|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 732/2023/DS – ST Ngày: 19-12-2023 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Quang Cảnh
2. Bà Nguyễn Thị Thanh Trang
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Diệu Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 512/2022/TLST- DS ngày 03 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1242/2023/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1338/2023/QĐST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S; Trụ sở: 2 N, Phường V, Quận C, TP .; Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Đức T (Giấy ủy quyền 2286/2019/UQ-TTT ngày 25/02/2020) - có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Phạm Thị Minh T1, sinh năm 1960; Địa chỉ: D lô A, phường T, quận T, TP . - vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/02/2020 của Ngân hàng Thương mại cổ phần S cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án ông Trần Đức T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 30/8/2007, bà T1 ký với Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà T1, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 33.832.107 đồng.
Quá trình sử dụng, bà T1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 35.173.278 đồng. Qua nhiều lần nhắc nhở, nhận thấy bà T1 không có thiện chí nên ngày 01/4/2014, Ngân hàng chấm dứt sử dụng thẻ, chuyển toàn bộ số dư nợ còn thiếu của bà T1 sang thành nợ quá hạn.
Nay, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T1 thanh toán số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 19/12/2023, cụ thể: Nợ gốc là 3.830.380 đồng; lãi quá hạn là 14.618.900 đồng; tổng số tiền là 18.449.280 đồng; Yêu cầu thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, lãi suất tiếp tục phát sinh kể từ ngày 20/12/2023 đến khi bà T1 trả dứt nợ theo mức lãi suất hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng.
- Bị đơn – bà Phạm Thị Minh T1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tòa án không lấy được lời khai cũng như không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật: Đương sự, Thư ký và Hội đồng xét xử đều tuân theo pháp luật tố tụng quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 68, Điều 69, khoản 2 Điều 97, Điều 171, Điều 173, và Điều 220, khoản 1 Điều 227, Điều 248, Điều 260 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Tuy nhiên còn vi phạm thời hạn đưa vụ án ra xét xử theo Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên vi phạm này không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên kiến nghị khắc phục.
+ Về nội dung: Căn cứ vào hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 30/7/2007 được ký kết giữa Ngân hàng và bà T1 là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp quy định pháp luật. Bà T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán được các bên thỏa thuận trong hợp đồng là gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Do đó yêu cầu của ngân hàng là có cơ sở và phù hợp với quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí tính theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về quyền khởi kiện, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Căn cứ đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S, Hội đồng xét xử nhận định vụ án trên là tranh chấp về hợp đồng tín dụng.
Về thẩm quyền giải quyết: Tại đơn khởi kiện Ngân hàng cung cấp địa chỉ cư trú của bị đơn bà T1 là 416 lô A, phường T, quận T, TP .; Tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 30/8/2007 ký kết giữa Ngân hàng và bà T1, địa chỉ thường trú của bà T1 là: A Đ, phường B, Thành phố Đ, Tỉnh Lâm Đồng; Địa chỉ tạm trú: 416 Lô A, chung cư G, phường T, quận T, Tp ..
Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ vào Phiếu yêu cầu xác minh ngày 10/6/2020 của Công an phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cho biết: “ Bà Phạm Thị Minh T1, sinh năm 1960 không có hộ khẩu thường trú hay đăng ký tạm trú tại địa chỉ D lô A, phường T, quận T, TP .”. Căn cứ vào Phiếu yêu cầu xác minh ngày 11/6/2020 của Công An phường B, Thành phố Đ cho biết: “ tại địa chỉ A Đ, phường B, Thành phố Đ, Tỉnh Lâm Đồng có bà Phạm Thị Minh T1, sinh năm 1960 hiện nay không còn cư trú tại địa phương. Ngày 11/6/2015 đã chuyển cả hộ đi A S, phường A, Thành phố V, Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu”. Căn cứ vào kết quả xác minh của Công an phường A, T, Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cho biết: “ Công dân Phạm Thị Minh T1, sinh năm 1960 không có hộ khẩu thường trú và cũng không cư trú tại địa chỉ A S, phường A, Thành phố V, Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu”. Do đó căn cứ vào đơn khởi kiện, vào thông tin cung cấp nơi cư trú của bị đơn bà Phạm Thị Minh T1 nên Hội đồng xét xử xác định bà Phạm Thị Minh T1 có nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ D lô A, phường T, quận T, TP . nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết là và giải quyết là phù hợp với khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự:
- Đại diện nguyên đơn - ông Trần Đức T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông T.
- Bị đơn bà Phạm Thị Minh T1 đã được Tòa án nhân dân quận Tân Phú tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập theo khoản 1, khoản 2 Điều 177; khoản 2 Điều 220; khoản 3 Điều 233 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nhưng bà T1 vắng mặt không lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân quận Tân Phú vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà T1.
[2] Về yêu cầu của đương sự:
Ngân hàng yêu cầu bà T1 thanh toán số tiền còn nợ tính đến ngày 19/12/2023, cụ thể: Nợ gốc là 3.830.380 đồng; lãi quá hạn là 14.618.900 đồng; tổng số tiền là 18.449.280 đồng. Yêu cầu thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, lãi suất tiếp tục phát sinh kể từ ngày 20/12/2023 cho đến khi bà T1 trả hết nợ theo mức lãi suất hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng. Hội đồng xét xử nhận định:
Xét, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 19/6/2007 đính kèm điều kiện và bản điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế ngày 30/8/2007 của bà Phạm Thị Minh T1 thể hiện thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung không trái với quy định pháp luật nên có hiệu lực từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 388, Điều 389 và Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2005.
Xét, trong quá trình thực hiện hợp đồng bà T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 11/4/2014 Ngân hàng đã chuyển số nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Nay Ngân hàng yêu cầu thanh toán số nợ còn thiếu của hợp đồng tín dụng tạm tính đến ngày 19/12/2023, cụ thể: Nợ gốc là 3.830.380 đồng; lãi quá hạn là 14.618.900 đồng; tổng số tiền là 18.449.280 đồng. Nợ lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 20/12/2023 cho đến khi bà T1 thanh toán xong số tiền còn nợ theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 19/6/2007 đính kèm điều kiện và bản điều khoản phát hành và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế ngày 30/8/2007 là có cơ sở và phù hợp với quy định tại Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 21 và Điều 22 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N về việc quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận.
Về thời hạn thanh toán: Xét, bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng đã lâu, nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà T1 thanh toán số tiền còn nợ một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật là phù hợp nên có căn cứ chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà T1 phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn là 18.449.280 đồng = 922.464 đồng.
Hoàn trả toàn bộ số tiền tạm ứng án phí là 307.836 đồng cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Ñieàu 36; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 471; Điều 474 Bộ Luật Dân Sự năm 2005; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7; khoản 1 Điều 8 và Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 6; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
- Buộc bà Phạm Thị Minh T1 thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền còn nợ của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 19/6/2007 đính kèm điều kiện và bản điều khoản phát hành, sử dụng thẻ tín dụng và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế ngày 30/8/2007 tính đến ngày 19/12/2023 là 18.449.280 (mười tám triệu bốn trăm bốn mươi chín ngàn hai trăm tám mươi) đồng; cụ thể: Nợ gốc là 3.830.380 (ba triệu tám trăm ba mươi ngàn ba trăm tám mươi) đồng; lãi quá hạn là 14.618.900 (mười bốn triệu sáu trăm mười tám ngàn chín trăm) đồng.
Nợ lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 20/12/2023 theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi bà T1 thanh toán xong số tiền còn nợ.
Thời hạn thanh toán: Một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Phạm Thị Minh T1 phải chịu án phí là 922.464 (chín trăm hai mươi hai ngàn bốn trăm sáu mươi bốn) đồng.
Hoàn trả toàn bộ số tiền tạm ứng án phí là 307.836 (ba trăm lẻ bảy ngàn tám ba mươi sáu) đồng cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0020937 ngày 02/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Quyền kháng cáo:
Ngân hàng Thương mại cổ phần S được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Phạm Thị Minh T1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6; 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Hương |
Bản án số 732/2023/DS – ST ngày 19/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 732/2023/DS – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
