TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 732/2024/DS-ST Ngày 24 - 9 - 2024 V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Kiều
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Văn Tốt
Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thúy
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 358/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 05 năm 2024 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định xét xử số 1166/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 1465/2024/QĐST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty T (Việt Nam);
Địa chỉ trụ sở: 91 đường P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện ủy quyền cho bà Lâm Thị Thùy D tham gia tố tụng (có mặt)
Bị đơn: Ông Lê Văn N, sinh năm 1971 (vắng mặt)
Địa chỉ: MPN A khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 28/02/2024 và các bản tự khai trong hồ sơ vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Lâm Thị Thùy D trình bày:
Ngày 18/11/2022, Công ty T (Việt Nam) - sau đây viết tắt là Công ty T - đã ký hợp đồng tín dụng số: 3952220 cho ông N, hạn mức sử dụng 32.310.000 (ba mươi hai triệu ba trăm mười ngàn) đồng, lãi suất 48%/năm, kỳ hạn 36 tháng. Trong đó bao gồm:
- + Số tiền tín dụng 30.000.000 đồng được giải ngân qua tài khoản của ông N tại Ngân hàng N1.
- + Số tiền phí bảo hiểm tín dụng là 2.310.000 đồng và Công ty T có chứng từ nộp. Mục đích của số tiền bảo hiểm được sử dụng chỉ trong trường hợp ông N mất khả năng trả nợ vì lý do khách quan, bất khả kháng. Do đó, giả định trường hợp được Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện/ hoặc chấp nhận yêu cầu khởi kiện mà không có khả năng thi hành án buộc ông N phải trả nợ thì Công ty T cũng không được nhận bảo hiểm thanh toán đối với khoản tín dụng của ông N.
Công ty T đã giải ngân 30.000.000 đồng, đồng thời ông N có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng số tiền gốc và lãi là 1.708.322 đồng. Sau khi giải ngân thì ông N đã trả 10.325.322 đồng (6 kỳ), trong đó, trả nợ gốc là 2.462.043 đồng, nợ lãi là 7.791.601 đồng, phí đã trả 71.678 đồng.
Từ ngày 30/5/2023, ông N vi phạm nghĩa vụ thanh toán ngừng trả nợ gốc, lãi dù đã được Công ty MIRAE ASSET nhắc nhở bằng nhiều hình thức. Từ ngày 26/6/2023, toàn bộ khoản nợ còn lại được chuyển sang lãi quá hạn.
Cách tính lãi như sau:
- + Lãi trong hạn: Tổng số tiền lãi chưa trả mỗi kỳ(tính đến thời điểm tính lãi)
- + Lãi quá hạn quy định tại khoản 8.3 điều 8 Hợp đồng tín dụng:
- Số tiền lãi quá hạn từng kỳ: (150% x Lãi suất x Số tiền gốc chưa trả mỗi kỳ x Số ngày quá hạn): 365 ngày.
- Số tiền lãi quá hạn: Tổng số tiền lãi quá hạn từng kỳ (tính đến thời điểm tính lãi).
- + Lãi chậm trả quy định tại khoản 8.3 điều 8 Hợp đồng tín dụng:
- Số tiền lãi chậm trả từng kỳ: (10% x Số tiền lãi chưa trả mỗi kỳ x Số ngày quá hạn): 365 ngày.
- Số tiền lãi chậm trả: Tổng số tiền lãi chậm trả từng kỳ (tính đến thời điểm tính lãi).
Nguyên đơn xác định yêu cầu khởi kiện:
Buộc ông Lê Văn N trả cho Công ty T số tiền 50.801.466 đồng (nợ gốc, lãi và tiền bảo hiểm khoản vay) tính đến ngày 24/9/2024. Trong đó, số tiền dư nợ gốc còn lại là 29.847.957 đồng; Nợ lãi trong hạn: 15.417.570 đồng; Nợ lãi quá hạn bắt đầu từ ngày 26/6/2023 tạm tính đến ngày 24/9/2024 là: 4.443.888 đồng; Tiền lãi chậm trả: 1.092.051 đồng.
Ông Lê Văn N có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 25/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký.
Ngoài ra, nguyên đơn không còn yêu cầu nào khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về nội dung giải quyết vụ án
Về lãi suất áp dụng và yêu cầu tiếp tục thanh toán lãi phát sinh từ ngày 25/9/2024 cho đến khi trả dứt số nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng nguyên đơn thì việc chấp nhận mức lãi suất, các loại phí và lãi quá hạn được tính bằng 150% lãi trong hạn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp theo khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 117, 118, 119, 463, 466 BLDS năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét về thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Quan hệ tranh chấp là Hợp đồng tín dụng, mục đích vay tiêu dùng mà bị đơn ghi trong hợp đồng tín dụng có địa chỉ cư trú tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, mặc dù theo kết quả xác minh ngày 15/4/2024 của Công an phường T thì địa chỉ bị đơn cung cấp trong hồ sơ tín dụng là không có trên địa bàn phường T, Quận A nên có đủ cơ sở xác định bị đơn cố tình giấu địa chỉ, không trung thực thông tin địa chỉ liên lạc khi tham gia ký hợp đồng tín dụng. Do vậy, Tòa án nhân dân Quận 12 căn cứ vào hợp đồng tiếp tục giải quyết vụ án và căn cứ Điều 26, Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Xét về quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của bị đơn:
Bị đơn ông Lê Văn N được Thừa phát lại niêm yết Thông báo thụ lý vụ án, niêm yết 02(hai) lần Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông N vẫn không đến tòa. Do đó, việc ông N không đến tòa tức tự khước từ quyền được trình bày những lý lẽ, khước từ quyền được tiếp cận công khai chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, không thực hiện nghĩa vụ giao nộp tài liệu chứng cứ (nếu có) để được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định pháp luật.
Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử chỉ xem xét và mặc nhiên công nhận lời khai và các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn xuất trình.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là buộc ông Lê Văn N phải trả toàn bộ khoản nợ gốc và lãi, số tiền là 50.801.466 đồng (nợ gốc, lãi và tiền bảo hiểm khoản vay) tính đến ngày 24/9/2024.
Ông Lê Văn N có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 25/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký.
[3.1] Về hình thức và nội dung: Hợp đồng tín dụng số: 3952220 là phù hợp quy định Thông tư số 39/2016/TT-NHNN. Do đó, nội dung thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng phát sinh hiệu lực pháp luật.
[3.2] Tại điểm a, khoản 1 và khoản 4, Điều 18 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN của Ngân hàng N2 thì Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về kỳ hạn trả nợ gốc và lãi tiền vay như sau: Trả nợ gốc, lãi tiền vay theo kỳ hạn riêng; Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về thứ tự thu nợ gốc, lãi tiền vay. Đối với khoản nợ vay bị quá hạn trả nợ, tổ chức tín dụng thực hiện theo thứ tự nợ gốc thu trước, nợ lãi tiền vay thu sau.
Như vậy, nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng đã nêu rõ nghĩa vụ, thứ tự và thời hạn thanh toán nhưng bị đơn ông N không trả ngừng trả tức đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán.
[3.3] Mặt khác, tại khoản 3, khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN của Ngân hàng N2 và Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm còn quy định về: Lãi suất cho vay bao gồm mức lãi suất cho vay và phương pháp tính lãi đối với khoản vay. Trường hợp mức lãi suất cho vay không quy đổi theo tỷ lệ %/năm và/hoặc không áp dụng phương pháp tính lãi theo số dư nợ cho vay thực tế, thời gian duy trì số dư nợ gốc thực tế đó, thì trong thỏa thuận cho vay phải có nội dung về mức lãi suất quy đổi theo tỷ lệ %/năm (một năm là ba trăm sáu mươi lăm ngày) tính theo số dư nợ cho vay thực tế và thời gian duy trì số dư nợ cho vay thực tế đó.
Khi đến hạn thanh toán mà khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay theo thỏa thuận, thì khách hàng phải trả lãi tiền vay như sau:
- Lãi trên nợ gốc theo lãi suất cho vay đã thỏa thuận tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả;
- Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định tại điểm a khoản này, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả;
- Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
Đồng thời, Công ty T được quyền quyết định miễn, giảm lãi vốn vay phải trả đối với khách hàng theo các nguyên tắc sau đây: Tổ chức tín dụng có quyền quyết định miễn, giảm lãi tiền vay, phí cho khách hàng theo quy định nội bộ của tổ chức tín dụng. Do đó căn cứ khoản 4, Điều 21 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN của Ngân hàng N2 thì việc Công ty T không tự nguyện giảm bớt giảm lãi tiền vay, phí là không vi phạm pháp luật.
[4] Như đã phân tích tại mục [3], Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[5] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 với các lập luận áp dụng quy định pháp luật có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[6] Xét về án phí:
Bị đơn ông N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là: 2.540.073 đồng do phải thực hiện nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền: 50.801.466 đồng, cách tính: 50.801.466 đồng x 5%.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 90, Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
Buộc ông Lê Văn N trả cho Công ty T (Việt Nam) số tiền là 50.801.466 (năm mươi triệu tám trăm lẻ một ngàn bốn trăm sáu mươi sáu) đồng tính đến ngày 24/9/2024.
Việc thi hành nghĩa vụ trả tiền thực hiện ngay sau khi án có hiệu lực.
Địa điểm thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày đến hạn thi hành và nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án mà ông Lê Văn N chưa thi hành xong thì còn phải trả lãi suất phát sinh tính từ ngày 25/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lê Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là: 2.540.073 (hai triệu năm trăm bốn mươi ngàn không trăm bảy mươi ba) đồng thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Hoàn trả cho Công ty T (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí là 969.269 (chín trăm sáu mươi chín ngàn hai trăm sáu mươi chín) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0022335 ngày 02/5/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Quyền kháng cáo:
Các đương sự có mặt tại phiên tòa thì quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày (mười lăm) kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày (mười lăm), tính từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo thủ tục luật định.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thanh Kiều |
Bản án số 732/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 732/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
