thành khẩn khai báo; tích cực giúp cơ quan điều tra nhanh chóng vụ án; tự nguyện khai báo; trình độ học vấn thấp nên hạn chế về mặt nhận thức pháp luật; có con còn nhỏ; bị đối tượng tên Đ lôi kéo, xúi giục; số lượng ma túy đã bị thu giữ chưa phát tán ra ngoài xã hội; chưa có tiền án, tiền sự. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hai tình tiết giảm nhẹ là s, r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án tù chung thân là phù hợp.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo Phạm Minh S trình bày tranh luận: Không tranh luận về tội danh. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết như bị cáo thực hiện theo sự chỉ đạo của bị cáo D; vai trò của bị cáo trong vụ án là đồng phạm mờ nhạt; trình độ học vấn thấp nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế; thể hiện sự ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hai tình tiết giảm nhẹ là s, r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án tù chung thân là phù hợp.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo Vương Công K trình bày tranh luận: Không tranh luận về tội danh. Không đồng ý khối lượng ma túy đã quy kết cho bị cáo. Theo Cáo trạng xác định hai lần đầu là ngày 21/12, sau đó K bị bắt ngày 22/12 nên các lần sau K không thể mua ma túy của D được, có sự mâu thuẩn về mặt thời gian. Ngoài ra K khai mua của Du 250 gam ma túy nhưng không xác định được là ma túy gì nên không buộc K chịu trách nhiệm được. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ ngoài các tình tiết được xác định trong bản án sơ thẩm, còn có các tình tiết sau: cha mẹ bị cáo mất sớm, trình độ học vấn thấp dẫn đến nhận thức pháp luật hạn chế; chưa có tiền án, tiền sự nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo con đường sống để cải tạo, hòa nhập với cộng đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát tranh luân: Đối với bị cáo D và S tuy có hai tình tiết giảm nhẹ nhưng bị cáo có một tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên nên không áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo. Đối với bị cáo K, tại phiên tòa bị cáo D đã xác định bán ma túy cho K vào đầu tháng 12 không phải là cuối tháng 12; D khai 03 lần bán cho K ma túy loại Methamphetamine nên không có cơ sở xem xét theo lời trình bày của luật sư.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Lê Ngọc D, Phạm Minh S và Vương Công K có làm đơn kháng cáo. Xét đơn kháng cáo của các bị cáo thực hiện trong thời hạn luật định nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm theo quy định tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo:

[2.1] Các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của Bản cáo trạng đã truy tố và bản án sơ thẩm đã quy kết, trình bày của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thể hiện như sau: Do nghiện ma túy, muốn kiếm tiền tiêu xài và có ma túy để sử dụng nên các bị cáo Lê Ngọc D, Phạm Minh S, Vương Công K, Nguyễn Đông H1, Trần Văn T2, Trần Quốc H đã nhiều lần thực hiện hành vi “mua, bán, tổ chức sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy”, cho đến ngày 22/12/2022 thì bị bắt quả tang. Các bị cáo Lê Ngọc D và Phạm Minh S cùng đồng phạm 03 lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy đá cho các đối tượng (không rõ lai lịch) để thu lợi bất chính. Nguồn ma túy, D khai của đối tượng tên Đ (không rõ lai lịch) cho người giao cho D cất giấu để bán lại theo chỉ đạo của Đ. Ngoài ra tính đến ngày bị bắt quả tang, Lê Ngọc D đã 04 lần bán ma túy cho Vương Công K tại chỗ ở của K và sau khi bán hết ma túy, K đã trả tiền mua ma túy cho D.

Tại nhà của Vương Công K, Trần Văn T2 đã mua của Nguyễn Đông H1 01 hộp 5 gói ma túy đá với giá 2.200.000 đồng và bán lại cho Trần Quốc H cất giấu trái phép nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ cùng vật chứng là 01 gói ma túy ở thể rắn, có khối lượng 4,9769 gam, loại Methamphetamine. Mở rộng điều tra, đến lúc 15h00' cùng ngày, tại nhà của K N H, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Công an bắt quả tang Trần Văn T2 và Nguyễn Đông H1 có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng và bán cho người khác. Thu giữ của Trần Văn T2 01 (một) gói ma túy ở thể rắn, có khối lượng 4,5556 gam, loại Methamphetamine (là gói ma túy H1 gửi T2 cất giữ dùm); và thu giữ trong balo màu đen Nguyễn Đông H1 đang mang trên người có 01 (một) gói ma túy ở thể rắn, có khối lượng 380,98 gam, loại Methamphetamine (là gói ma túy đá 500 gam mà K mới mua bán với D, rồi K yêu cầu Hòa mang đi gửi cho khách mua ma túy ở Đà Nẵng). Công an còn thu giữ của Vương Công K tự nguyện giao nộp 01 gói ma túy ở thể rắn, có khối lượng 97,5325 gam, loại Methamphetamine Khoa cất giấu để bán cho người khác. Ngoài ra Vương Công K, còn thực hiện hành vi sử dụng địa điểm do mình có trách nhiệm quản lý, chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy và cung cấp ma túy đá để nhiều lần tổ chức cho Lê Ngọc D (trong mỗi lần D đến nhà bán ma túy cho K), Nguyễn Đông H1 và Trần Văn T2 cùng sử dụng ma túy với Vương Công K tại nhà của K.

[2.2]. Như vậy, với khối lượng chất ma túy ở thể rắn đã cất giấu trái phép nhằm mục đích để mua bán, nhằm mục đích để sử dụng và hành vi nêu trên của các bị cáo, có cơ sở kết luận:

- Bị cáo Lê Ngọc D phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy đối với toàn bộ khối lượng ma túy, bao gồm: bị thu giữ khi bị bắt quả tang, khám xét chỗ ở của D và S, thu giữ khi bắt quả tang của Nguyễn Đông H1 và 250 gam Methamphetamine (trong 03 lần đã mua bán với Vương Công K); tổng cộng là 6.356,11 gam, loại Methamphetamine.

- Bị cáo Phạm Minh S phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy đối với khối lượng ma túy bị bắt quả tang và khám xét chỗ ở của D và S, tổng cộng là 5.725,13 gam, loại Methamphetamine.

Hành vi của các bị cáo Lê Ngọc D và Phạm Minh S, có hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”, có khối lượng “Methamphetamine có khối lượng 100 gram trở lên”.

- Bị cáo Vương Công K có hành vi mua bán trái phép chất ma túy đối với khối lượng ma túy bị bắt quả tang thu giữ, khối lượng thu giữ của Nguyễn Đông H1 và 250 gam Methamphetamine (trong 03 lần đã mua bán với Lê Ngọc D), tổng cộng là 728,5125 gam, loại Methamphetamine. Ngoài ra, Vương Công K còn có hành vi nhiều lần tổ chức cho Lê Ngọc D, Nguyễn Đông H1 và Trần Văn T2 cùng K sử dụng trái phép chất ma túy; thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” và “đối với 02 người trở lên”.

[2.3] Đối chiếu với trường hợp phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của các bị cáo Lê Ngọc D, Phạm Minh S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; hành vi của bị cáo Vương Công K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 251 và Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Ngọc D, Phạm Minh S theo điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và bị cáo Vương Công K theo điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; các điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, xâm phạm hoạt động của Nhà nước trong việc quản lý và kiểm soát các chất ma túy, vì thế cần thiết phải xử lý nghiêm để răn đe giáo dục bị cáo đồng thời làm gương cho người khác. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt các bị cáo tử hình là tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, đã có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được pháp luật quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Trong đó Lê Ngọc D là người giữ vai trò chính, trực tiếp liên hệ tìm nguồn ma túy, trả tiền thuê nhà làm nơi cất giấu để mua bán ma túy kiếm lời. Phạm Minh S là người thực hành tích cực, đứng tên thuê nhà làm địa điểm cất giấu ma túy, đi giao ma túy với khối lượng rất lớn theo sự phân công của D và hưởng lợi. Vương Công K là người giúp sức tích cực, tiêu thụ một số lượng lớn ma túy cho D; mua bán ma túy kiếm lời; tổ chức cho các con nghiện sử dụng ma túy.

Các bị cáo Lê Ngọc D, Phạm Minh S, Vương Công K đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên, cho thấy tính nguy hiểm và xem thường pháp luật của các bị cáo.

[2.4] Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự thú; bị cáo S và K chưa có tiền án, tiền sự là đã đầy đủ. Các luật sư cho rằng các bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan điều tra để nhanh chóng kết thúc vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy, vấn đề này đã được cấp sơ thẩm áp dụng cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo; tự thú là đầy đủ, đúng pháp luật.

[2.5] Bị cáo Lê Ngọc D, Vương Công K có khiếu nại về khối lượng chất ma túy đã bị truy tố, xét xử. Vấn đề này đã được Kiểm sát viên làm rõ tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm. Các bị cáo không có chứng cứ gì chứng minh nên không có cơ sở để xem xét. Tại phiên tòa phúc thẩm, K cho rằng các lần mua ma túy của Du do bị cáo tự khai nên không chứng minh được loại ma túy gì và khối lượng là bao nhiêu nên không có cơ sở xác định bị cáo phạm tội với khối lượng 728,5125 gam, loại Methamphetamine. Vấn đề này đã được Lê Ngọc D xác nhận, đối chất tại phiên tòa là D có bán cho Khoa 500 gam ma túy loại Methamphetamine, cùng với việc thu giữ trên người Nguyễn Đông H1, thu giữ của Vương Công K, nên có căn cứ bị cáo phạm tội với khối lượng 728,5125 gam, loại Methamphetamine.

[2.6] Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo tuy có các tình tiết giảm nhẹ như đã phân tích, nhưng các bị cáo phạm tội hai lần trở lên, khối lượng ma túy phạm tội là đặc biệt lớn nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt cao nhất đối với các bị cáo là tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo cũng không đưa ra được tài liệu chứng cứ gì đặc biệt mới để chứng minh cho yêu cầu của mình nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các bị cáo. Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên mức án mà Bản án sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo.

[3] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu theo luật định.

[5] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Lê Ngọc D, Phạm Minh S và Vương Công K về việc xin giảm nhẹ hình phạt.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 209/2024/HS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Ngọc D, Phạm Minh S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Vương Công K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  1. Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
    • 1.1 Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc D tử hình, về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
    • 1.2 Xử phạt: Bị cáo Phạm Minh S tử hình, về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
  2. Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; các điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 40; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  3. Xử phạt: Bị cáo Vương Công K tử hình, về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; 08 (tám) năm tù, về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Vương Công K chấp hành hình phạt chung của hai tội là tử hình; tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Trong thời hạn 07 (bảy) ngày, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, các bị cáo Lê Ngọc D, Phạm Minh S và Vương Công K được gửi đơn lên Chủ tịch N3 để xin ân giảm án tử hình.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Lê Ngọc D, Phạm Minh S và Vương Công K phải chịu mỗi người là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

4. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND TP.HCM;
  • - Công an TP.HCM;
  • - Cục THADS TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Trại tạm giam CA TP.HCM;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VP; HSVA; NVK.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Hồ Tâm Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 734/2024/HS-PT ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (mua bán trái phép chất ma túy; tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 734/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy; Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger