|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 734/2024/DS-PT
Ngày: 23/8/2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Tiên
Các Thẩm phán:
- Bà Phạm Thị Thảo
- Bà Lê Thị Mỹ Nhung
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Võ Quỳnh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ái- Kiểm sát viên.
Vào ngày 23/8/2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 578/2024/TLPT-DS ngày 25 tháng 7 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”,
Do bản án dân sự sơ thẩm số 325/2024/DS-ST ngày 05/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 7080/2024/TLPT-DS ngày 05/8/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
- Ông Trần Gia L, sinh năm 1968;
- Bà Trần Thị H, sinh năm 1978.
Cùng địa chỉ: Khóm C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Sơn D, sinh năm 1996 (có mặt).
Địa chỉ: Số 1 đường T, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn:
- Ông Huỳnh Thanh N, sinh năm 1976 (có mặt)
- Bà Huỳnh Thị Thu H1, sinh năm 1979 (xin xét xử vắng mặt)
Thường trú: 137B/5A Ấp B, xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ cư trú: Nhà không số, Ấp C, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/9/2022 và lời khai của đại diện nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện như sau:
Ngày 20/10/2014, bị đơn đã vay của nguyên đơn số tiền 250.000.000 đồng, không thỏa thuận lãi suất. Hai bên có lập hợp đồng vay bằng giấy tay và ông N, bà H1 đã thế chấp cho nguyên đơn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH909034 (số vào sổ cấp GCN: CH00994) do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 22/11/2011.
Ngày 22/8/2020, bị đơn vay thêm số tiền 250.000.000 đồng, lãi suất các bên thỏa thuận là 1,5%/tháng, thời hạn vay là 30 ngày; Hai bên có lập hợp đồng bằng giấy tay.
Từ đó cho đến nay, ông N và bà H1 không trả nợ và cố tình tránh né. Vì vậy nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ nêu trên, cụ thể như sau:
- + Số tiền gốc: 500.000.000 đồng;
- + Số tiền lãi theo giấy “Biên nhận hỏi mượn” ngày 22/8/2020 tính từ tháng 8/2020 đến tháng 9/2022: 250.000.000 đồng x 1,5%/tháng x 25 tháng = 93.750.000 đồng; Tổng cộng là 593.750.000 đồng.
Tuy nhiên tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đã tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện về tiền lãi.
Theo lời khai của bị đơn thì:
Bị đơn xác nhận có vay nguyên đơn số tiền 250.000.000 đồng theo hợp đồng thế chấp tài sản ngày 20/10/2014, hai bên không có thỏa thuận về lãi suất. Nhưng thực tế bị đơn đã phải trả tiền lãi từ khi vay đến khoảng tháng 6/2020, mỗi tháng 7.500.000 đồng (3%/tháng). Việc giao nhận tiền lãi hai bên không có lập biên nhận.
Đến tháng 7/2020, do dịch bệnh C xảy ra, tình hình kinh tế khó khăn, bị đơn không thể tiếp tục trả tiền lãi. Nên ngày 22/8/2020, bị đơn đến nhà nguyên đơn xin gia hạn thời gian trả nợ đến Tết năm 2021. Lúc đó nguyên đơn yêu cầu bị đơn ký vào giấy biên nhận hỏi mượn tiền để xác nhận lại số tiền nợ trước đây; Lúc ký chỉ là tờ giấy trắng không ghi nội dung, tin lời nên bị đơn đã ký vào. Bị đơn khẳng định ngoài số tiền vay ngày 20/10/2014, bị đơn không vay mượn thêm.
Bị đơn đồng ý trả số tiền gốc là 250.000.000 đồng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 325/2024/DS-ST ngày 05/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
I. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn.
- Ông Huỳnh Thanh N và bà Huỳnh Thị Thu H1 có nghĩa vụ trả cho ông Trần Gia L và bà Trần Thị H số tiền còn nợ là 250.000.000 (Hai trăm năm mươi triệu) đồng.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Buộc bà Trần Thị H, ông Trần Gia L trả lại cho ông Huỳnh Thanh N, bà Huỳnh Thị Thu H1 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất BH 909034, số vào sổ cấp GCN: CH00994 được Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 22/11/2011 do ông Huỳnh Thanh N và bà Huỳnh Thị Thu H1 đứng tên.
- Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền 250.000.000 (Hai trăm năm mươi triệu) đồng theo “Giấy biên nhận hỏi mượn” ngày 22/8/2020.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu nguyên đơn buộc bị đơn trả số tiền lãi.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự cũng như các quy định về thi hành án dân sự.
Ngày 19/6/2024, nguyên đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về toàn bộ số nợ gốc 500.000.000 đồng.
- Bị đơn đề nghị giữ y bản án sơ thẩm.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các thành viên Hội đồng xét xử cũng như các đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, giữ y bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến phát biểu của vị Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
- Về hình thức và thời hạn kháng cáo: Ngày 05/6/2024, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đưa vụ án ra xét xử và ban hành Bản án số 325/2024/ DS-ST, bị đơn có mặt tại phiên tòa. Ngày 19/6/2024, bị đơn nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015, thì kháng cáo của nguyên đơn còn trong hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận xem xét.
- Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, bị đơn cư trú tại huyện B, nên Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ tranh chấp theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Xét kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Căn cứ vào Hợp đồng thế chấp tài sản ngày 20/10/2014, nhận thấy bị đơn có vay số tiền 250.000.000 (Hai trăm năm mươi triệu) đồng của nguyên đơn, không thỏa thuận lãi suất. Nội dung hợp đồng thể hiện sự thỏa thuận tự nguyện của các bên và không trái pháp luật, phù hợp với các quy định tại Điều 117 và Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Bị đơn đã thế chấp cho nguyên đơn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất BH 909034, số vào sổ cấp GCN: CH00994 được UBND huyện B cấp ngày 22/11/2011 (gọi tắt là Giấy chứng nhận). Tuy nhiên, việc thế chấp này vi phạm quy định tại Khoản 3 Điều 188 Luật đất đai năm 2013, nên không phát sinh hiệu lực. Vì lẽ đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm buộc bị đơn hoàn trả cho nguyên đơn số nợ đã vay 250.000.000 đồng, đồng thời buộc nguyên đơn giao trả bản chính Giấy chứng nhận cho bị đơn là hoàn toàn đúng.
- Đối với “Giấy biên nhận hỏi mượn” ngày 22/8/2020 chỉ mới thể hiện bị đơn- ông Huỳnh Thanh N hỏi mượn ông Trần Gia L số tiền 250.000.000 đồng, thời gian trả là 30 ngày, nhưng không thể hiện việc ông L đã đồng ý cho mượn và đã giao số tiền này cho ông N. Qua đối chất tại Tòa, nguyên đơn- ông Trần Gia L cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh có giao số tiền trên cho bị đơn, nên có cơ sở để Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền 250.000.000 đồng theo giấy biên nhận hỏi mượn ngày 22/8/2020.
Về các nội dung khác, nguyên đơn không kháng cáo, nên Hội đồng xét xử không xét.
- Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Viện kiểm sát, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ y bản án sơ thẩm.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa chấp nhận theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
[5]. Án phí dân sự phúc thẩm: 300.000 đồng, người kháng cáo phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Khoản 1 Điều 148; Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ các Điều 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2014;
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn- ông Trần Gia L và bà Trần Thị H.
Giữ y bản án dân sự sơ thẩm số 325/2024/DS-ST ngày 05/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Buộc ông Huỳnh Thanh N và bà Huỳnh Thị Thu H1 hoàn trả cho ông Trần Gia L và bà Trần Thị H số tiền 250.000.000 (Hai trăm năm mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Buộc ông Trần Gia L, bà Trần Thị H giao trả cho ông Huỳnh Thanh N, bà Huỳnh Thị Thu H1 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất BH 909034, số vào sổ cấp GCN: CH00994 được Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 22/11/2011 cho ông Huỳnh Thanh N và bà Huỳnh Thị Thu H1.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả tiền lãi.
- Buộc ông Huỳnh Thanh N và bà Huỳnh Thị Thu H1 hoàn trả cho ông Trần Gia L và bà Trần Thị H số tiền 250.000.000 (Hai trăm năm mươi triệu) đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền 250.000.000 (Hai trăm năm mươi triệu) đồng, theo “Giấy biên nhận hỏi mượn” ngày 22/8/2020.
4. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bị đơn- ông Huỳnh Thanh N, bà Huỳnh Thị Thu H1 chịu 12.500.000 (Mười hai triệu năm trăm nghìn) đồng.
- Nguyên đơn- ông Trần Gia L, bà Trần Thị H 12.500.000 chịu (Mười hai triệu năm trăm nghìn) đồng; cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 13.875.000 (Mười ba triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0041744 ngày 11/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, bị đơn được nhận lại 1.375.000 (Một triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng.
5. Án phí dân sự phúc thẩm:
Bị đơn phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số BLTU/23P 0004165 ngày 19/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, bị đơn đã nộp xong.
Các đương sự thi hành án theo các Điều 2, 6, 7, 7a, 7b, 9 và 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Mỹ Tiên |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Lê Thị Mỹ Nhung Phạm Thị T | Mai Thị Mỹ T1 |
Bản án số 734/2024/DS-PT ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 734/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ: Trần Gia L BĐ: Huỳnh Thanh N QĐ: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn- ông Trần Gia L và bà Trần Thị H. Giữ y bản án dân sự sơ thẩm số 325/2024/DS-ST ngày 05/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh; 1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: 1.1 Buộc ông Huỳnh Thanh N và bà Huỳnh Thị Thu H1 hoàn trả cho ông Trần Gia L và bà Trần Thị H số tiền 250.000.000 (Hai trăm năm mươi triệu) đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. 1.2 Buộc ông Trần Gia L, bà Trần Thị H giao trả cho ông Huỳnh Thanh N, bà Huỳnh Thị Thu H1 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất BH 909034, số vào sổ cấp GCN: CH00994 được Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 22/11/2011 cho ông Huỳnh Thanh N và bà Huỳnh Thị Thu H1. Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. 1.3 Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả tiền lãi. 2. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền 250.000.000 (Hai trăm năm mươi triệu) đồng, theo “Giấy biên nhận hỏi mượn” ngày 22/8/2020.
