|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 733/2024/DS-PT
Ngày: 12/12/2024
V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Chu Tuấn Anh |
| Các thẩm phán: | Bà Ngô Tuyết Băng Ông Vũ Toàn Giang |
| Thư ký phiên tòa: | Bà Nguyễn Lưu Ly – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. |
| Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: | Bà Nguyễn Như Quỳnh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. |
Ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 400/2024/TLPT-DS ngày 22/10/2024 về "Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 49/2024/DS-ST ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 471/2024/QĐ-PT ngày 28/10/2024, Quyết định hoãn phiên tòa dân sự phúc thẩm số 610/2024/QĐ-HPT ngày 20/11/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S1. Địa chỉ trụ sở: Lầu H, 2 N, phường V, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng giám đốc. Đại diện ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S1 (công ty S2). Đại diện theo pháp luật của công ty: Ông Lê Ngọc T – Chức vụ: Tổng giám đốc. Đại diện ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Thanh H-nhân viên; Địa chỉ: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S1 chi nhánh H2-tầng 7, số F N, phường L, quận Đ, Hà Nội (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Bà Vũ Thị H1, sinh năm 1995 (Vắng mặt).
Trú tại: Số A ngõ B Tổ A, đường K, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.
Người kháng cáo: Ngân hàng Thương mại cổ phần S1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:
Theo Đơn khởi kiện, bản tự khai và các văn bản tố tụng khác, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1 (S3) trình bày:
Ngày 05/08/2020, bà Vũ Thị H1 có ký với Ngân hàng TMCP S1 (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của Bà H1, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30,000,000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Vũ Thị H1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 239,497,999 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà Vũ Thị H1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 210,001,000 đồng (Thứ tự thanh toán áp dụng theo điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Vũ Thị H1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà Vũ Thị H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), Ngày 23/3/2021 bà Vũ Thị H1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ, đến ngày 23/07/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tính đến ngày 28/12/2023, Bà H1 còn nợ cụ thể các khoản sau:
- - Dư nợ gốc: 34,171,112 đồng
- - Lãi quá hạn: 39,491,158 đồng
- - Tổng cộng: 73,662,270 đồng (Bảy mươi ba triệu, sáu trăm sáu mươi hai nghìn, hai trăm bảy mươi đồng)
Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bà Vũ Thị H1 có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên bà Vũ Thị H1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.
Nay ngân hàng đề nghị Tòa giải quyết:
- Buộc bà Vũ Thị H1 phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 28/12/2023 là 73.662.270đ. Trong đó dư nợ gốc là 34.171.112đ, lãi quá hạn là 39.491.158₫.
- Bà Vũ Thị H1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 29/12/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Buộc bà Vũ Thị H1 phải chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ án phí.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Đại diện nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1 (S3) giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, tính đến ngày 28/8/2024 buộc bà Vũ Thị H1 thanh toán cho S3 số tiền: Nợ gốc: 34.171.112 đồng, nợ lãi quá hạn: 50.330.126 đồng. Tổng cộng là 84.501.138 đồng.
Tòa án tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay nêu trên đến ngày bà Vũ Thị H1 thực tế thanh toán hết nợ cho S3.
Buộc bà Vũ Thị H1 phải chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ án phí
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 49/2024/DS-ST ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 274; Điều 275; Điều 280; Điều 398; Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ điểm b khoản 1.3 Mục II, Phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án Ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S1. Buộc bà Vũ Thị H1 phải trả Ngân hàng TMCP S1 khoản tiền tính đến ngày 28/8/2024 là 74.126.812đ (Bảy mươi bốn triệu, một trăm hai mươi sáu nghìn, tám trăm mười hai đồng). Trong đó (gốc, lãi trong hạn và phí) là 34.171.112 đồng, nợ lãi quá hạn là 39.955.700 đồng
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bên phải thi hành án phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
- Bác một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S1 đối với số tiền là 10.374.426đ (Mười triệu, ba trăm bảy mươi bốn nghìn, bốn trăm hai mươi sáu đồng).
- Về án phí:
Bà Vũ Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.706.000₫ (Ba triệu, bảy trăm linh sáu nghìn đồng).
Ngân hàng TMCP S1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần tiền không được chấp nhận là 518.000đ (Năm trăm mười tám nghìn đồng).
Được đối trừ một phần vào số tiền Ngân hàng TMCP S1 đã nộp 1.850.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số số 0011482 ngày 03/5/2024 Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm, nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm và yêu cầu sửa bản án sơ thẩm số 49/2024/DS-ST ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Về giải quyết nội dung vụ án: Sau khi phân tích đại diện Viện kiểm sát đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 49/2024/DS-ST ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa xét thấy:
*Về thủ tục: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1 kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận về hình thức.
*Xét kháng cáo của nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền xét xử: Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng giữa pháp nhân và một cá nhân, mục đích vay vốn của bị đơn nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, căn cứ vào khoản 3 Điều 26 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự. Theo tài liệu do ngân hàng G, tại thời điểm ký kết hợp đồng thẻ tín dụng, Bị đơn cư trú tại số A ngõ B Tổ A, đường K, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội. Đến thời điểm thụ lý không có tài liệu nào khác về địa chỉ cư trú của bị đơn. Căn cứ vào Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai thụ lý và giải quyết vụ án về “Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng” là đúng thẩm quyền.
Về việc xét xử vắng mặt Nguyên đơn và bị đơn: Đây là phiên tòa mở lần thứ hai bị đơn vắng mặt và nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên hội đồng xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không đến Tòa, không giao nộp văn bản ý kiến, tài liệu chứng cứ, bị đơn đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ của bị đơn được quy định theo Bộ Luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung: Xét kháng cáo của nguyên đơn
[2.1]. Giữa Ngân hàng TMCP S1 và bà Vũ Thị H1 có ký Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; số thẻ 472074-6579 ngày 05/8/2020 với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Hợp đồng tín dụng giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, các điều khoản hai bên thỏa thuận trong hợp đồng đều đáp ứng đủ điều kiện chủ thể ký kết hợp đồng và phù hợp với nội dung quy định tại Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010. Nội dung trong hợp đồng không trái đạo đức xã hội, không trái pháp luật, do vậy Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 05/8/2020 có hiệu lực pháp luật và các bên phải có nghĩa vụ chấp hành.
[2.2]. Quá trình thực hiện Hợp đồng: Bà Vũ Thị H1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 239,497,999 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà Vũ Thị H1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 210,001,000 đồng và ngưng không thanh toán cho Ngân hàng nữa vi phạm không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với S kể từ 23/3/2021. Do đó đến ngày 23/7/2021 S3 đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn và phải chịu lãi suất là đúng theo quy định của Ngân hàng N theo quy định Điều 274; Điều 275; Điều 280; Điều 398; Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Sau khi xem xét bảng tính lãi xuất do Ngân hàng cung cấp tại phiên tòa thì tính đến ngày 28/8/2024 bà Vũ Thị H1 còn nợ ngân hàng số tiền: Nợ gốc: 34,171,112 đồng, nợ lãi quá hạn: 50.330.126 đồng. Tổng cộng là 84.501.238 đồng.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng thì hạn mức tín dụng là 30.000.000 đồng, không có tài liệu nào thể hiện Ngân hàng tăng giảm hạn mức tín dụng, nên việc Ngân hàng yêu cầu bà H1 phải thanh toán số nợ gốc là 34.171.112 đồng là không phù hợp. Xét yêu cầu của Ngân hàng P với quy định tại Điều 2 Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng về xác định "số dư nợ”, nhưng không phù hợp với quy định về “dư nợ gốc bị chuyển nợ quá hạn” tại điểm a khoản 11 Điều 2 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N dẫn đến lãi chồng lãi. Do đó, căn cứ vào Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 21 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của Ngân hàng TMCP S1, xác nhận số nợ gốc mà bà H1 phải trả cho ngân hàng là: 29.795.999 đồng.
Đối với lãi trong hạn và phí: Trong Hợp đồng các bên thỏa thuận về việc chịu lãi và phí. Căn cứ Điều 95 Luật Tổ chức tín dụng 2010, Điều 5 Thông tư số 19 ngày 30/6/2016 của Ngân hàng N; điểm a khoản 3 Thông tư số 39 ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N, trước khi thẻ tín dụng chuyển sang nợ quá hạn thì nợ lãi trong hạn và phí là 4.375.113 đồng.
Như vậy, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bà H1 thanh toán toàn bộ dư nợ (gốc, lãi trong hạn và phí) là 34.171.112 đồng.
Đối với yêu cầu lãi quá hạn: Theo Điều 24 bản điều khoản thì chủ thẻ không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của Chủ thẻ cho đến kỳ thông báo giao dịch tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo hợp đồng. Khi vi phạm xảy ra, áp dụng lãi suất quá hạn đối với toàn bộ dư nợ theo quy định của S3, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Yêu cầu khởi kiện đối với nợ lãi quá hạn của Ngân hàng P với thỏa thuận tại mục 1.9 Bản điều khoản về xác định dư nợ nhưng không phù hợp với quy định về nợ gốc bị chuyển nợ quá hạn tại điểm a khoản 11 Điều 2 Thông tư 39 ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N dẫn đến lãi chồng lãi.
Căn cứ Điều 95 Luật Tổ chức tín dụng 2010, Điều 21 Thông tư số 39 ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N, Điều 12 Nghị quyết số 01 ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Do đó chỉ chấp nhận 1 phần yêu cầu của Ngân hàng, xác định số nợ quá hạn chỉ tính trên số nợ gốc là 29.795.999 đồng.
Theo hợp đồng và biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ tín dụng thì lãi suất áp dụng đối với thẻ tín dụng Visa classic là 28.8%/năm.
Lãi quá hạn tính đến ngày 28/8/2024 được xác định như sau: 29.795.999 đồng x 28.8% x 150% x 1133/365 ngày = 39.955.700 đồng.
Tổng cộng gốc và lãi bà Vũ Thị H1 phải trả cho Ngân hàng là: 34.171.112 đồng + 39.955.700 đồng = 74.126.812 đồng.
Số tiền ngân hàng không được chấp nhận là: 84.501.238 đồng - 74.126.812 đồng = 10.374.426 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bên phải thi hành án phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
* Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 49/2024/DS-ST ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.
[3]. Về án phí: Bản án dân sự xác định đúng về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng TMCP S1 phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm.
Nhận định của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội là phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 khoản 1 Điều 38, Điều 147, Điều 148, Điều 296, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- - Điều 90, 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Thông tư 12 ngày 14.4.2010 của Ngân hàng N hướng dẫn các tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 và Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N;
- - Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm trong Hợp đồng tín dụng;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP S1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số số 49/2024/DS-ST ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo Ngân hàng TMCP S1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0033639 ngày 09/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Các thẩm phán | Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Tuấn Anh |
Bản án số 733/2024/DS-PT ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 733/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án phúc thẩm số 733 - Tranh chấp HĐ tín dụng