|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 733/2024/ HNGĐ-ST Ngày: 19-8-2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Thân Trọng Hiền
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thuý;
- Bà Nguyễn Thị Vân
- - Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Lệ - CBTA.
- - Đại diện VKSND TP Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Trần Thanh Trang – Kiểm Sát Viên.
Trong ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn – tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 452/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 222/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10/7/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hồng L, sinh năm 1992
Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện T, Bình Định.
* Bị đơn: Anh Đào Minh T1, sinh năm 1985
Địa chỉ: A N, p . T, TP ., tỉnh Bình Định
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Lê Thị Hồng L trình bày: Chị L và anh T1 tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau năm 2020, đăng ký kết hôn tại UBND phường T, TP .. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân do anh T1 thường xuyên cờ bạc, rượu chè, banh bóng, chị nhiều lần khuyên nhưng anh T1 không thay đổi mà còn chửi bới xúc phạm gia đình chị, hăm doạ, đánh đập chị, chị bồng con về nhà cha mẹ ruột chị sống ly thân với anh T1 từ tháng 03/2024. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn anh T1 để ổn định cuộc sống.
Vợ chồng có 01 con chung tên: Đào Minh N, sinh ngày 12/10/2020; Ly hôn chị xin nuôi con, yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đồng/tháng.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Chị L có Đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà hôm nay.
Bị đơn anh Đào Minh Tuấn được Tòa tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập hợp lệ để anh T1 đến tòa khai báo, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T1 không đến toà. Tại phiên toà hôm nay anh T1 vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn phát biểu việc tuân theo quy định pháp luật tố tụng Dân sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Toà án thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử.
Tại phiên Toà HĐXX, Thư ký thực hiện đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
Hướng giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh T1; Về con chung: Giao cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng con chung; Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đồng/tháng là phù hợp với luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí nhôn hân gia đình; Anh T1 phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn anh Đào Minh Tuấn vắng mặt không có lý do; Nguyên đơn chị Lê Thị Hồng L có Đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 238 BLTTDS Toà tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung; Bị đơn đang cư trú tại A N, P. T, TP ., tỉnh Bình Định nên xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về nội dung tranh chấp: Chị L và anh T1 tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau năm 2020, đăng ký kết hôn tại UBND phường T, TP .. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân do anh T1 thường xuyên cờ bạc, rượu chè, banh bóng, chị nhiều lần khuyên nhưng anh T1 không thay đổi mà còn chửi bới xúc phạm gia đình chị, hăm doạ, đánh đập chị, vợ chồng sống ly thân từ tháng 03/2024. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn anh T1 để ổn định cuộc sống.
Theo Biên bản xác minh ngày 17/6/2024 địa phương cung cấp: Chị L và anh T1 sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại số nhà A N, thuộc KV B, P. T, TP ., trong thời gian chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn nhưng nguyên nhân nào mâu thuẫn thì địa phương không biết, vì khi mâu thuẫn không có báo chính quyền địa phương; Chị L và anh T1 có 01 con chung chưa thành niên, nếu ly hôn ai đủ điều kiện nuôi con hay không địa phương cũng không thể biết được.
HĐXX xét thấy: Mâu thuẫn giữa chị L và anh T1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên HĐXX chấp nhận đơn của chị L xin ly hôn đối với anh T1.
Trong quá trình chung sống chị L và anh T1 có 01 con chung tên: Đào Minh N, sinh ngay 12/10/2020 hiện nay đang ở với chị L; Ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng
HĐXX xét thấy: Cháu Đào Minh N, sinh ngày 12/10/2020 hiện nay đang ở với chị L. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặc, ổn định cuộc sống về tâm sinh lý của cháu N nên HĐXX giao cháu N cho chị L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của Luật hôn nhân gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên trong trường hợp không sống chung. Do đó chị L yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng là phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhân yêu cầu của chị L.
Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà đương sự không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
[4] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Đieàu 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luaät hoân nhaân vaø gia đình; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T2.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị Hồng L ly hôn anh Đào Minh Tuấn.
- Về con chung:
- - Việc nuôi con: Giao 01 con chung tên Đào Minh N, sinh ngày 12/10/2020 cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
- - Việc cấp dưỡng nuôi con: Anh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, kể từ tháng 9/2024 cho đến khi cháu N tròn 18 tuổi.
Vì lợi ích của con khi cần thiết hai bên có quyền xin thay đổi nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Hai bên có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung không bên nào được ngăn cản, nếu lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu, HĐXX không xem xét.
- Về án phí HNGĐ sơ thẩm: Chị L phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001022 ngày 30/5/2024 của chi cục thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn. Chị L đã nộp đủ án phí.
Chị L và anh T1 có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Thân Trọng Hiền |
Bản án số 733/2024/ HNGĐ-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 733/2024/ HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
