|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 732/2024/DS-PT Ngày: 10 -9 - 2024 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh
Các Thẩm phán: Ông Phạm Công Mười
Ông Vũ Đức Toàn
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Hồng Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 314/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2023/DS-ST ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2257/2024/QĐPT ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nguyên đơn: 1. Bà Lê Thị N – sinh năm 1954.
2. Chị Lê Diệu H2 (Danh Thị Diệu H) – sinh năm 1985.
Cùng địa chỉ: Số I Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị N: Chị Lê Diệu H2 (Danh Thị Diệu H), có mặt
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Lê Thị N: Luật sư Dư Đình V – Văn phòng luật sư Lê Anh T, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C, có mặt.
- Bị đơn: Bà Lê Kim C – sinh năm 1972. Có mặt
Địa chỉ: Khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà C: Luật sư Đặng Khoa N1 thuộc Đoàn luật sư thành phố H. Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Thanh N2; (có mặt)
- Bà Đàm Thị Ú (vợ ông N2)
- Ông Lê Thanh T1 (chồng bà C)
- Bà Lê Khánh V1 (con bà N)
Cùng địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau; - Bà Lê Thị L;
- Bà Lê Thị S;
Cùng địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau; - Bà Lê Thị R;
- Bà Lê Thị Y;
- Bà Lê Thị C1 (đã chết)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà C1: Anh Lê Thanh T2;
Cùng địa chỉ: Khóm D, thị trấn T, T, tỉnh Cà Mau; - Ông Lê Thanh L1;
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau; - Ủy ban nhân dân huyện T;
Địa chỉ: Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau; - UBND xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau;
Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau; - UBND xã T; huyện T, tỉnh Cà Mau;
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau;
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Lê Kim C; Người có quyền và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị S, bà Lê Thị L, bà Lê Thị Y, ông Lê Thanh T2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp là của bà Nguyễn Thị H1 (mẹ bà N, bà C) được trang trải ruộng đất. Sau đó bà H1 cho lại bà N phần đất trên, bà N và chị H canh tác ổn định và liên tục đến nay. Khi bà H1 cho đất không có lập thành văn bản, khi cho trong gia đình không có ai phản đối. Năm 1999 bà N và chị H được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất diện tích 16.670m² thuộc thửa số 188 tờ bản đồ số 07 tọa lạc ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Phần đất có tứ cận: Phía Đông giáp phần đất của ông Lê Văn L2, phía Tây giáp kinh Tám Ngàn, phía Nam giáp K, phía Bắc giáp phần đất của ông Lê Thanh N2.
Vào năm 2009 chị H, bà N và bà C hợp tác để cùng nuôi tôm trên phần đất này với diện tích 10 công, được 02 năm thì bà N và chị H không tiếp tục hợp tác với bà C mà cho bà C mượn phần đất 10 công này để canh tác. Khi nào cần thì bà N và chị H lấy lại, khi bà N cho bà C mượn đất canh tác không có làm giấy tờ, chỉ thỏa thuận bằng lời nói. Đến năm 2015 thì bà N có yêu cầu bà C trả lại đất thì bà C cho rằng phần đất này là di sản của bà H1 để lại nên có một phần là của bà C. Bà C đã được bà H1 cho phần đất khác có diện tích 06 công và đã chuyển nhượng cho ông Lê Văn L2. Trên phần đất này hiện nay bà C cùng với chồng là ông Lê Thanh T3 canh tác. Bà H1 mất năm 2010, ông Lê Văn C2 mất trước bà H1 nhưng chị H không nhớ thời gian. Bà H1 và ông C2 có 08 người con là Lê Thị C1, Lê Văn L2, Lê Thị N, Lê Thị Y, Lê Hồng R1, Lê Thị S, Lê Thị L, Lê Kim C. Bà C1 đã chết năm 2017. Khi bà H1 còn sống có cho 08 người con các phần đất riêng, không nằm trong 15 công đất trên.
Chồng bà N là ông Lê Văn T4 đã mất cách đây 17 năm. Ông T4 và bà N có 01 người con là chị H và 01 người con nuôi tên Lê Khánh V1.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay bà N và bà H đang quản lý, không thế chấp vay vốn.
Nay bà N và chị H yêu cầu bà C trả lại phần đất có diện tích khoảng 10 công (tầm 3m, 9.620,2m²) đất thuộc thửa số 188 tờ bản đồ số 07 tọa lạc ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 22/11/2022 nguyên đơn yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 18471 ngày 06/12/1995 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho bà Nguyễn Thị H1.
Ngoài ra bà H1 còn để lại phần đất vườn diện tích khoảng 05 công tọa lạc khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Hiện nay phần đất này bà C và bà Y đang quản lý để thờ cúng. Chị H xác định bà Y hiện nay tinh thần minh mẫn.
- Bị đơn bà C trình bày:
Bà C xác định trình bày của bà H không đúng. Nguồn gốc đất tranh chấp là của bà Nguyễn Thị H1 (mẹ bà C) để lại cho bà Lê Thị C1, bà Lê Thị Y, bà Lê Thị N mỗi người 05 công đất vào năm 1995, khi bà H1 cho đất không có lập thành văn bản. Bà C1 bị bệnh tâm thần, bà Y không minh mẫn và cùng chung sống với bà H1, bà N. Tại thời điểm bà H1 cho đất thì bà H1 chưa được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 1999 bà N đi làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên toàn bộ phần đất trên. Khi bà N đi làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà H1 còn sống và bà H1 cùng với các anh chị em trong gia đình đồng ý cho bà N đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà C1 bệnh tâm thần và bà Y không minh mẫn. Khi thống nhất cho bà N đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng không có làm giấy tờ gì mà chỉ thỏa thuận bằng lời nói. Năm 2010 bà H1 chết, từ năm 1995 đến năm 2010 phần đất 10 công của bà C1 và bà Y do bà C và bà H1 quản lý, canh tác do bà C1 và bà Y không có khả năng lao động nên anh chị em trong gia đình bà C thống nhất để bà C đứng ra canh tác và chăm sóc cho bà C1 và bà Y. Khi giao phần đất của bà C1 và bà Y cho bà C canh tác không có làm giấy tờ. Bà C1 đã chết vào tháng 6 năm 2017, bà C1 có 01 người con nuôi tên Lê Thanh T2, giấy khai sinh T2 là con của bà C1 nhưng thực tế T2 là con ruột của bà C.
Bà C không có hợp tác nuôi tôm với bà N, chị H và cũng không có mượn đất của bà N và bà H để canh tác. Hiện nay bà C đang cùng chồng là ông Lê Thanh T3 canh tác phần đất trên. Trước đây bà C sống cùng với bà H1, đến năm 1990 bà C lập gia đình và ra ở gần nhà bà H1. Bà C tuy ở riêng nhưng là người trực tiếp nuôi bà H1, bà C1 và bà Y.
Bà H1 có cho bà C phần đất 05 công đất tại ấp H, xã T giáp với phần đất 15 công đã nêu. Những người anh em còn lại đều được bà H1 cho đất mỗi người 01 phần riêng. Vào năm 2003 bà C có mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà N và bà H thế chấp vay vốn tại Ngân hàng N3 chi nhánh huyện T – phòng G vay 10.000.000 đồng để làm vốn canh tác trên phần đất của bà C1 và bà Y. Hiện nay bà đã thanh toán xong và đã trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại cho bà N.
Năm 2016, bà N có đến gặp ông L2 và bà L để nói ông L2 cho thêm bà N 03 công đất trong phần đất bà C1 và bà Y được chia thì bà N mới tách Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà C1 và bà Y. Sau đó anh em trong gia đình có bàn bạc với nhau cho bà N thêm 03 công đất trong phần đất của bà C1 và bà Y, ông L2 và chị H là người trực tiếp đứng ra đo đạc đất, bà N cặm trụ đá và làm bờ. Sau đó bà N không thực hiện lời hứa tách Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà C1 và bà Y.
Nay bà N và chị H yêu cầu bà C trả lại phần đất có diện tích khoảng 10 công (tầm 3m) thuộc thửa số 188 tờ bản đồ số 07 tọa lạc ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau bà C không đồng ý. Vì bà C hiện nay đang nuôi bà Y và thờ cúng bà H1, bà C1. Ngoài ra bà H1 còn để lại phần đất vườn diện tích hiện nay khoảng hơn 03 công tọa lạc khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Hiện nay phần đất này bà C và bà Y đang quản lý.
Tại đơn phản tố ngày 04/01/2018 bà C có yêu cầu công nhận phần đất cho bà C đang quản lý sử dụng diện tích 12.110 m² thửa số 77 vì thực tế bà có đăng kí kê khai đứng tên tại sổ mục kê địa chính.
- Ông Lê Thanh L1 trình bày tại biên bản hòa giải ngày 23/12/2020 và ngày 24/11/2022:
Ông L1 có gia đình và ở riêng từ năm 1980. Bà H1 có tất cả 08 người con nhưng có một mình ông L1 là con trai. Khi ông ra riêng thì bà H1 sống cùng bà N, bà C, bà Y, bà R1, bà C1. Bà H1 có cho bà N 05 công đất phía mặt tiền giáp kênh Tám Ngàn, còn lại 10 công đất bà H1 cho bà C1 và bà Y nhưng thực tế không làm giấy tờ cho đất bà C1 và bà Y mà bà H1 canh tác đến năm 2009 bà H1 già yếu nên giao lại cho vợ chồng ông T3 và bà C canh tác. Ông L1 đồng ý cho mẹ con bà N thêm 03 công đất. Tổng cộng cho bà N là 08 công, còn lại giao cho bà C canh tác để thờ phụng cha mẹ và chị.
Tại buổi hòa giải ngày 24/11/2022 ông L1 thống nhất theo trình bày và yêu cầu của bị đơn là bà C, ngoài ra không yêu cầu gì khác.
Ngày 21/8/2023, ông Lê Thanh L1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bà Lê Thị S trình bày tại biên bản hòa giải ngày 23/12/2020 và ngày 24/11/2022:
Bà S có chồng và ở riêng nên không còn liên quan gì đến gia đình bà H1 hơn 37 năm nay. Nếu bà N có đứng ra hỏi xin thêm 03 công đất nữa thì bà đồng ý, nếu không thì bà yêu cầu giao cho bà C canh tác phần đất tranh chấp.
Tại buổi hòa giải ngày 24/11/2022 bà S thống nhất theo yêu cầu của bị đơn là bà C, ngoài ra không yêu cầu gì khác.
- Bà Lê Thị L trình bày tại biên bản hòa giải ngày 23/12/2020 và ngày 24/11/2022:
Phần đất 15 công là bà H1 chia đều cho bà N, bà C1 và bà Y mỗi người 05 công nhưng bà H1 không làm giấy tờ. Phần 10 công đất thì bà H1 canh tác thì bà H1 có đi kê khai quyền sử dụng đất, còn phần 05 công đất bà H1 đã cho bà N thì bà H1 không có đi làm. Bà L xác định bà có chồng ra ở riêng năm 1990 nên không còn liên quan gì đến gia đình bà H1. Bà L yêu cầu bà N giao toàn bộ phần đất cho bà C canh tác.
Tại buổi hòa giải ngày 24/11/2022 bà L thống nhất theo yêu cầu của bị đơn là bà C, ngoài ra không yêu cầu gì khác.
- Anh Lê Thanh T2 trình bày tại biên bản hòa giải ngày 23/12/2020 và ngày 24/11/2022:
Anh T2 là con của bà C1, trước đây anh có nghe nói lại bà H1 có cho đất bà C1 và bà Y diện tích 10 công. Nay anh T2 có ý kiến đồng ý cho bà N thêm 03 công đất, diện tích còn lại giao cho bà C canh tác để nuôi bà Y lúc về già.
Tại buổi hòa giải ngày 24/11/2022 anh T2 thống nhất theo yêu cầu của bị đơn là bà C, ngoài ra không yêu cầu gì khác.
- Bà Lê Thị Y trình bày tại biên bản hòa giải ngày 23/12/2020 và ngày 24/11/2022:
Đối với phần đất tranh chấp có nguồn gốc của bà H1 thì khi khai hoang bà có tham gia. Hiện nay bà đang sống cùng bà C. Nay bà yêu cầu bà N giao phần đất tranh chấp cho bà C sử dụng để bà C canh tác nuôi bà lúc già yếu vì phần đất này bà H1 cho bà và bà C1 trước khi bà H1 chết. Tại buổi hòa giải ngày 24/11/2022 bà Y thống nhất theo yêu cầu của bị đơn là bà C, ngoài ra không yêu cầu gì khác.
Bà Y có đơn yêu cầu đề ngày 05/10/2023 xin được vắng mặt trong tất cả các buổi xét xử xủa Tòa án.
- Bà Lê Hồng R1 trình bày tại biên bản hòa giải ngày 23/12/2020 và ngày 24/11/2022:
Nguồn gốc đất tranh chấp là do bà N, bà R1, bà H1 cùng canh tác, sau khi cải tạo ban mô dừa, đào mai bao quanh phần đất thành khoảnh xong thì vợ chồng bà C mới vào canh tác trên phần đất nhưng không rõ thời gian nào. Đối với đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do bà N kêu bà C ghi, khi đó bà R1 trực tiếp chứng kiến. Bà C có mượn bà N vay tiền dùm tại Ngân hàng N3. Do bà và bà N trực tiếp đi vay tiền đem về đưa cho bà C, hiện nay đã thanh toán nợ xong cho Ngân hàng. Tiền trả nợ Ngân hàng do bà C bỏ ra. Bà R1 yêu cầu bà C trả lại phần đất tranh chấp cho bà N.
Tại buổi hòa giải ngày 24/11/2022 bà R1 thống nhất theo yêu cầu của nguyên đơn là bà N, chị H ngoài ra không yêu cầu gì khác.
- Anh Lê Thanh N2 trình bày tại biên bản hòa giải ngày 23/12/2020:
Anh N2 trực tiếp canh tác trên phần đất tranh chấp dùng để trồng lúa, trồng củ cải và nuôi tôm. Phần đất này là do bà C cho vợ chồng anh thuê canh tác, những năm đầu đôi bên có làm hợp đồng viết tay, đến hiện nay không có làm giấy tờ. Anh N2 xác định sau này ai thắng kiện anh sẽ giao trả đất cho người đó, nếu người đó đồng ý cho anh thuê đất thì anh sẽ thuê. Đối với vụ việc tranh chấp giữa các đương sự anh không có ý kiến.
Tại Bản án dân sự số 11/2023/DS-ST ngày 12 tháng 12 năm 2023 của
Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau quyết định:
Căn cứ vào các Điều 26, 34, 37, 147, khoản 2 Điều 227, Điều 163, 164, 166 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166, 170, 203 Luật đất đai;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị N và chị Lê Diệu H2 (Danh Thị Diệu H) yêu cầu bà Lê Kim C trả lại phần đất có diện tích 10 công (tầm 3m) theo đo đạc thực tế là 9.620,2m², phần đất thuộc thửa số 188 tờ bản đồ số 07 tọa lạc ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Nguyễn Thị H1, diện tích 11.920 m² thửa số 188, tờ bản đồ số 07.
- Buộc vợ chồng bà Lê Kim C, ông Lê Thanh T3 giao trả phần diện tích đất tranh chấp theo đo đạc thực tế là 9.620,2m² cho bà Lê Thị N và chị Lê Diệu H2 có tứ cận: Phía Đông giáp phần đất của ông Lê Văn L2, phía Tây giáp kinh Tám Ngàn, phía Nam giáp K, phía Bắc giáp phần đất của ông Lê Thanh N2.
Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 18471 ngày 06/12/1995 do Ủy ban nhân dân huyện T đã cấp cho bà Nguyễn Thị H1 theo quyết định số 418 ngày 25/10/1994 diện tích 11.920 m² thửa số 188, tờ bản đồ số 07.
(Vị trí và diện tích theo sơ đồ đo vẽ hiện trạng ngày 25/12/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng kí đất đai huyện T – bút lục số 162 kèm theo).
Giữ nguyên các tài sản trên đất gồm nhà tạm, giếng khoan, phần bờ đã đào và hoa màu trồng trên bờ vuông theo biên bản thẩm định và định giá cho bà Lê Thị N và chị Lê Diệu H2 được tiếp tục sử dụng. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn là bà Lê Thị N và chị Lê Diệu H2 về việc hoàn trả lại giá trị các tài sản trên đất cho bà Lê Kim C và ông Lê Thanh T3 theo kết quả định giá với tổng số tiền là 19.012.000 đồng.
Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn bà Lê Kim C đối với nguyên đơn bà Lê Thị N và chị Lê Diệu H2.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 26/12/2023, bị đơn bà Lê Kim C; người có quyền và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị S, bà Lê Thị L, bà Lê Thị Y, ông Lê Thanh T2 có kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 11/2023/DS-ST ngày 12/12/2023; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Lê Thị N và bà Lê Thị Diệu H2, thửa đất số 118, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện T, Cà Mau, số vào số 00861 QSDĐ-TP-TB cấp ngày 25/03/1990.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà N vì đây là tài sản thừa kế của Bà H1.
Nguyên đơn: Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn trình bày: Kháng cáo của bị đơn không có cơ sở vì đất này bà N đã được bà H1 cho 15 công, năm 1999 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên bà N và chị H2. Nay bà H1 đã chết nên cấp sơ thẩm hủy giấy chứng nhận đã cấp cho bà H1 là đúng. Đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền lợi cho bị đơn trình bày: Nguồn gốc đất là của vợ chồng ông T5 (chết 1987), bà H1; năm 1995 đã được Ủy ban cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên bà H1. Nguyên đơn nói được bà H1 cho nhưng không có biên bản họp của gia đình của bà H1 và các con về việc có đồng ý cho hay không, thời điểm này ông T5 đã chết. Do đó, Năm 1999 bà N tự kê khai và Ủy ban cấp giấy chứng nhận cho bà N và cả chị H2 khi đó chưa đủ 15 tuổi là sai. Ủy ban huyện T khẳng định Giấy chứng nhận cấp cho bà H1 không bị thu hồi, hủy bỏ, nay bà H1 đã chết thì là di sản thừa kế. Đề nghị Tòa án hủy giấy chứng nhận cấp cho bà N để chia thừa kế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Ý kiến trình bày của các bên đương sự tại phiên tòa cho thấy vợ chồng bà H1 có 8 người con thì 6 người đã lập gia đình và được cho đất; còn C1 bị tâm thần và bà Y bị câm điếc nên sống phụ thuộc cùng bà H1, sau khi bà H1 chết thì các bà vẫn ở nhà này, hiện bà Y còn sống không có khả năng tự lao động nuôi bản thân. Diện tích đất 11.920m² Ủy ban nhân dân cấp cho bà Nguyễn Thị H1 năm 1995 là tài sản của Bà H1 chưa chia cho ai; nguyên đơn nói đã được bà H1 cho và bị đơn cùng người liên quan nói bà H1 cho bà N, bà C1, bà Y mỗi người 5 công, nhưng tất cả là nói miệng, không có giấy tờ chứng minh. Năm 1999 bà N tự kê khai xin cấp giấy chứng nhận nội dung: “ tôi có phần đất phụ ấm để lại ngang 50m dài 500m...số đất này chưa làm giấy quyền sử dụng đất...”. Trong khi đó, tại thời điểm này bà H1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Sau khi bà H1 chết thì đây là di sản thừa kế.
Văn bản số 467 ngày 17/11/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai huyện T trả lời: Thửa đất số 188, tờ bản đồ số 07 (bản đồ 299) diện tích 11.920m² được cấp giấy chứng nhận năm 1995 cho bà Nguyễn Thị H1 và thửa theo bản đồ, mục kê đang lưu trữ tại đơn vị do bà H1 kê khai. Xong cũng thửa đất này, diện tích 16.670m² được cấp giấy chứng nhận năm 1999 cho hộ gia đình bà Lê Thị N, Danh Thị Diệu H và theo bản đồ, mục kê đang lưu trữ tại đơn vị thì không có thửa đất số 188, tờ bản đồ 07, diện tích 16.670m² do hộ bà N, bà H kê khai. Cấp sơ thẩm chưa làm rõ mâu thuẫn này, chưa xác định được tọa độ đất của hai thửa này có phải là một không vì diện tích đất khác nhau.
Đề nghị Hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 11/2023/DS-ST ngày 12/12/2023, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Bị đơn nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục tố tụng phúc thẩm theo quy định
[2] Về nội dung:
Nguyên đơn bà N và chị H yêu cầu bà C trả lại phần đất có diện tích khoảng 10 công (tầm 3m) theo đo đạc thực tế là 9.620,2m², phần đất thuộc một phần thửa số 188 tờ bản đồ số 07 tọa lạc ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau, đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận năm 1999, diện tích 16.670m².
Yêu cầu khởi kiện bổ sung là hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 18471 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 06/12/1995 cho bà Nguyễn Thị H1, theo Quyết định số 418 ngày 25/10/1994 diện tích 11.920 m² thửa số 188, tờ bản đồ số 07.
[2.1] Các bên đương sự đều thừa nhận cha mẹ là ông T5, bà H1 có 8 người con (bà S, bà L, bà R1, ông L3, bà N, bà C, bà C1, bà Y). Khi bà H1 còn sống đã chia đất cho 6 người con, riêng bà C1 bị tâm thần và bà Y bị câm điếc ở với bà H1. Sau khi bà H1 chết thì bà C1, bà Y vẫn ở nhà đất này tại khóm D thị trấn T. (Bà N cho rằng khi bà sống đã chia đất cho bà Y, bà C1 nhưng không được các đồng thừa kế thừa nhận).
Riêng phần diện tích đất ở ấp H xã T, nay là xã T, huyện T thì nguyên đơn cho rằng đã được bà H1 cho 15 công và được cấp giấy chứng nhận năm 1999; còn bị đơn và các chị em trong gia đình (trừ bà R1) đều cho rằng bà H1 cho bà N 5 công, còn 10 công cho bà cánh và bà Y để cho thuê canh tác lấy tiền sinh sống do 2 bà này không có khả năng lao động; nhưng các bên đều không có văn bản cho đất (cho tặng tài sản) nên về pháp lý không được công nhận.
Nguồn gốc phần đất tranh chấp: Theo án sơ thẩm nhận định thì thửa đất này được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 18471 ngày 06/12/1995 diện tích đất 11.920m² cho bà Nguyễn Thị H1 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00861 ngày 25/3/1999 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho hộ gia đình bà Lê Thị N và chị Danh Thị Diệu H diện tích 16.670m²; theo Công văn số 467 ngày 17/11/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng kí đất đai huyện T thì bản đồ 299, mục kê đang lưu trữ tại đơn vị thì không có thửa đất 188, tờ bản đồ số 7 diện tích 16.670m². Tại đơn xin xác nhận làm giấy quyền sử dụng đất ngày 13/3/1999 bà Lê Thị N viết “Tôi có một phần đất của phụ ấm để lại ngang 50m dài 500m ...số đất này chưa làm giấy sử dụng đất..” như vậy là không trung thực, bởi lẽ: thửa đất các bên tranh chấp đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho bà Nguyễn Thị H1 năm 1999 do bà H1 kê khai, có diện tích 11.9920m², trong đó có cả đất thổ cư và đất màu, nên đây là tài sản hợp pháp của bà H1 được Nhà nước công nhận. Năm 1999 bà N tự ý kê khai cấp giấy giấy chứng nhận đại trà, nếu được phụ ấm cho thì phải có giấy tờ văn bản và được Nhà nước cho phép theo quy định Luật đất đai năm 1993. Trong đơn bà N xin cấp không có số thửa, tờ bản đồ, diện tích theo giấy chứng nhận đã cấp cho bà H1 năm 1995. Do đó, các cấp chính quyền đã làm thủ tục cấp giấy chứng nhận cho hộ gia đình bà N và chị Lê Diệu H2 là không đúng, kể cả cấp cho hộ gia đình và diện tích đất khác vì khi đó chị H2 chưa đủ tuổi đứng tên tài sản riêng và bà N còn có con gái nữa là Lê Khánh V1.
Cấp sơ thẩm chưa làm rõ được lý do diện tích đất khác nhau mà lại cùng số thửa và tờ bản đồ.
[2.2] Do đó Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 18471 ngày 06/12/1995, số thửa 188 tờ bản đồ số 7, diện tích đất 11.920m² cấp cho bà Nguyễn Thị H1 là tài sản hợp pháp của bà H1. Bà H1 chết năm 2010 nên đây là tài sản thừa kế. Tại phiên tòa bị đơn và người liên quan là các con của bà H1, ông T5 yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà N, chị H2 và chia thừa kế là có căn cứ và đúng bản chất quan hệ pháp luật tranh chấp.
[3] Cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ các chứng cứ và sai xót về tố tụng như sau:
[3.1] Bản án sơ thẩm nhận định: Trước khi mất cha mẹ nguyên đơn, bị đơn đều đã cắt chia đất cho tất cả các con ai cũng có phần và đã nhận đất quản lý sử dụng ổn định nên không phát sinh tranh chấp về thừa kế là có phần chủ quan theo ý kiến của nguyên đơn, chưa có chứng cứ bởi lẽ: Bà C1 khi còn sống bị tâm thần các anh chị em đều thừa nhận, tại phiên tòa phúc thẩm đương sự xuất trình xác nhận của trưởng khóm; bà Y bị câm điếc bẩm sinh; cả hai bà đều sống phụ thuộc vào cha mẹ, ở nhà của cha mẹ. Sau khi bà H1 chết thì vẫn ở nhà của bà H1.
Cấp sơ thẩm chưa điều tra xác minh xem đất của bà C1, bà Y được cha mẹ cho ở vị trí nào, các bà có đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó không. Nếu có thì mới có cơ sở nhận định bà C1, bà Y đã được cha mẹ cho đất nên không phát sinh quyền thừa kế.
[3.2] Biên bản hòa giải ngày 08/7/2016 tại UBND xã T (BL08) thành phần gồm có ông Nguyễn Văn T6, Phó chủ tịch UBND xã; ông Nguyễn Tấn Đ, địa chính – xây dựng; ông Nguyễn Thanh T7, đại diện ngành đoàn thể; ông Phan Thanh T8, tư pháp ghi biên bản. Có sự tham gia của Bà N, chị H2, bà C, ông T3, ông L2. Tại phiên hòa giải bà N yêu cầu lấy lại phần đất bà C, ông T3 đang canh tác để tôi làm; còn bà C có ý kiến đất này bà H1 cho bà N 5 công, còn 10 công để lại cho 2 người chị của tôi, tôi đứng ra canh tác để nuôi 2 chị bị bệnh.
Hội đồng hòa giải đã đưa ra 2 phương án để các bên thỏa thuận:
-Ý kiến thứ nhất: Để lại thêm cho bà N 3 công nữa, phần còn lại cắt ra cho bà C là em út đứng tên phải cam kết nuôi lại 2 người, người thứ 2 và người thứ 5 (bà C1, bà Y) và thờ cúng ông bà không được quyền sang bán.
-Ý kiến thứ hai: Bà N lấy hết phần đất, đem 2 người chị về nuôi.
Như vậy, chính quyền địa phương cũng biết thực tế bà C1, bà Y không có khả năng lao động, sống phụ thuộc.
Tuy nhiên, biên bản hòa giải này có ông Nguyễn Thanh T7, đại diện đoàn thể nhưng không biết có phải là Đại diện Mặt trận tổ quốc Việt Nam cấp xã hay không, đây là thành phần tham gia bắt buộc theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013 và khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP nêu “ Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự”.
Vì vậy, cần xác minh thành phần tham gia hòa giải có đại diện Mặt trận tổ quốc Việt Nam cấp xã tại thời điểm hòa giải hay không ?
[3.3] Bà Lê Thị Y bị điếc: Theo quy định của Bộ luật dân sự thì “người câm điếc bẩm sinh không coi là đương nhiên mất năng lực hành vi dân sự” tuy nhiên do bà Y bị điếc, không biết đọc và cũng không biết viết chữ nên trong quá trình tham gia tố tụng cấp sơ thẩm chưa làm rõ bà Y có bị khó khăn trong nhận thức không để làm thủ tục tham gia tố tụng.
[3.4] Cấp sơ thẩm nhận định: Đối với tài sản của bị đơn bà C đã đầu tư trên đất theo định giá ngày 07/10/2019 là: C3 đào bờ 7.682.000 đồng, giếng khoan 5.332.000 đồng, nhà tạm 5,997.600 đồng, mặc dù bà C không có yêu cầu nhưng xét thấy nếu buộc giao trả thì bà C không thể di dời phần này, do đó giao các tài sản này cho nguyên đơn sử dụng và buộc bà N, chị H2 có nghĩa vụ hoàn lại giá trị tài sản cho bà C là phù hợp. Tại phiên tòa phía nguyên đơn đồng ý tự nguyện hoàn lại cho vợ chồng bà C giá trị các tài sản mà bị đơn đã đầu tư trên đất và nhận các tài sản trên, xét đây là sự tự nguyện của nguyên đơn và phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm, lời khai của ông Lê Thanh N2 là người thuê đất của bà C và hiện đang canh tác trên đất có yêu cầu nếu ai thắng kiện thì phải trả tôi tiền đầu tư cải tạo đất, nuôi tôm, trồng lúa, thuê đất là 58.420.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết và khi định giá, xem xét thẩm định thì cấp sơ thẩm chưa hỏi, làm rõ các nội dung này.
Mặt khác, bà C là người trực tiếp quản lý duy trì 2/3 diện tích đất tranh chấp thời gian dài, đến 2018 cho ông N2 thuê để lấy tiền nuôi bà Y thì bà C có công sức tôn tạo, duy trì tài sản trên. Cấp sơ thẩm chưa hỏi bà C có yêu cầu nếu phải giao trả đất chứ không phải do bà C không chủ động yêu cầu được bồi thường nên không xem xét.
Từ những nhận định trên, cấp phúc thẩm thấy cần hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 11/2023/DS-ST ngày 12/12/2023, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm.
[4] Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[5] Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.
[6] Do án sơ thẩm bị hủy nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308; Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 11/2023/DS-ST ngày 12/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án sơ thẩm giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.
- Người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án là ngày 10/9/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh |
Bản án số 732/2024/DS-PT ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 732/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án
