Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 733/2024/DS-PT

Ngày: 10 - 9 - 2024

V/v “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất,

yêu cầu hủy GCNQSDĐ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Minh

Các thẩm phán: Ông Phạm Trí Tuấn

Ông Phan Nhựt Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ba Duy – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 102/2024/TLPT-DS ngày 21 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 23/2023/DS –ST ngày 19 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1037/2024/QĐPT-DS ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Ông Lê Phương D, sinh năm 1951; nơi cư trú: 5 N, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. (có mặt)
  2. Ông Lê Lâm T, sinh năm 1972; nơi cư trú: 7 L, Phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
  3. Ông Lê Phương K, sinh năm 1979; nơi cư trú: ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
  4. Ông Lê Kỳ C, sinh năm 1983; nơi cư trú: A B, phường A, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
  5. Bà Lê Thị Bích P, sinh năm 1961; nơi cư trú: ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh

An Giang. (vắng mặt)

  1. Bà Lê Thị Bích T1, sinh năm 1963; nơi cư trú: số D, tổ B, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
  2. Ông Lê Kỳ H, sinh năm 1985; nơi cư trú: ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
  3. Bà Lê Phương Bảo Tường V, sinh năm 1996; nơi cư trú: ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. (vắng mặt)

Các ông, bà T, K, C, P, T1, H, V ủy quyền cho ông Lê Phương D, theo văn bản ủy quyền ngày 29/01/2016.

- Bị đơn:

  1. Ông Trần Văn B, sinh năm 1940; (vắng mặt)
  2. Bà Nguyễn Thị P1, sinh năm 1944; (vắng mặt)

Cùng nơi cư trú: Tổ C, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

Bà P1 ủy quyền cho ông Trần Văn B tham gia tố tụng, theo văn bản ủy quyền ngày 11/4/2016.

  1. Ông Phan Văn T2, sinh năm 1961; (vắng mặt)
  2. Bà Đỗ Thị Thu H1, sinh năm 1951 (chết 10/10/2020);

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà H1 là ông Phan Văn T2.

Cùng nơi cư trú: Tổ C, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

  1. Ông Phan Văn B1, sinh năm 1944; (vắng mặt)
  2. Bà Trần Thị C1, sinh năm 1946; (vắng mặt)

Cùng nơi cư trú: Tổ C, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

  1. Bà Đỗ Thị T3, sinh năm 1955; nơi cư trú: Tổ C, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (vắng mặt)

Đại diện theo ủy quyền của ông Phan Văn T2; bà Đỗ Thị Thu H1; ông Phan Văn B1; bà Trần Thị C1; bà Đỗ Thị T3: Ông Mai Ngọc T4, sinh năm 1989 (có mặt vào sáng xét xử nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa)

Địa chỉ: Ấp A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lê Thị Kim T5, sinh năm 1949; địa chỉ: G N . Hale Ave . T, Florida 33614 - 3149, USA. (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của bà T5: Ông Lê Phương D, theo văn bản ủy quyền ngày 03/4/2018 được hợp thức hóa lãnh sự ngày 12/4/2018 (có mặt)

  1. Bà Huỳnh Thị T6, sinh năm 1961; nơi cư trú: ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. (vắng mặt)

Bà T6 ủy quyền cho ông Lê Phương D tham gia tố tụng, theo văn bản ủy

quyền ngày 06/4/2016.

  1. Ông Trần Văn L, sinh năm 1966; (vắng mặt)
  2. Bà Võ Thị Ngọc L1, sinh năm 1965; (vắng mặt)
  3. Bà Trần Thị Kim H2, sinh năm 1990; (vắng mặt)
  4. Ông Trần Ngọc H3, sinh năm 2002; (vắng mặt)
  5. Ông Trần Văn X, sinh năm 1982; (vắng mặt)
  6. Bà Nguyễn Thị Mỹ Ú, sinh năm 1985; (vắng mặt)
  7. Cháu Trần Thị Mỹ V1, sinh ngày 21/9/2013 (do ông Trần Văn X, bà Nguyễn Thị Mỹ Ú đại diện theo pháp luật); (vắng mặt)
  8. Bà Trần Thị Ngọc T7, sinh năm 1983; (vắng mặt)
  9. Bà Phan Thị T8, sinh năm 1978; (vắng mặt)

Đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị T9: Ông Mai Ngọc T4, sinh năm 1989 (có mặt vào sáng xét xử nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa)

Địa chỉ: Ấp A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang.

  1. Ông Phan Văn P2, sinh năm 1980; (vắng mặt)
  2. Bà Phan Thị Yến T10, sinh năm 1983; (vắng mặt)

Ông P2, bà T10 ủy quyền cho bà Đỗ Thị T3 tham gia tố tụng, theo văn bản ủy quyền ngày 27/3/2018. (vắng mặt)

  1. Ông Phan Văn V2, sinh năm 1972; (vắng mặt)
  2. Bà Nguyễn Thị C2, sinh năm 1972; (vắng mặt)
  3. Bà Phan Thị Diễm C3, sinh năm 1992; (vắng mặt)
  4. Ông Phan Văn T11, sinh năm 1995; (vắng mặt)
  5. Ông Phan Văn T12, sinh năm 1976; (vắng mặt)

Đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị T9: Ông Mai Ngọc T4, sinh năm 1989 (có mặt vào sáng xét xử nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa)

Địa chỉ: Ấp A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang.

  1. Bà Huỳnh Thị Bích H4, sinh năm 1974; (vắng mặt)
  2. Em Phan Huỳnh Nhật A, sinh năm 2004; có ông Phan Văn T12 (cha ruột) đại diện theo pháp luật. (vắng mặt)
  3. Bà Phan Thị T13, sinh năm 1974; (vắng mặt)
  4. Bà Phan Thị T14, sinh năm 1982; (vắng mặt)
  5. Bà Phan Thị Như Ý, sinh năm 1989; (vắng mặt)

Cùng cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

  1. Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ: số H N, thị trấn C,

huyên C, tỉnh An Giang.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trần Minh H5 – Phó Chủ tịch (Đơn xét xử vắng mặt)

  1. Bà Lâm Ngọc Á, sinh năm 1946; nơi đăng ký HKTT: 181/23-25 đường T, Phường F, Quận A, TP .; nơi cư trú hiện nay: số B đường số A, phường B, quận B, TP .. (vắng mặt)

Người kháng cáo: ông Phan Văn T2, ông Phan Văn B1 và bà Trần Thị C1, bà Đỗ Thị T3 và bà Phan Thị T8.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:

Cha ông tên Lê Bảo N (chết ngày 15/3/1994) và mẹ là Nguyễn Thị S (chết ngày 09/8/1990), cha mẹ của ông sinh được 6 người con gồm: Lê Phương D, Lê Thị Bích P, Lê Thị Bích T1, Lê Phương B2 (chết năm 1972, có con tên là Lê Lâm T, vợ là Lâm Ngọc Á), Lê Phương B3 (chết ngày 27/6/2011, có vợ tên Huỳnh Thị T6, các con tên Lê Phương K, Lê Kỳ C, Lê Kỳ H, Lê Phương Bảo Tường V) và Lê Thị Kim T5.

Vào năm 1931 ông Lê Văn T15 (cha ông Lê Bảo N) có mua của ông Nguyễn Văn Á 3,9ha đất ruộng (có tờ bán đứt đất ruộng năm 1931) ở ấp B, xã B, Chợ M, An Giang. Đến năm 1945 ông Lê Văn T15 qua đời để lại cho ông Lê Bảo N 3,9ha đất trên, gia đình canh tác đến năm 1970 ông N cho ông Trần Văn B4 và Võ Văn S1 mượn hết diện tích đất 3,9ha làm mùa thời hạn 01 năm, ông S1 và ông B4 canh tác lại chia đất cho các ông, bà Trần Văn B, Lê Thị T16, Võ Thị N1, Hồ Văn S2, và Phan Văn D1 làm đến sau Giải phóng. Đến ngày 18/11/1988 thì 7 hộ canh tác trên đất ông Lê Bảo N gồm có: Trần Văn B4, Trần Văn B, Võ Văn S1, Lê Thị T16, Võ Thị N1, Hồ Văn S2, Phan Văn D1 ký biên bản trả hết 3,9ha đất cho ông Lê Bảo N coi như không còn tranh chấp, có lập biên bản do UBND xã B chứng nhận. Năm 1991 ông N có cho 4 hộ: ông B, ông T2, ông B1, bà Trọng mượn đất làm mùa thời hạn 01 năm, trong đó:

- Ông B, bà P1 mượn 1.400m² đất màu và đất vườn, ông B và bà P1 có làm tờ thỏa thuận cho mượn đất để canh tác ngày 05/12/1990, nhưng thực tế ông B mượn 2.003m² gồm có cả đất nền nhà.

- Ông B1, bà C1 mượn 2.900m² đất màu, đất vườn, khi mượn thì không có làm giấy tờ, nhưng sau khi ông N chết thì ông B1 và ông D1 (V) có làm tờ tự thuận thừa nhận có ở trên đất của ông N với ông Lê Phương B3.

- Ông T2, bà H1 mượn 1.600m², không làm giấy tờ.

- Bà T15, ông D1 mượn 4.507m², không làm giấy tờ.

Sau một năm ông N yêu cầu 4 hộ trên trả lại đất đã mượn để canh tác thì họ không trả mà vẫn tiếp tục làm. Vì chưa nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên gia đình ông N đã nhiều lần trình báo với chính quyền xã nhưng

không giải quyết được.

Ông Lê Bảo N đã kê khai, được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận QSDĐ số 01016/iB ngày 14/12/1993, diện tích 18.211m² đất màu tại ấp B, xã B, huyện C. Diện tích đất ông N được cấp quyền sử dụng có giảm là do ông N có bán đất cho người khác nên diện tích còn lại 18.211m². Năm 2001 ông Lê Phương B3 chuyển nhượng cho ông Trần Văn H6 4,230m². Ngày 10/9/2001 Phòng Địa chính huyện C ghi vào giấy chứng nhận QSDĐ số 01016/iB diện tích đất của ông N còn 14.310m² và do làm đường nên diện tích đất thực tế hiện nay còn 13.010m², giảm 1.300m². Mặc dù, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Lê Bảo N được cấp vào ngày 14/12/1993, nhưng cho đến ngày 05/02/2014 UBND xã B mới có thư mời gia đình ông Lê Bảo N đến nhận giấy chứng nhận.

Hiện nay, gia đình ông N chỉ còn quản lý sử dụng khoảng 2.000m² (phần đất cho ông Trần Văn L thuê, đo đạc là 1.532m²). Còn lại 11.010m² bị 4 hộ: ông B, ông T2, ông B1, bà T15 (vợ ông D1 đã chết) sử dụng. Khi ông N còn sống thì có nộp thuế đầy đủ, từ khi ông N mất thì gia đình ông N vẫn tiếp tục thực hiện nộp thuế đầy đủ cho cơ quan thuế từ năm 1994 đến 2001, từ năm 2002 đến nay thì được miễn nộp thuế quyền sử dụng đất nông nghiệp. Năm 2014 gia đình ông nộp đơn tranh chấp tại UBND xã B, UBND xã đã mời hai bên đến hòa giải nhưng không thành.

Theo Sơ đồ khu đất tranh chấp ngày 20/4/2020 của Văn phòng Đ - chi nhánh C6 thì hiện nay ông Trần Văn B đang sử dụng phần đất 3.297m² trong đó có 1.953m² đất ông Trần Văn B, bà Nguyễn Thị Phi M, còn lại 1.296m² là của ông B mua của ông Lê Bảo N năm 1990 (đo đạc là 1.344,0m²) thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 14/12/1993 cấp cho ông Lê Bảo N nhưng chưa được tách thửa.

Đối với Quyết định số 803/QĐ-UB ngày 18/12/1998 của Ủy ban nhân dân huyện C về việc giải quyết khiếu nại của ông Trần Văn B4, thì Quyết định công nhận quyền sử dụng đất diện tích 6.000m² cho ông B4, trong 6.000m2 có diện tích đất 2.340m² thuộc thửa 2749, tờ số 3 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Lê Bảo N ngày 14/12/1993, ông B4 phải có trách nhiệm trả hoa lợi cho ông Lê Phương B3 60 chỉ vàng làm 3 lần, nhưng cho đến nay ông B4 mới trả cho ông B3 được 28,45 chỉ vàng 24 kara, nên ông B4 chưa được cấp quyền sử dụng đất, phần đất này vẫn thuộc của ông N.

Yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây đối với các bị đơn:

Chúng tôi đồng nguyên đơn là con, cháu của ông Lê Bảo N có tên nêu trên cùng khởi kiện yêu cầu 4 hộ: ông B, ông T2, ông B1, bà T15 trả lại đất cho gia đình ông N, cụ thể như sau:

  1. Yêu cầu ông Trần Văn B và vợ bà Nguyễn Thị P1 trả lại 2003m²;
  2. Yêu cầu ông Phan Văn T2 và vợ bà Đỗ Thị Thu H1 trả lại 1600m²;
  3. Yêu cầu ông Phan Văn B1 và vợ bà Trần Thị C1 trả lại 2900m²;
  4. Bà Đỗ Thị T3 trả lại 4507m²;

Tổng cộng: 11.010m².

Không tranh chấp phần đất 1.532m² hiện cho ông Trần Văn L thuê.

Sau khi có kết quả đo đạc, ông Lê Phương D đại diện các nguyên đơn có đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện như sau:

  1. Yêu cầu ông Trần Văn B và vợ bà Nguyễn Thị P1 trả lại 2.001m² đất (ông B đang sử dụng 3.297m², ông N đã bán cho ông B năm 1986 là 1.296m², ông B phải trả lại cho gia đình ông N 2.001m²). Phần đất ông N chuyển nhượng cho ông B là 1.296m², ông B đang sử dụng đất theo kết quả đo đạc là 1.344m², yêu cầu ông B, bà P1 phải trả lại phần đất chênh lệch 48m² bằng giá trị.
  2. Yêu cầu ông Phan Văn T2, bà Đỗ Thị Thu H1 trả lại 1.519m² đất.
  3. Yêu cầu ông Phan Văn B1, bà Trần Thị C1, ông Phan Văn T12, Phan Văn V2 phải trả lại 3.351m² đất (trong đó ông B1, bà C1 sử dụng 1.752m², ông T12 đang sử dụng 791m², ông V2 đang sử dụng 808m²).
  4. Yêu cầu bà Đỗ Thị T3 trả lại 4.121m² (2.884m² + 1237m²).

Bị đơn ông Trần Văn B trình bày:

Hiện nay ông đang sử dụng phần đất khoảng 2.000m², nguồn gốc phần đất trên là do ông Trần Văn B4 (đã chết) là anh ruột của ông mượn của ông Lê Bảo N vào năm 1970, diện tích đất ông B4 mượn khoảng 20 công, sau đó ông B4 có chia lại cho ông sử dụng là 5 công. Năm 1990 thì ông có trả lại cho ông N 3 công đất, còn lại 2 công đến năm 1991 thì ông có thỏa thuận với ông N mua lại diện tích 1.296m² với giá 750.000đ, có làm tờ thỏa thuận sang nhượng, có xác nhận của chính quyền địa phương vào ngày 11/03/1991; Phần đất còn lại thì do hoàn cảnh khó khăn nên ông không có khả năng mua hết, mặc dù vậy thì ông cũng đã sử dụng hết phấn đất 2.000m² từ năm 1991 cho đến nay.

Ngoài ra ông N có cho ông và con Trần Văn L cất nhà trên phần đất thổ cư giáp với đường đất, việc ông N cho đất ông cất nhà thì không có giấy tờ gì. Ông xác định ông chỉ mua của ông N 1.296m² phần đất còn lại là của ông N.

Trong thời gian sử dụng đất thì ông có đóng thuế đầy đủ cho nhà nước, nhưng không còn lưu giữ. Từ khi mua đất của ông N đến nay thì ông chưa có đăng ký kê khai cấp quyền sử dụng đất, khi ông N được cấp quyền sử dụng đất thì ông không biết. Hiện nay trên phần đất 2.000m² có 2 căn nhà bằng cây gỗ tạp, một căn của ông, một căn của Trần Văn L và một nền nhà của Trần Văn R (hiện nay ông R không còn ở trên phần đất này). Ngoài 2 căn nhà trên thì ông có trồng cây ăn trái là xoài được 150 cây một năm tuổi, và trồng rẫy.

Ông B thừa nhận ông và vợ Trần Thị P3 có ký tên vào tờ thỏa thuận cho mượn đất để canh tác ngày 05/12/1990. Nay các con cháu ông N yêu cầu ông trả 2.003m² đất thì ông không đồng ý vì trong phần đất ông đang sử dụng có 1.296m² mua của ông N, phần đất còn lại thì ông đã sử dụng ổn định từ năm 1991 đến nay, ông không đồng ý trả đất lại cho gia đình ông N, chỉ đồng ý trả giá trị. Yêu cầu được công nhận phần đất 1.296m² mua của ông N.

Bị đơn ông Phan Văn T2 trình bày:

Vợ ông là bà Đỗ Thị Thu H1 đã chết tháng 8/2020, ông và bà H1 không có con chung, bà H1 cũng không có con riêng. Hiện ông đang sử dụng 1.300m² đất vườn (đo đạc thực tế là 1.519m², trước đây có 2 nền mộ của người lạ, nhưng đã di dời đi nơi khác nay không còn), nguồn gốc đất này là của mẹ tên Lê Thị T16 để lại cho ông và bà H1, ông, bà sử dụng từ năm 1975 cho đến nay.

Khi mẹ còn sống thì có nghe mẹ nói phần đất này trước năm 1975 ông N cho mẹ ông làm, việc cho đất không làm giấy tờ. Trong thời gian ông, bà sử dụng đất thì ông N có đến gặp ông để đòi đất lại, nhưng do hoàn cảnh khó khăn ông, bà không còn đất nào để sử dụng nên ông chưa trả đất cho ông N, ông N có nói cho ông tiếp tục làm, khi nào có tiền thì gặp ông N để thương lượng, nhưng cho tới nay thì ông, bà vẫn chưa trả tiền cho ông N và các con cháu ông N. Trong thời gian sử dụng đất thì ông có nộp thuế cho Nhà nước nhưng không còn giữ biên lai.

Hiện nay trên đất phần đất 1.519m² ông, bà chỉ sử dụng để trồng xoài, được khoảng 90 gốc xoài được 10 năm tuổi, không có cất nhà trên đất.

Ông xác định phần đất ông, bà đang sử dụng là của ông N, nay các con cháu của ông N yêu cầu ông, bà trả lại đất thì ông, bà không đồng ý do đất ông, bà sử dụng đã lâu, cuộc sống khó khăn nên ông, bà chỉ đồng ý trả đất bằng giá trị là 5 chỉ vàng 24kara. Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01016/iB ngày 14/12/1993 cấp cho ông Lê Bảo N, yêu cầu được công nhận phần đất 1.519m².

Ông Phan Văn B1 và bà Đỗ Thị C4 trình bày:

Hiện nay gia đình ông, bà đang sử dụng phần đất rẫy theo kết quả đo đạc là 3.351m², nguồn gốc đất này là của mẹ ông, bà tên Lê Thị T16 cho lại ông, bà từ năm 1970, ông, bà sử dụng đến năm 1983 thì được đưa vào tập đoàn, sau đó được tập đoàn C7 đất lại. Khi mẹ cho đất thì không có nghe mẹ nói đất này là mượn của ai, ông bà cũng không biết đất này nguồn gốc ở đâu mà mẹ có mà cho ông bà. Sau khi ông N chết thì không biết lý do gì thì ông Lê Phương B3 có đến gặp ông, bà đòi lại đất, nhưng ông bà không trả vì đất này là của mẹ cho, trong thời gian sử dụng đất thì ông, bà cũng có nộp thuế đầy đủ nhưng biên lai thuế đã bị lạc mất.

Trong phần đất 3.351m² ông bà cho con tên Phan Văn C5 diện tích 791m², ông T12 trồng xoài và cất 1 căn nhà bằng cây gỗ tạp. Vợ chồng ông bà có cùng vợ chồng của ông C5 trồng khoảng khoảng hơn 200 cây xoài, hơn 8 năm tuổi và Cho con tên Phan Văn V2 phần đất 808m² để trồng xoài.

Đối với Tờ tự thuận (thay tờ cam kết) ngày 17/7/1997 thì ông B1 xác định chữ ký “Bé” là của ông. Vào năm 1997 thì ông B1 có ý định vay tiền để tôn tạo nền nhà (phần đất cất nhà hiện nay gia đình ông, bà đang ở, không phải phần đất đo đạc 3.351m²) nên ông B1 và ông Phan Văn V3 mới làm tờ tự thuận với ông Lê Phương B3 để vay tiền Ngân hàng, nhưng sau đó không vay được.

Nay trước yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn yêu cầu ông, bà trả đất thì ông, bà không đồng ý, vì đất này là của mẹ cho ông, bà và có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01016/iB ngày 14/12/1993 cấp cho ông Lê Bảo

N.

Bà Đỗ Thị T3 trình bày:

Hiện nay bà sử dụng phần đất có diện tích khoảng 4.200m² bà trực tiếp sử dụng để trồng 280 gốc xoài khoảng 2 năm tuổi, 120 gốc xoài được 1 năm tuổi. Nguồn gốc phần đất này là của mẹ chồng tên Lê Thị T16 cho chồng bà là Phan Văn D1 vào năm 1970 (ông D1 chết năm 2000) trước khi bà kết hôn với ông D1. Trong thời gian bà và ông D1 sử dụng đất thì có ông Lê Phương B3 đến gặp bà T16 để đòi đất thì bà T16 nói không trả để cho con làm, bà không biết lý do tại sao ông B3 lại đòi đất, việc bà T16 có mượn đất của ông N hay không thì bà cũng không biết, quá trình sử dụng đất vợ chồng bà có nộp thuế đầy đủ nhưng biên lai thuế không còn lưu giữ, từ khi sử dụng đất đến nay thì bà cũng không kê khai để được cấp quyền sử dụng đất. Bà không đồng ý trả đất theo yêu cầu của các nguyên đơn và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01016/iB ngày 14/12/1993 cấp cho ông Lê Bảo N, yêu cầu được công nhận phần đất 4.121m² (đơn yêu cầu phản tố ngày 09/6/2021).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Phan Thị T8 khai:

Tôi là con ruột của bà Đỗ Thị T3 và ông Phan Văn D1 (chết năm 2000), cha mẹ tôi sinh được 3 người con là tôi, Phan Thị Yến T10 và Phan Văn P2.

Hiện nay tôi và mẹ tôi (Đỗ Thị T3) đang sử dụng phần đất khoảng hơn 4.000m² đất rẫy, tôi được biết phần đất này trước kia bà nội tôi tên Lê Thị T16 để lại cho cha tôi từ năm 1975, năm 2000 cha tôi chết để lại cho gia đình tôi tiếp tục sử dụng, trên phần đất khoảng hơn 4.000m² này hiện nay gia đình tôi sử dụng để trồng xoài (112 gốc xoài 1 năm tuổi, còn lại là 2 năm tuổi), gia đình tôi không có cất nhà trên đất.

Ông Phan Văn T12 khai:

Tôi là con ruột của ông Phan Văn B1, tôi được được cha (ông B1) cho diện tích đất 1.000m² đất để trồng rẫy, sau này tôi trồng xoài; năm 2000 thì nhà nước múc kênh làm đê bao thì diện tích còn lại khoảng gần 800m². Theo tôi được biết phần đất cha cho tôi có nguồn gốc là của bà nội tên Lê Thị T16 để lại cho cha tôi, sau đó cha cho tôi sử dụng. Trên phần đất này tôi có cất một căn nhà tạm và trồng khoảng 90 gốc xoài đến nay được 2 năm tuổi, phần đất này cha tôi và tôi chưa được cấp quyền sử dụng, căn nhà trên đất hiện nay tôi và vợ tên Huỳnh Thị Bích H4, con tên Phan Huỳnh Nhật A, 15 tuổi đang ở. Nay gia đình ông Lê Phương D yêu cầu cha tôi phải trả đất lại thì tôi không đồng ý, vì ngoài phần đất trên gia đình tôi sử dụng trồng xoài để kiếm thu nhập thì tôi không còn nguồn thu nào khác để nuôi sống gia đình.

Ông Phan Văn V2 khai:

Tôi là con ruột của ông Phan Văn B1, tôi được được cha (ông B1) cho diện tích đất 1.000m² đất để trồng rẫy, sau này tôi trồng xoài; năm 2000 thì Nhà nước múc kênh làm đê bao thì diện tích còn lại khoảng 800m². Theo tôi được biết phần

đất cha cho tôi có nguồn gốc là của bà nội tên Lê Thị T16 để lại cho cha tôi, sau đó cha cho tôi sử dụng. Trên phần đất này tôi có cất một căn nhà tạm và trồng khoảng 90 gốc xoài đến nay được 5 năm tuổi, phần đất này cha tôi và tôi chưa được cấp quyền sử dụng. Nay gia đình ông Lê Phương D yêu cầu cha tôi phải trả đất lại thì không đồng ý, vì ngoài phần đất trên gia đình tôi sử dụng trồng xoài để kiếm thu nhập thì tôi không còn nguồn thu nào khác để nuôi sống gia đình.

Ý kiến của Ủy ban nhân dân huyện C tại các văn bản số 2434/UBND-NC ngày 28/12/2018, văn bản số 2647/UBND-NC ngày 03/11/2022 (BL 1255, 1262):

Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số QSDĐ số 01016/iB ngày 14/12/1993, diện tích 18.211m² cho ông Lê Bảo N đứng tên là chưa đúng đối tượng và trình tự thủ tục theo quy định. Bởi vì, trước thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N thì các hộ Trần Văn B4, Trần Văn B, Phan Văn T2, Phan Văn B1, Đỗ Thị T3 đang sử dụng một phần trong tổng diện tích đất trên. Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Luật Đất đai năm 1993 thì “Trong trường hợp thửa đất có nhiều cá nhân không cùng một hộ gia đình hoặc không cùng một tổ chức sử dụng, thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp đến từng tổ chức, từng hộ gia đình, từng cá nhân”.

Theo Quyết định 803/QĐ.UB ngày 18/12/1998 của Ủy ban nhân dân huyện C, thì có thể hiện thu hồi diện tích 2.340m² đất rẫy thuộc thửa 2749, tờ bản đồ số 03 do ông N đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số QSDĐ 01016/iB ngày 14/12/1993 để xét cấp cho ông Trần Văn B4, cho đến thời điểm hiện nay hộ ông B4 vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ủy ban nhân dân huyện C không có thu hồi thửa đất nào thuộc ngày chứng nhận quyền sử dụng đất do ông N đứng tên.

Phần đất 1.953m² và phần đất 1.237m² theo sơ đồ hiện trạng khu đất tranh chấp ngày 15/11/2016, bản đồ khu đất tranh chấp ngày 20/4/2020 của Văn phòng Đ chi nhánh C6 được quy hoạch là đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm. Đối với diện tích đất này, nếu người sử dụng đất có đầy đủ các giấy tờ được quy định tại Điều 100, hoặc không có giấy tờ nhưng thỏa một trong những quy định tại Điều 101 Luật Đất đai 2013 và được Ủy ban nhân dân cấp xã xác định là đất sử dụng ổn định, không tranh chấp thì sẽ được xem xét để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Phần diện tích 18.211m² đất màu thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số QSDĐ 01016/iB ngày 14/12/1993 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông N trước đây được đưa vào tập đoàn từ lúc tập đoàn H7 thành lập, thời gian đưa vào tập đoàn khoảng năm 1980.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố, các đương sự không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới, các đương sự không thỏa thuận được nhau về việc giải quyết vụ án.

Nguyên đơn ông Lê Phương D trình bày:

Năm 1970 thì ông Lê Bảo N cho các hộ Trần Văn B4, Võ Văn S1 mượn 3,9ha đất thời hạn 01 năm, quá trình sử dụng ông B4, ông S1 chia đất lại cho các hộ Trần Văn B, Lê Thị T16, Võ Thị N1, Hồ Văn S2, Phan Văn D1 canh tác; bà T16 chia đất lại cho các con Phan Văn T2, Phan Văn B1, Phan Văn D1 làm; khi đất được đưa vào Tập đoàn 8 thì các hộ trên vẫn làm trên đất. Đến ngày 18/11/1988 các hộ làm trên đất ký biên bản trả đất cho ông N. Khi ký biên bản trả đất thì các hộ Trần Văn B, Phan Văn T2, Phan Văn B1, Phan Văn D1 vẫn làm trên đất mà không trả, nên ông N vẫn cho các hộ B, T2, B1, D1 mượn đất thêm 01 năm. Sau đó ông Lê Phương B3 nhiều lần đòi đất nhưng các bị đơn không trả, từ khi sử dụng đất của ông N đến nay các bị đơn đã thu huê lợi rất nhiều.

Yêu cầu các bị đơn trả đất, nếu các bị đơn muốn sử dụng thì trả lại giá trị quyền sử dụng đất theo kết quả thẩm định giá ngày 13/9/2022 của Công ty cổ phần T18. Đối với 02 thửa đất ông Lê Phương B3 chuyển nhượng cho ông Trần Văn H6, phần đất cho ông Trần Văn L thuê, phần đất 2.340m² thửa 2749 gia đình ông Trần Văn B4 đang sử dụng các nguyên đơn không tranh chấp.

Bà Trần Thị C1 trình bày: bà biết phần đất vợ chồng bà đang làm là của mẹ chồng Nguyễn Thị T17 để lại, còn đất ở đâu bà T17 để lại thì bà không biết.

Phần tranh luận:

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn phát biểu quan điểm:

Nguồn gốc đất là của ông nội các nguyên đơn là Lê Văn T15 để lại cho ông Lê Bảo N năm 1954, gia đình các nguyên đơn canh tác đến năm 1970 ông N cho các ông B4, ông S1 mượn đất. Trong quá trình canh tác ông S1 chia đất lại cho bà T17, ông N1, ông S2, ông D1 làm. Đến năm 1988 các hộ canh tác trên đất ký biên bản thỏa thuận trả đất cho ông N hết 3,9ha đất. Năm 1991 ông N cho 4 hộ B, T2, B1, Trọng mượn đất làm mùa thời hạn 01 năm, ông B, bà P3 mượn 1.400m² có làm tờ thỏa thuận cho mượn đất ngày 05/12/1990, nhưng thực tế ông B, bà P3 mượn 2003m² bao gồm cả đất nền nhà. Ông B1, bà C1 mượn 2.900m² đất, khi mượn không làm giấy tờ, nhưng sau khi ông N chết ngày 17/7/1997 ông B1, ông D1 có làm tờ tự thuận thừa nhận có ở trên đất của ông N với ông Lê Phương B3 con ông N. Ông T2, bà H1 mượn 1.600m² không làm giấy tờ, bà T15 mượn 4.507m² không làm giấy tờ. Ông N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1993 diện tích 18.211m² đất, ông N chuyển nhượng cho ông H6 4.230m², còn 14.310m² và do làm đường nên đất thực tế còn hơn 13.000m². Hiện nay gia đình ông N chỉ còn sử dụng khoảng 2.000m² là phần cho ông L thuê còn lại hơn 11.010m² bị 04 hộ Bơ, Tiếng, B1, T15 chiếm sử dụng nên nguyên đơn yêu cầu các bị đơn trả đất.

Sau khi có kêt quả đo đạc nguyên đơn yêu cầu các bị đơn, ông T12, ông V2 phải trả đất theo kết quả đo đạc thực tế. Các bị đơn đều thừa nhận canh tác trên đất của ông D nhưng không đồng ý trả đất và cho rằng đất này là do mẹ, bà các ông, bà cho và có yêu cầu phản tố yêu cầu công nhận đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông N, chỉ riêng có ông T2 đồng ý trả 05 chỉ vàng 24 kara.

Các bị đơn cho rằng đất của bà T17 cho nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh, các phần đất các bị đơn sử dụng đều nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông N. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc các bị đơn phải trả cho nguyên đơn các phần đất bằng giá trị theo Chứng thư Thẩm định giá của Công ty T18. Các bị đơn đã sử dụng đất của nguyên đơn đã hơn 40 năm thì phải tự cải tạo bồi đắp để tạo thu nhập, các bị đơn cũng không yêu cầu xem xét việc cải tạo đất đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn phát biểu quan điểm:

Bị đơn Tiếng, Bé, T15 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và có yêu cầu phản tố yêu cầu được công nhận quyền sử dụng đất theo các sơ đồ hiện trạng khu đất tranh chấp và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 18.211m² cấp cho ông N, với lý do: sau khi đất nước thống nhất thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước quản lý quy định tại Luật Đất đai năm 1987 và Luật Đất đai 1993. Theo khoản 1 Điều 2 Luật Đất đai 1993 người sử dụng đất ổn định được Ủy ban nhân dân xã, phường xác nhận thì được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Luật Đất đai 1993 quy định “Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của N2 dân chủ cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời N2. Nhà nước có chính sách bảo đảm cho người làm nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, lâm nghiệp có đất sản xuất”, việc giao đất cho người khác sử dụng được tiến hành sau khi có quyết định thu hồi đất đó. Trong trường hợp này ông N được cha mẹ để lại đất trước năm 1970 cho các hộ Bi, S1 mượn làm mùa trong đó bà T17 được giữ đất làm. Tuy nhiên, thời gian sau bà T17 không còn làm đất đó nữa mà cho các con là B1, T2, D1 làm từ năm 1975. Đến 1980 đất được đưa vào tập đoàn được phân chia lại cho những người dân có nhu cầu sản xuất, gia đình ông B1, ông T2, bà T15 được giao theo nhân khẩu nếu có thương lượng trả thành quả giữa chủ đất cũ và chủ đất mới theo Quyết định 303 của Ủy ban nhân dân tỉnh A; các hộ Bé, T2, T15 đang trực canh nên bà T17 không có quyền trả lại đất khi không có ý kiến của ông bà B1, T2, T15, nên biên bản ngày 18/11/1988 do Ủy ban nhân dân xã B lập không có giá trị đối với các hộ đất đang trực canh.

Nguyên đơn cũng thừa nhận không có giấy tờ cho các bị đơn Bé, T2, Trọng mượn đất. Tờ thỏa thuận ngày 17/7/1997 tên Phan Văn V3, nhưng chồng bà T15 tên Phan Văn D1. Gia đình Bé, T2, T15 trực tiếp canh tác có công cải tạo đất nên đất mới có giá trị, có đóng thuế hàng năm. Gia đình ông N từ sau 1975 không canh tác, không có nhu cầu sử dụng đất, không trực canh trên đất nhưng lại được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là trái quy định của Luật Đất đai 1993. Ủy ban nhân dân huyện C có ý kiến đất cấp cho ông N đã được đưa vào tập đoàn năm 1980, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho ông N là chưa đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của các bị đơn.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 23/2023/DS –ST ngày 19 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giáng đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 26, Điều 166 luật Đất đai 2013;

Khoản 2 Điều 221, Điều 223 Bộ luật Dân sự;

Các Điều 153, 154, 155, 156, 157, 158, 164, 165, 166 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn đối với ông Trần Văn B, bà Nguyễn Thị Phi .

Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Văn B, bà Nguyễn Thị P1 về việc được công nhận phần đất 1.296m² (thực tế 1.344,0m²).

Buộc ông Trần Văn B, bà Nguyễn Thị P1 phải trả cho các nguyên đơn Lê Phương D, Lê Lâm T, Lê Phương K, Lê Kỳ C, Lê Thị Bích P, Lê Thị Bích T1, Lê Kỳ H, Lê Phương Bảo Tường V phần đất 1.953,0m² và phần đất chênh lệch 48m² bằng giá trị là 460.230.000đ.

Ông B, bà P1 được quyền sử dụng hai phần đất 1.953,0m² tại các điểm 1, 2, 27, 7, 8, 9, 10, 11, 12 và 1.344,0m² tại các điểm 2, 3, 6, 27 theo Sơ đồ hiện trạng khu đất tranh chấp ngày 24/6/2020 của Văn phòng Đ chi nhánh C6.

Ông B, bà P1 được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng hai phần đất 1.953,0m² và 1.344,0m² sau khi thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền cho các nguyên đơn.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn đối với ông Phan Văn T2, bà Đỗ Thị Thu H1 (chết).

Buộc ông Phan Văn T2 phải trả cho các nguyên đơn Lê Phương D, Lê Lâm T, Lê Phương K, Lê Kỳ C, Lê Thị Bích P, Lê Thị Bích T1, Lê Kỳ H, Lê Phương Bảo Tường V phần đất đất 1.519m² bằng giá trị là 331.142.000đ.

Ông T2 được quyền sử dụng phần đất 1.519m² tại các điểm 1, 2, 17, 18, 19 theo Sơ đồ hiện trạng khu đất tranh chấp ngày 15/11/2016 của Văn phòng Đ chi nhánh C6.

Ông T2 được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng phần đất 1.519m² sau khi thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền cho các nguyên đơn.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn đối với các ông Phan

Văn B1, bà Trần Thị C1, ông Phan Văn T12, ông Phan Văn V2.

- Buộc ông Phan Văn B1, bà Trần Thị C1 phải trả cho các nguyên đơn Lê Phương D, Lê Lâm T, Lê Phương K, Lê Kỳ C, Lê Thị Bích P, Lê Thị Bích T1, Lê Kỳ H, Lê Phương Bảo Tường V phần đất 1.725m² bằng giá trị là 381.936.000đ.

- Buộc ông Phan Văn T12 phải trả cho các nguyên đơn Lê Phương D, Lê Lâm T, Lê Phương K, Lê Kỳ C, Lê Thị Bích P, Lê Thị Bích T1, Lê Kỳ H, Lê Phương Bảo Tường V phần đất 791m² bằng giá trị là 181.930.000đ.

· Buộc ông Phan Văn V2 phải trả phải trả cho các nguyên đơn Lê Phương D, Lê Lâm T, Lê Phương K, Lê Kỳ C, Lê Thị Bích P, Lê Thị Bích T1, Lê Kỳ H, Lê Phương Bảo Tường V phần đất 808m² bằng giá trị là 185.840.000đ.

Ông B1, bà C1 được sử dụng 1.725m² tại các điểm 2, 3, 4, 16, 17; ông Phan Văn V2 được sử dụng 808m² tại các điểm 8, 9, 10, 11, 12, 15; ông Phan Văn T12 được sử dụng 791m² tại các điểm 12, 13, 14, 15 theo Sơ đồ hiện trạng khu đất tranh chấp ngày 15/11/2016 của Văn phòng Đ chi nhánh C6.

Các ông B1, bà C1; ông V2, ông T12 được quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền kê khai đăng ký quyền sử dụng các phần đất trên sau khi thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền cho các nguyên đơn.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu của các nguyên đơn đối với bà Đỗ Thị T3.

Buộc bà Đỗ Thị T3 và các thừa kế của ông Phan Văn D1 là Phan Thị T8, Phan Văn P2, Phan Thị Yến T10 phải trả cho các nguyên đơn Lê Phương D, Lê Lâm T, Lê Phương K, Lê Kỳ C, Lê Thị Bích P, Lê Thị Bích T1, Lê Kỳ H, Lê Phương Bảo Tường V phần đất 2.884,0m² bằng giá trị là 628.712.000đ.

Các ông, bà T3, T8, P2, T10 được quyền sử dụng phần đất 2.884,0m² tại các điểm 4, 5, 6, 7, 8, 15, 14, 16 theo Sơ đồ hiện trạng khu đất tranh chấp ngày 15/11/2016 của Văn phòng Đ chi nhánh C6 và được quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền kê khai đăng ký phần đất 2.884,0m² sau khi thực hiện xong nghĩa vụ đối với các nguyên đơn.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn yêu cầu bà T3 phải trả phần đất 1.237,0m² thuộc thửa 3953, tờ bản đồ 03 tại các điểm 1, 2, 3, 4 theo theo Sơ đồ hiện trạng khu đất tranh chấp ngày 15/11/2016 của Văn phòng Đ chi nhánh C6.

Các nguyên đơn phải có nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với các phần đất đã công nhận cho các ông bà B, P1; Tiếng; Bé, C1; T12, V2 và T3.

  1. Không chấp nhận yêu cầu của các bị đơn Bé, C1; T2, H1, T3 về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01016/iB ngày 14/12/1993, diện tích 18.211m² cấp cho ông Lê Bảo N.
  2. Về chi phí tố tụng:

- Ông Trần Văn B, bà Nguyễn Thị P1 phải trả cho các nguyên đơn 3.649.600₫.

- Ông Phan Văn T2 phải trả cho các nguyên đơn 3.649.600đ.

- Bà Đỗ Thị T3 phải trả cho các nguyên đơn 3.649.600đ.

  1. Về lệ phí ủy thác tư pháp: các bị đơn Bơ, P1; Bé, C1, T2, T3 phải liên đới trả lại cho các nguyên đơn 150.000đ.
  2. Về án phí sơ thẩm:

Miễn án phí cho các bị đơn Trần Văn B, Nguyễn Thị P1; Phan Văn T2; Phan Văn B1, Trần Thị C1 và Đỗ Thị T3.

Ông Phan Văn V2 phải chịu 9.292.000đ.

Ông Phan Văn T12 phải chịu 9.096.500đ.

  1. Về án phí phúc thẩm:

Miễn án phí cho các bị đơn Phan Văn T2; Phan Văn B1, Trần Thị C1 và Đỗ Thị T3.

Bà Phan Thị T8 phải nộp án phí phúc thẩm 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền thu tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000317 ngày 13/6/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh An Giang, đương sự đã thực hiện xong.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1);
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM (1);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND tỉnh An Giang (1);
  • - Cục THADS tỉnh An Giang(1);
  • - Đương sự (30);
  • - Lưu VP(6), HS(2). 43b.TTPT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ĐÃ KÝ)

Nguyễn Văn Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 733/2024/DS-PT ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy gcnqsdđ

  • Số bản án: 733/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy GCNQSDĐ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Lê Phương D kiện Ông Trần Văn B về việc “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Tuyên xử Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và người liên quan. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2023/DS –ST ngày 19 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger