Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 730/2024/HS-PT

Ngày: 26 - 08 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Mười

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh

Bà Bùi Thị Thu

Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hiến - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 167/2024/TLPT-HS ngày 23 tháng 2 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T do có kháng cáo của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 738/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 8 năm 2024.

Bị cáo bị kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Ngọc T, (tên gọi khác: L); giới tính: Nam; Sinh ngày 28 tháng 5 năm 1981 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; HKTT: D C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: 2 Đ, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: thiên chúa giáo; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Nguyễn Ngọc R (chết); con bà: Lê Thu H (chết); bị cáo có vợ tên: Trần Thị Thúy A; tiền án, tiền sự: Không;

- Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 959/2009/HSST ngày 24/4/2009 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên phạt Nguyễn Ngọc T 8 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thi hành án tại Trại giam T12, huyện H, tỉnh Bình Thuận, chấp hành xong hình phạt ngày 13/01/2013.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/4/2020 (có mặt).

Người bào chữa: Luật sư Trần Giáng H1, Văn phòng L7, Đoàn Luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc T (có mặt).

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị Cẩm V và ông Đỗ Văn H2: Luật sư Vũ Văn T1, Công ty L8, Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bà Đỗ Hoàng Mỹ L1: Luật sư Bùi Quang N (vắng mặt) và Luật sư Bùi Thị L2 (có mặt), Công ty L9, Đoàn Luật sư Thành phố H.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông Vũ Sơn H3: Bà Trần Thị Ngân H4, bà Ngô Thị Huệ M - Luật sư của Công ty Luật TNHH Lê Nguyễn thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

Bị hại:

  1. Bà Đỗ Hoàng Mỹ L1, sinh năm 1978 (có mặt).
    Địa chỉ: D chung cư T, số E Đ, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Ông Vũ Sơn H3, sinh năm 1965 (có mặt).
    HKTT: 2 Đ, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
    Nơi ở: 90 đường số A, KP5, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
  3. Bà Huỳnh Dương Ngọc C, sinh năm 1984 (vắng mặt)
    Địa chỉ: H L, Phường F, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
  4. Bà Đỗ Thị N1, sinh năm 1982 (vắng mặt)
    Địa chỉ: 5 L, Phường A, G, Thành phố Hồ Chí Minh.
  5. Bà Trần Thị Mỹ C1, sinh năm 1976 (vắng mặt)
    Địa chỉ: E T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  6. Ông Nguyễn Trường P, sinh năm 1983 (vắng mặt)
    Địa chỉ: C N, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  7. Bà Trần Thị P1, sinh năm 1960 (có đơn xin vắng mặt)
    Địa chỉ: D P, phường P, thị xã P, Bà Rịa, Vũng Tàu.
  8. Ông Đặng Quốc T2, sinh năm 1986 (có mặt)
    Địa chỉ: 27 đường 29, phường Bình Khánh,Thành phố Thủ Đức,TP.HCM
  9. Ông Nguyễn Minh P2, sinh năm 1974 (có mặt)
    Địa chỉ: D Lô H, cư xá T, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  10. Ông Võ Nguyễn Nhật T3, sinh năm 1985 (có mặt)
    Địa chỉ: C ấp T, xã B, H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  11. Bà Phan Thị Hồng V1, sinh năm 1985 (vắng mặt)
    Địa chỉ: E Khu phố C, thị trấn H, huyện H, TP ..
  12. Bà Đinh Thụy Tường L3, (vắng mặt)
    Địa chỉ: 2 ấp N, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  13. Bà Nguyễn Thị Cẩm H5, sinh năm 1955 (đã chết năm 2020)
    Địa chỉ: A ấp T, xã T, huyện H, TP .
    Người đại diện theo pháp luật của bà Nguyễn Thị Cẩm H5:
    Chồng: ông Lê Kỹ H6 (vắng mặt)
    Con: Ông Lê Quốc T4 (vắng mặt)
    Con: Bà Lê Thị Thanh T5 (có mặt)
    Cùng trú tại: A ấp T, xã T, huyện H, TP ..

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Đỗ Mạnh H7, sinh năm 1980 (vắng mặt)
    Địa chỉ ĐKTT: F T, phường T, Quận G, TP .
    Chỗ ở: G đường số A T, phường B, thành phố T, TP .
  2. Ông Phạm Văn L4, sinh năm 1982 (có mặt)
    Địa chỉ: A N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Ông Trần Quốc T6, sinh năm 1987 (có mặt)
    Địa chỉ: D đường số G, khu phố C, phường T, thành phố T, Tp ..
  4. Ông Hoàng Vũ Huy L5, sinh năm 1983 (có mặt)
    Địa chỉ: D P, phường P, thị xã P, Bà Rịa, Vũng Tàu;
  5. Bà Lê Thị Thanh T5, sinh năm 1982 (có mặt)
    Địa chỉ: A ấp T, xã T, huyện H, TP .
  6. Ông Đỗ Văn H2, sinh năm 1986 (có mặt)
    HKTT: Đội 1, thôn Phước Thuận, xã Đức Phú, huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi
    Nơi ở: Căn 1604, Block Shaphire 2, Tòa nhà Sài Gòn Pearl, 92 Nguyễn Hữu Cảnh, Phường 22, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
  7. Bà Nguyễn Thị Cẩm V, sinh năm 1990 (có mặt)
    HKTT: số 2, đường Đỗ Quang, phường Thảo Điền, thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.
    Nơi ở: Căn 1604, Block Shaphire 2, Tòa nhà Sài Gòn Pearl, 92 Nguyễn Hữu Cảnh, Phường 22, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
  8. Ông Vũ Kim T7, sinh năm 1972 (có mặt)
    Địa chỉ: 7.04 Cao ốc L, phường A, TP ., TP

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Ngọc T (tên gọi khác là L) bằng thủ đoạn đưa ra thông tin gian dối là cán bộ Công an, có mối quan hệ quen biết với nhiều lãnh đạo và có khả năng mua được xe ô tô thanh lý, nhà đất, căn hộ, biệt thự giá rẻ làm nhiều người tin tưởng, đưa tiền cho T, sau khi nhận được tiền T đã chiếm đoạt cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Bà Đỗ Hoàng Mỹ L1 và bà Đỗ N2 là thành viên Câu lạc bộ họ Đ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Bà N2 quen biết Nguyễn Ngọc T, và giới thiệu với bà L1 để nhờ T giúp người em họ là ông Đỗ Công C2 đòi lại tiền dịch vụ làm visa đi nước ngoài tại Công ty cổ phần X, T đồng ý. T giới thiệu tên mình là L làm trong ngành Công an, yêu cầu và hù dọa Giám đốc Công ty cổ phần X phải nhanh chóng giải quyết trả lại tiền. Giám đốc Công ty cổ phần X hứa hẹn vài ngày nữa sẽ giải quyết, nên bà L1 rất tin tưởng T thực sự đang làm trong ngành Công an.

Sau khi giải quyết xong công việc, khoảng 20 giờ ngày 16/7/2018, bà L1 cùng với ông C2, ông Nguyễn Bá T8 (là chồng cũ của bà L1) hẹn gặp T để cám ơn. Qua nói chuyện, T nói đang giữ chức vụ Phó Thanh tra Bộ C5, đơn vị của T làm việc đang có 12 chiếc xe ô tô cao cấp đã qua sử dụng hiệu Lexus, C3 đang xuất bán thanh lý với giá rẻ như sau: Xe Lexus LX570 giá 1.400.000.000 đồng, xe Lexus ES350 giá 950.000.000 đồng (nếu xe bị trầy xước giá thấp hơn là 850.000.000 đồng), xe Camry 2.5Q 2016 giá 550.000.000 đồng, trong đó có 01 chiếc xe Lexus LX570 màu đen do ông Đinh La T9 đã từng sử dụng. Tin tưởng vào lời giới thiệu của T, bà L1 đưa cho T số tiền 2.800.000.000 đồng để mua 02 chiếc xe ô tô hiệu Lexus LX570. Ngày 21/8/2018, T trực tiếp điện thoại cho ông Vũ K (sinh năm 1972, là người sống chung với bà Đỗ Hoàng Mỹ L1) nói đóng thêm tiền thuế xe là 100.000.000 đồng, ông T7 đồng ý và lấy số tiền 100.000.000 đồng của bà L1 giao cho T.

Ngày 18/7/2018, bà Đỗ Thị N1 (sinh năm 1982; nơi cư trú: 4 N, phường A, quận B) nhờ bà L1 liên hệ T đặt mua giúp 01 chiếc xe ô tô Lexus 570 với giá 1.500.000.000 đồng. Bà L1 đưa điện thoại để bà N1 nói chuyện với T, sau khi thống nhất, bà N1 nhiều lần chuyển tiền đến tài khoản số [...] của bà L1 mở tại Ngân hàng A1, tổng số tiền 1.500.000.000 đồng. Theo bà L1 trình bày sau khi nhận tiền của bà N1, bà L1 đã đưa tiền mặt cho T 1.500.000.000 đồng nhưng không ký giấy xác nhận. Tuy nhiên, Nguyễn Ngọc T chỉ thừa nhận bà L1 đưa cho T 550.000.000 đồng.

Ngày 17/8/2018, bà Trần Thị Mỹ C1 (sinh năm 1976; nơi cư trú: 3 đường số A, phường B, quận B) có nhờ bà Đỗ Hoàng Mỹ L1 liên hệ với T đặt mua 01 chiếc xe ô tô hiệu Lexus LX570 với giá 1.700.000.000 đồng, Bà L1 đưa điện thoại để bà C1 nói chuyện với T, sau khi thống nhất bà C1 đã nhiều lần chuyển đến tài khoản số [...] của bà L1 mở tại Ngân hàng A1 tổng số tiền 700.000.000 đồng. Theo bà L1 trình bày, bà L1 đã chuyển 300.000.000 đồng vào tài khoản 060146770005 của Nguyễn Ngọc T mở tại Ngân hàng S1 và đưa tiền mặt 400.000.000 đồng nhưng không ký giấy xác nhận. Nguyễn Ngọc T chỉ thừa nhận đã nhận chuyển khoản của bà L1 số tiền 300.000.000 đồng.

Ngày 18/7/2018, bà Huỳnh Dương Ngọc C (sinh năm 1984, thường trú: H L, phường F, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang) nhờ bà L1 liên hệ T đặt mua giúp 02 chiếc xe ô tô gồm xe Lexus 570 giá là 1.500.000.000 đồng và xe Camry 2.5Q năm 2016 giá 900.000.000 đồng. Bà L1 đưa điện thoại để bà C nói chuyện với T, sau khi thống nhất, bà C chuyển 2.700.000.000 đồng vào tài khoản số [...] của bà L1 mở tại Ngân hàng A1. Theo bà L1 trình bày, sau khi nhận tiền của bà C, bà L1 đã đưa tiền mặt cho T 2.700.000.000 đồng nhưng không ký giấy xác nhận. Tuy nhiên, Nguyễn Ngọc T chỉ thừa nhận bà L1 đưa cho T 850.000.000 đồng.

Ngày 17/7/2018, ông Vũ Sơn H3 nhờ bà L1 liên hệ đặt mua giúp 04 chiếc xe đã qua sử dụng gồm: Lexus LX570 với giá 1.400.000.000 đồng, xe Lexus ES350 với giá 950.000.000 đồng, xe Camry 2.5Q với giá 550.000.000 đồng và 01 xe T13 với giá 1.150.000.000 đồng. Ông H3 đã nhiều lần chuyển đến tài khoản do bà L1 đứng tên mở tại Ngân hàng A1 với tổng số tiền 3.455.000.000 đồng. Theo bà L1 trình bày sau khi nhận tiền của ông H3, bà L1 đã cùng T ra ngân hàng rút và giao cho T 3.500.000.000 đồng. Ngoài ra, ông H3 giao trực tiếp cho T số tiền 550.000.000 đồng, tổng số tiền T nhận mua xe cho ông Vũ Sơn H3 là 4.050.000.000 đồng, việc giao nhận tiền không ký giấy xác nhận. Tuy nhiên, Nguyễn Ngọc T chỉ thừa nhận bà L1 đưa cho T 2.000.000.000 đồng và ông H3 đưa cho T 550.000.000 đồng. Tổng số tiền T nhận để mua xe cho ông Vũ Sơn H3 là 2.550.000.000 đồng.

Ngày 06/9/2018, ông Nguyễn Trường P (sinh năm 1983; thường trú: C N, phường A, Thành phố T) đã trực tiếp thỏa thuận nhờ T đặt mua giúp ông P 02 chiếc xe Camry năm 2016. Do tin tưởng bà L1 nên ông P nói sẽ chuyển tiền vào tài khoản cho bà L1 để nhờ bà L1 đưa lại cho T. Sau khi thống nhất, cùng ngày ông P đã nhiều lần chuyển đến tài khoản do bà L1 đứng tên mở tại Ngân hàng V3 số tiền 1.600.000.000 đồng, số tiền 400.000.000 đồng, theo chỉ định của T, ông P chuyển vào tài khoản số 13310000020200 mở tại Ngân hàng B do Đỗ Mạnh H7 đứng tên chủ tài khoản.

Các ông bà Đỗ Thị N1, Huỳnh Dương Ngọc C, Trần Thị Mỹ C1, Vũ Sơn H3 và Nguyễn Trường P là những người nói chuyện trực tiếp với Nguyễn Ngọc T để thỏa thuận việc mua bán xe ô tô đã qua sử dụng nhưng lại chuyển tiền cho bà Đỗ Hoàng Mỹ L1 để nhờ bà L1 giao cho T, nên khi T không thực hiện đúng cam kết, không giao xe thì bà L1 đã tự lấy tiền cá nhân để trả cho bà Đỗ Thị N1 số tiền 1.500.000.000 đồng, bà Trần Thị Mỹ C1 số tiền 700.000.000 đồng, bà Huỳnh Dương Ngọc C số tiền 2.700.000.000 đồng, ông Vũ Sơn H3 số tiền 240.000.000 đồng.

Bị can T đã trả cho ông Vũ Sơn H3 số tiền 350.000.000 đồng, bà L1 số tiền 910.000.000 đồng.

Cuối tháng 7/2018, ông Đỗ Văn H2 (sinh năm 1986; thường trú: Đội 1 thôn P, xã Đ, huyện M, Quảng Ngãi), bà Nguyễn Thị Cẩm V (sinh năm 1990; thường trú: số B đường Đ, phường T, Thành phố T) nhờ bà Đỗ Hoàng Mỹ L1 liên hệ T đặt mua 03 chiếc xe ô tô, gồm xe ô tô hiệu Lexus LX470 giá 3.000.000.000 đồng, xe ô tô hiệu Lexus RX350 giá 1.500.000.000 đồng và xe ô tô hiệu Camry 2.5Q 900.000.000 đồng. Vào các ngày 25, 26/7/2018, bà V chuyển đến tài khoản của bà L1 mở tại Ngân hàng A1 số tiền lần lượt 3.000.000.000 đồng, 1.500.000.000 đồng và 900.000.000 đồng.

Ngày 28/8/2018, bà V đã chuyển khoản thêm cho bà L1 số tiền 535.000.000 đồng để đóng thuế cho 03 chiếc xe ô tô LX470, RX350, Camry 2.5 với số tiền lần lượt là 300.000.000 đồng, 220.000.000 đồng và 15.000.000 đồng. Ngày 13/9/2018, bà L1 nói với ông H2, bà V là T thông báo trong kho không còn chiếc xe ô tô LX470 mà chỉ còn chiếc xe ô tô LX570 nên sẽ đổi cho ông H2, bà V sang mua chiếc xe ô tô này nhưng ông H2 bà V phải bù thêm số tiền 600.000.000 đồng, ông H2, bà V đồng ý, nên ngày 13/9/2018, bà V chuyển khoản cho bà L1 số tiền 600.000.000 đồng. Tổng số tiền bà V chuyển khoản cho bà L1 để nhờ mua xe là 6.535.000.000 đồng. Theo bà L1 trình bày sau khi nhận số tiền mua xe của bà V và ông H2, bà L1 đã đưa tiền mặt cho T 4.0335.000.000 đồng, không ký giấy xác nhận. Tuy nhiên Nguyễn Ngọc T chỉ thừa nhận bà L1 đưa cho T 2.670.000.000 đồng. Ngoài ra, bà L1 trình bày ông H2 và bà V đã gặp Nguyễn Ngọc T để thỏa thuận việc mua xe nhưng bà V, ông H2 và T đều xác định không gặp và không biết nhau, chỉ đến khi việc giao xe không thể thực hiện thì ông H2 và bà V mới được bà L1 cho số điện thoại của T để hai bên nói chuyện.

Khi T không thực hiện đúng cam kết, không giao xe thì bà L1 đã tự lấy tiền cá nhân để trả cho ông Đỗ Văn H2 và bà Nguyễn Thị Cẩm V 300.000.000 đồng.

Sau khi nhận toàn bộ số tiền nêu trên, T không có xe giao cho người bị hại. Để họ tin, T nói việc giao xe bị trễ một phần là do giá mua xe quá rẻ, phải chi phí nhiều cơ quan ban ngành. Do bị thúc ép việc giao xe, nên tháng 9/2018, T giao cho bà L1 01 chiếc xe ô tô hiệu Audi, màu đen, biển số 51F – 962.35 (do ông Phạm Văn L4 đứng tên không phải của T); 1 chiếc xe ô tô hiệu Lexus LX570, màu trắng, biển số 51F – 863.64 (do T thuê). Sau đó T giao chiếc xe ô tô hiệu Toyota Land Cruiser Prado, biển số 51F – 568.51 rồi lấy chiếc xe Lexus LX570 về, còn chiếc xe ô tô hiệu Toyota Land Cruiser Prado, biển số 51F – 568.51 hiện bà L1 đang sử dụng. Chiếc xe ô tô hiệu Audi, màu đen, biển số 51F – 962.35 bà L1 đã giao nộp cho Cơ quan điều tra.

Bên cạnh việc chiếm đoạt tiền mua xe ô tô thanh lý giá rẻ nêu trên, trong thời gian từ khoảng tháng 7 đến tháng 8/2018, T còn đưa ra thông tin gian dối, nói với bà L1, T được người quen tặng lô đất tại tỉnh Đồng Nai nhưng do lô đất này đang được thế chấp tại Ngân hàng nên T đề nghị bà L1 đưa cho T số tiền 400.000.000 đồng để T giải chấp, sau khi giải chấp xong, T sẽ giao giấy tờ bản chính cho bà L1. Tin tưởng T, nên ngày 31/7/2018, bà L1 đã giao cho T số tiền 400.000.000 đồng. T tiếp tục nói với bà L1, T có thể mua được căn hộ chung cư của Bộ C5 tại đường T, Thành phố T với giá 700.000.000 đồng một căn và mua được nhà biệt thự tại khu V, quận B với giá giảm 40%. Tin tưởng T nên bà L1 giao cho T 310.000.000 đồng đặt cọc để nhờ T mua giúp 31 căn hộ chung cư của Bộ C5 tại đường T và 2.500.000.000 đồng để đặt cọc và làm nội thất bên trong biệt thự số 38 khu V, quận B. Tổng số tiền bà L1 giao cho T để đặt cọc mua nhà, đất và bị chiếm đoạt là 3.210.000.000 đồng.

Như vậy, Với thủ đoạn giả danh cán bộ Công an, quen biết nhiều, có khả năng mua được nhà đất, căn hộ, biệt thự giá rẻ (giá nội bộ) và có nguồn xe ô tô thanh lý giá rẻ, Nguyễn Ngọc T đã lừa đảo chiếm đoạt của bà Đỗ Hoàng Mỹ L1 tổng số tiền 8.780.000.000 đồng (bao gồm 2.900.000.000 đồng bà L1 giao để mua xe, 3.210.000.000 đồng bà L1 đặt cọc để mua nhà, đất và 2.670.000.000 đồng của ông Đỗ Văn H2 và bà Nguyễn Thị Cẩm V nhờ bà L1 đặt mua xe), chiếm đoạt của ông Vũ Sơn H3 số tiền 2.550.000.000 đồng, chiếm đoạt của bà Huỳnh Dương Ngọc C số tiền 850.000.000 đồng, chiếm đoạt của bà Đỗ Thị N1 số tiền 550.000.000 đồng, chiếm đoạt của bà Trần Thị Mỹ C1 số tiền 300.000.000 đồng và chiếm đoạt của ông Nguyễn Trường P số tiền 2.000.000.000 đồng. Nguyễn Ngọc T đã chiếm đoạt của các bị hại tổng số tiền 15.030.000.000 đồng.

Vụ thứ hai: Bà Trần Thị P1 (sinh năm 1060, nơi cư trú tại số D P, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). Đang tham gia giải quyết vụ tranh chấp quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với tài sản là căn nhà tọa lạc tại địa chỉ số A N, Phường G, Quận C, Thành phố Hồ chí Minh. Thông qua ông Hoàng Vũ Huy L5 bà P1 biết và gặp Nguyễn Ngọc T (L) được giới thiệu đang làm tại Bộ C5. T yêu cầu nếu bà P1 muốn thanh tra xem xét lại đối với căn nhà trên thì phải gửi chi phí cho T với số tiền ban đầu là 2.500.000.000 đồng, bà P1 đồng ý và chuyển khoản cho ông L5 rồi ông L5 sẽ chuyển lại cho T, tất cả đều đồng ý.

Trong vụ việc nhờ T lo giúp vụ kiện nêu trên, bà P1 có đề nghị ông Nguyễn Quang V2 (sinh năm 1959; nơi cư trú: thôn T, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh) cùng hợp tác với bà P1 đưa tiền cho T để giải quyết vụ kiện này, nếu thắng kiện thì các bên sẽ chia nhau trong số tiền 50% mà bà P1 sẽ được hưởng, ông V2 đồng ý. Sau đó, bà P1 có dẫn ông V2 đi gặp T, tại đây T có nói thêm về việc có suất mua thanh lý giá rẻ căn nhà A Đ, phường A, quận P, giá bán gốc là 5.700.000.000 đồng (bán ra thị trường được khoảng 23.000.000.000 đồng), nếu đồng ý thì đặt cọc trước cho T số tiền 2.700.000.000 đồng. Tin lời T, từ ngày 14/5/2019 đến ngày 16/6/2019 bà P1 đã chuyển tiền cho L5 để đưa cho T 9.977.000.000 đồng. Trong đó số tiền 2.700.000.000 đồng là của ông V2 đưa cho T để mua căn nhà 14 Đoàn Thị Đ1, số tiền 2.300.000.000 đồng là của ông V2 hùn với bà P1 tham gia giải quyết vụ kiện tranh chấp căn nhà 175 N, còn lại số tiền 4.977.000.000 đồng là của bà P1.

Qua tìm hiểu, bà P1 được biết những thông tin T đưa ra là gian dối, T không phải là Công an, nên yêu cầu T trả lại tiền. Từ tháng 11/2019 đến ngày 06/4/2020, T chuyển khoản trả cho bà P1 để bà P1 trả lại cho ông V2 được số tiền 2.557.000.000 đồng, còn số tiền 7.420.000.000 đồng T chiếm đoạt.

Vụ thứ ba: Khoảng tháng 4/2019, thông qua nhà báo Dư Văn H8 (bút danh Dư H8), ông Đặng Quốc T2 có điện thoại cho Nguyễn Ngọc T, T giới thiệu đang kinh doanh xăng dầu, được phép nhập khẩu trực tiếp xe ô tô và được khấu trừ tiền thuế nên giá sẽ rẻ hơn giá bán tại S và giới thiệu cho ông T2 mua 01 chiếc xe ô tô hiệu Mitsubishi Xpander 01 cầu, T đưa ra giá bán là 535.000.000 đồng một chiếc, đã hoàn thiện giấy tờ, ông T2 đồng ý. Từ ngày 17/4/2019 đến ngày 22/10/2019, ông T2 đã chuyển tiền vào tài khoản số [...] của Nguyễn Ngọc T, mở tại S1 số tiền 376.000.000 đồng, Tháng 3/2020, do ông T2 tiếp tục liên hệ nhờ T mua thêm 01 chiếc xe ô tô hiệu Mitsubishi Xpander. Sau khi thống nhất, ông T2 đã chuyển vào tài khoản số [...] của Nguyễn Ngọc T, mở tại S1 số tiền 535.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, T nói dối do bị vướng thủ tục đăng ký khi nhập khẩu để kéo dài thời gian, thực tế T không có xe để giao và dùng số tiền mua xe của ông T2 để tiêu xài cá nhân. Tổng số tiền Nguyễn Ngọc T chiếm đoạt của ông T2 là 911.000.000 đồng.

Vụ thứ tư: Thông qua ông Nguyễn Thanh T10 (sinh ngày 20/3/1966; nơi cư trú số 243 N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định), ông Nguyễn Minh P2 (sinh năm 1974; cư trú tại số D Lô H Cư xá T, phường B, quận B) có gặp và quen biết Nguyễn Ngọc T. Ngày 02/12/2017, T có điện thoại cho ông P2 nói hiện đang có 01 suất ưu đãi mua căn hộ giá rẻ tại Khu đô thị V, quận B do T giải quyết giúp các thủ tục pháp lý tại Khu đô thị này nên T mới có được suất ưu đãi. Giá bán căn hộ ưu đãi này là 1.700.000.000 đồng, nếu ông P2 có tiền thì đặt cọc trước cho T số tiền khoảng 1.000.000.000 đồng đến 1.200.000.000 đồng thì T sẽ làm thủ tục chuyển nhượng và bàn giao căn hộ này cho ông P2. Ông P2 tin tưởng nên từ ngày 02/12/2017 đến ngày 22/10/2019, đã đưa cho T 960.000.000 đồng. Do đây chỉ là thông tin gian dối, nên khi ông P2 yêu cầu T dẫn đi xem nhà thì T viện nhiều lý do để kéo dài thời gian, sau đó do sợ ông P2 phát hiện, T tiếp tục nói dối thủ tục bàn giao căn hộ gặp trục trặc, nên trả lại tiền cho ông P2, còn lại 260.000.000 đồng T chiếm đoạt.

Vụ thứ năm: Thông qua các mối quan hệ ngoài xã hội, ông Võ Nguyễn Nhật T3 (sinh năm 1985; nơi cư trú số C ấp T, xã B, huyện H) quen biết với T. Từ khoảng tháng 01/2019 đến khoảng tháng 10/2019, T nhiều lần đưa ra thông tin gian dối về việc T có khả năng mua được xe mô tô 3 bánh, xe ô tô thanh lý giá rẻ, lô đất giá rẻ tại huyện H và làm được giấy tờ đất tại huyện H, tin tưởng T nên ông T3 cùng với người bạn bà Phan Thị Hồng V1 (sinh năm 1985; thường trú số E Khu phố C, thị trấn H, huyện H) đã chuyển tiền cho T để nhờ T mua giúp xe mô tô và đất nền, cụ thể như sau:

T đưa ra thông tin Công an quận B đang thanh lý loại xe Ca Nam 3 bánh với giá 190.000.000 đồng một chiếc và loại xe Gowing với giá 90.000.000 đồng một chiếc (đã bao gồm chi phí làm thủ tục thanh lý). Nếu T tự đứng ra mua thì mới có giá bán thanh lý như nêu trên, còn giá ngoài thị trường cao hơn nhiều, toàn bộ thủ tục sẽ do T đứng ra làm giúp ông T3, T cam kết khoảng 3 tháng sau sẽ xong và bàn giao xe. Ông T3 tin tưởng đồng ý và đã chuyển cho T số tiền 280.000.000 đồng để mua 02 chiếc xe nêu trên.

T tiếp tục đưa ra thông tin bên ngành Công an đang thanh lý lô xe ô tô gồm 25 chiếc hiệu Ford Ranger với giá 350.000.000 đồng một chiếc và 06 chiếc xe hiệu Ford F150 với giá khoảng 1.800.000.000 đồng một chiếc. Ông T3 không đủ tiền mua lô xe này nên đã rủ bà Phan Thị Hồng V1 cùng hùn vốn mỗi người 50%, ông T3 có dẫn bà V1 đi gặp T để trao đổi cụ thể việc mua lô xe ô tô nêu trên. Sau khi gặp nhau, T yêu cầu ông T3 và bà V1 phải đặt cọc trước số tiền 50%, khi nào làm xong giấy tờ lô xe thì sẽ phải đưa số tiền còn lại. Tin tưởng T, ông T3 và bà V1 nhiều lần đưa tiền cho T với tổng số tiền 4.000.000.000 đồng để đặt cọc mua lô xe ô tô này (trong đó ông T3 là 2.000.000.000 đồng, số tiền của bà V1 là 2.000.000.000 đồng).

Trong khi mua bán xe, T nói cho ông T3 và bà V1 biết T có khả năng đứng ra mua được 03 lô đất giá rẻ tại huyện H và mua thanh lý căn nhà tại số A Đ, quận P, nếu ông T3, bà V1 đồng ý thì T sẽ đứng ra mua giúp với giá tổng cộng là 6.000.000.000 đồng, nhưng phải đặt cọc trước cho T số tiền 3.000.000.000 đồng tương ứng 50%. Tin là có thật, bà V1 đã đưa 3.000.000.000 đồng cho T.

Cùng thời gian này, ông T3 có căn nhà không xin phép xây dựng được nên nhờ T làm thủ tục xin giấy phép xây dựng, T hứa hẹn sẽ làm được thủ tục xin giấy phép xây dựng và yêu cầu ông T3 đưa cho T số tiền 116.000.000 đồng. Sau đó, ông T3 tiếp tục liên hệ nhờ T làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với căn nhà của mẹ ruột ông T3, T hứa hẹn sẽ làm được và yêu cầu ông T3 đưa số tiền chi phí là 450.000.000 đồng, tin tưởng là thật nên ông T3 đã chuyển số tiền này cho T. Đồng thời, bà V1 liên hệ nhờ T làm thủ tục tách thửa và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất riêng từng lô đất do mẹ ruột của bà V1 đứng tên trên giấy chứng nhận, T yêu cầu bà V1 đưa số tiền 500.000.000 đồng, tin tưởng T, bà V1 đã chuyển số tiền này cho T. Bên cạnh đó, T còn tiếp tục giới thiệu sẽ mua giúp bà V1 lô đất thanh lý giá rẻ gần bên Nhà thiếu nhi huyện H với giá 500.000.000 đồng, bà V1 đã tin và chuyển cho T số tiền này.

T giới thiệu cho ông T3 và bà V1 đứng ra mua 03 chiếc xe ô tô do Lãnh sự quán N3 tặng cho T, nếu ông T3 và bà V1 đồng ý mua thì chỉ cần đưa cho T số tiền 350.000.000 đồng để đóng thuế, T cam kết khoảng nửa tháng sau sẽ hoàn tất thủ tục. Tin tưởng T, ông T3 và bà V1 đồng ý chuyển tiền cho T. Sau khi chuyển tiền, T tiếp tục nói hiện Lãnh sự quán Nhật còn 02 chiếc xe ô tô nữa, nếu ông T3 và bà V1 muốn mua thì tiếp tục chuyển số tiền 350.000.000 đồng cho T để T làm thủ tục đóng thuế. Tin tưởng T nên ông T3 và bà V1 tiếp tục chuyển cho T số tiền 350.000.000 đồng. Trong vụ này, T đã chiếm đoạt của ông T3 số tiền 3.196.000.000 đồng và chiếm đoạt của bà V1 số tiền 6.350.000.000 đồng.

Đối với chiếc xe ô tô hiệu Toyota Prado biển số 51H – 519.55, ông T3 tố cáo đã đưa T số tiền 1.728.000.000 đồng đặt mua xe để Trần Quốc T6 đứng tên cho thuê thông qua T. Sau một thời gian, ông T6 đã bán xe ô tô trên cho người khác và T cũng không trả tiền mua xe và tiền thuê xe cho ông T3. Tuy nhiên T và T6 cho rằng số tiền 1.728.000.000 đồng mua xe không phải của T3, mà do T6 chuyển cho ông T3 để đặt mua. Do vậy, trong vụ việc này chưa đủ căn cứ để xác định có dấu hiệu của tội phạm hình sự.

Vụ thứ sáu: Thông qua người bạn quen biết tên Võ Nguyễn Nhật T3 (sinh ngày 26/02/1985; nơi cư trú: C ấp T, xã B, huyện H) và Phan Thị Hồng V1 (sinh ngày 21/7/1985; nơi cư trú: E khu phố C, thị trấn H, huyện H), bà Đinh Thụy Tường L3 mới quen biết T. Tháng 8/2019, T đưa ra thông tin không có thật về dự án khu nhà ở xã hội nằm trên đường T (huyện H đối diện Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện H) là dự án dành cho cán bộ công chức, viên chức công tác trên địa bàn huyện H chưa có nhà ở, ưu tiên cho cán bộ trong ngành giáo dục, y tế. T có mối quan hệ quen biết với ông T11 là Chủ tịch UBND huyện H nên T mới biết được dự án này, T còn nói dối đây là dự án do Chính phủ tài trợ và căn dặn bà L3 không được nói cho nhiều người biết vì đây là thông tin nội bộ. Nếu bà L3 đồng ý thì T sẽ chuyển nhượng lại cho bà L3 với giá 150.000.000 đồng một nền (dự án có 126 nền), riêng phần của T là 22 nền, T cam kết đến khoảng cuối năm 2019 sẽ có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất riêng từng nền, khi nào có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ sang tên qua cho bà L3. T còn chở bà L3 đến xem thực tế khu đất này, tới nơi bà L3 thấy có nhiều người đang thi công san ủi mặt bằng, làm đường, phân lô đất nền, tin tưởng T là Công an, nên bà L3 đồng ý mua, sau đó bà L3 còn giới thiệu cho bà Nguyễn Thị Kim C4 (sinh năm 1973; địa chỉ: 2 ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh) về việc mua được nền đất giá rẻ tại dự án khu nhà ở xã hội nằm trên đường T (huyện H đối diện Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện H), bà C4 đã đồng ý và chuyển cho bà L3 500.000.000 đồng để mua 02 nền đất thuộc dự án trên. Từ ngày 07/8/2019 đến ngày 27/8/2019, Bà L3 chuyển 2.350.000.000 đồng vào tài khoản Nguyễn Ngọc T mở tại Ngân hàng S1. Ngoài ra, bà L3 còn đưa cho T 950.000.000 đồng tiền mặt. Tổng cộng, bà L3 đã đưa cho T số tiền 3.300.000.000 đồng.

Tháng 8/2019, T tiếp tục đưa ra thông tin (có 01 suất ưu tiên mua căn hộ) tại chung cư T, địa chỉ: A T, phường T, quận A, giá bán 900.000.000 đồng một căn, cộng thêm tiền làm nội thất khoảng hơn 200.000.000 đồng. T sẽ đứng ra mua cho bà L3. Từ ngày 15/8/2019 đến ngày 10/9/2019, bà L3 đã nhiều lần chuyển khoản cho T tổng số tiền 1.120.000.000 đồng để mua căn hộ trên. Sau đó, T lại đề nghị bà L3 chuyển qua mua căn hộ chung cư khác, nhưng bà L3 không đồng ý và yêu cầu T hoàn trả lại số tiền 1.120.000.000 đồng. T hoàn trả lại cho bà L3 số tiền 660.000.000 đồng, riêng số tiền 460.000.000 đồng thì T hứa hẹn sẽ trả lại nhưng đến nay vẫn chưa trả cho bà L3. Tổng cộng T đã chiếm đoạt của bà L3 số tiền 3.760.000.000 đồng.

Vụ thứ bảy: Bà Nguyễn Thị Cẩm H5 (sinh năm 1955; nơi cư trú: A ấp T, xã T, huyện H) là mẹ ruột của bà Lê Thị Thanh T5 (sinh năm 1982; nơi cư trú: A ấp T, xã T, huyện H).

Năm 2018, gia đình bà H5 nộp hồ sơ làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng vẫn chưa được giải quyết. Tháng 10/2019, thông qua một người đàn ông tên Lê Bá L6 (không rõ lai lịch) giới thiệu, bà H5 biết Nguyễn Ngọc T, T giới thiệu là công an, quen biết Lãnh đạo của thành phố V, có khả năng hoàn tất thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên và yêu cầu bà H5 chuyển tiền để đóng thuế. Tin tưởng T là Công an, bà H5 đã đưa tiền mặt 500.000.000 đồng cho T, chuyển tiền đến tài khoản 606146770005 của Nguyễn Ngọc T mở tại Ngân hàng S1 tổng số tiền 3.460.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, T dùng tiêu xài cá nhân và trả nợ bạn bè ngoài xã hội.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hanh vi phạm tội như đã nêu trên (bút lục 484-519; 2575-2579).

Trách nhiệm dân sự:

Bà Đỗ Hoàng Mỹ L1 đã dùng tiền của cá nhân trả cho bà Đỗ Thị N1 số tiền 1.500.000.000 đồng, trả cho bà Trần Thị Mỹ C1 số tiền 700.000.000 đồng, trả bà Huỳnh Dương Ngọc C số tiền 2.700.000.000 đồng, ông Vũ Sơn H3 số tiền 240.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Cẩm V và ông Đỗ Văn H2 số tiền 300.000.000 đồng. Bị can T đã khắc phục hậu quả cho ông Vũ Sơn H3 số tiền 350.000.000 đồng, bà L1 số tiền 910.000.000 đồng, nên ông H3, bà N1, bà C1, bà C không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Ông Đỗ Văn H2, bà Nguyễn Thị Cẩm V yêu cầu bà Đỗ Hoàng Mỹ L1 trả số tiền 6.235.000.000 đồng; Nguyễn Ngọc T đã trả lại cho ông Nguyễn Trường P 2.000.000.000 đồng, ông P không yêu cầu bồi thường thiệt hại; Bà Đỗ Hoàng Mỹ L1 yêu cầu T bồi thường số tiền đã chiếm đoạt của bà L1 và những bị hại khác mà bà L1 phải lấy tiền cá nhân để trả cho họ là 18.555.000.000 đồng.

Bà Trần Thị P1 yêu cầu bồi thường số tiền 7.420.000.000 đồng.

Ông Đặng Quốc T2 yêu cầu bồi thường số tiền 911.000.000 đồng.

Ông Nguyễn Minh P2 yêu cầu bồi thường số tiền 260.000.000 đồng.

Ông Võ Nguyễn Nhật T3 yêu cầu bồi thường số tiền 3.196.000.000 đồng;

Bà Đinh Thụy Tường L3 yêu cầu bồi thường số tiền 3.760.000.000 đồng.

Bà Nguyễn Thị Cẩm H5 yêu cầu bồi thường số tiền 3.460.000.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

[1] Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g,b khoản 1 Điều 52; điểm s, b khoản 1 Điều 51; Điều 39; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T: Tù chung thân về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2020.

[2] Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 584, Điều 585, Điều 589 của Bộ luật Dân sự 2015

Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T bồi thường cho các bị hại số tiền cụ thể như sau:

  • -Bà Trần Thị P1 số tiền 7.420.000.000 đồng;
  • -Ông Đặng Quốc T2 số tiền 911.000.000 đồng;
  • -Ông Nguyễn Minh P2 số tiền 260.000.000 đồng;
  • -Ông Võ Nguyễn Nhật T3 số tiền 3.196.000.000 đồng;
  • -Bà Phan Thị Hồng V1 số tiền 6.350.000.000 đồng;
  • -Bà Đinh Thụy Tường L3 số tiền 3.760.000.000 đồng;
  • -Bà Nguyễn Thị Cẩm H5 số tiền 3.460.000.000 đồng;
  • -Bà Đỗ Hoàng Mỹ L1 số tiền 9.570.000.000 đồng;
  • -Ông Vũ Sơn H3 số tiền 2.550.000.000 đồng.

Buộc bà Đỗ Hoàng Mỹ L1 hoàn trả cho:

  • -Ông Đỗ Văn H2 và bà Nguyễn Thị Cẩm V số tiền 6.235.000.000 đồng;
  • -Ông Vũ Sơn H3 số tiền 1.215.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo và việc thi hành án theo luật định.

Ngày 15/01/2024 bị hại bà Đỗ Hoàng Mỹ L1 kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự của vụ án.

Ngày 10/01/2024 bị hại ông Vũ Hải S kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự của vụ án và đề nghị xem lại vai trò đồng phạm của bà L1.

Ngày 16/01/2024 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn H2 và bà Nguyễn Thị Cẩm V kháng cáo yêu cầu hủy một phần bản án sơ thẩm để điều tra lại phần liên quan đến số tiền 6.535.000.000 đồng mà ông bà bị thiệt hại vì cho rằng chính bà L1 đã lừa ông, bà.

Đồng thời các bị hại và người liên quan đều kháng cáo đề nghị xem xét trách nhiệm đối với bà Đỗ Hoàng Mỹ L1 với vai trò đồng phạm.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:

Trong vụ án này, bản án sơ thẩm đã xét xử là có căn cứ và đúng pháp luật. Kháng cáo của những người bị hại L1, H3 và người liên quan ông H2, bà V là không có cơ sở, đề nghị bác tất cả yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

*Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người bị hại có quan điểm như sau:

-Về phần trách nhiệm dân sự của bà L1: Bà L1 không có trách nhiệm phải trả những khoản tiền này vì bà chỉ là người giới thiệu; bản thân bà L1 cũng là người mua xe và bà cũng là người bị hại trong vụ án; sau khi nhận tiền từ những người giới thiệu, bà L1 đã chuyển hết số tiền đã nhận cho bị cáo T. Điều này đã được thể hiện tại Vi bằng và các tin nhắn điện thoại qua lại giữa bà L1 và bị cáo T.

-Đối với số tiền của ông H2, bà V bà L1 thừa nhận đã nhận số tiền này và cũng đã chuyển nhiều lần cho bị cáo T. Bà L1 không giữ lại bất cứ số tiền nào.

-Bản án sơ thẩm tuyên số tiền trách nhiệm dân sự đối với bị cáo T là không đúng vì bà L1 đã có tất cả các bản sao kê số tiền bị cáo T đã nhận. Trong khi đó, bị cáo T luôn thay đổi lời khai về số tiền đã nhận và chiếm đoạt.

Đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà L1 về nội dung này, riêng yêu cầu kháng cáo về việc bà L1 có liên quan đến bị hại là không có căn cứ.

*Luật sư bảo vệ cho người có quyền, nghĩa vụ liên quan ông H2, bà V phát biểu quan điểm như sau:

-Đề nghị xác định số tiền của ông H2, bà V là liên quan đến tội phạm.

-Cơ quan điều tra và Tòa án cấp sơ thẩm đã bỏ lọt tội phạm đối với bà L1; căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã thu thập cho thấy bị cáo T không biết và không giao dịch với ông H2, bà V; trong khi đó ông H2 bà V chỉ biết và giao tiền cho bà L1, vì vậy ông H2 bà V là bị hại trong vụ án. Bà L1 đã đưa ra những hứa hẹn và thông tin không đúng để ông H2, bà V tin, giao tiền. Sau đó, chính bà L1 tiếp tục đưa ra nhiều thông tin không đúng về xe, cụ thể: xe đã nhập về đang để tại gara...., nhưng trên thực tế thì không có chiếc xe nào.

Đề nghị hủy một phần bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về xác định tư cách tố tụng:

Trong vụ án này, theo nội dung Cáo trạng truy tố và bản án sơ thẩm xác định: bị cáo Nguyễn Ngọc T thừa nhận hành vi đưa ra thông tin gian dối với bà Đỗ Hoàng Mỹ L1 và các bị hại rằng mình là cán bộ công an, hiện công tác trong ngành (đang giữ chức vụ Phó Thanh tra – Bộ C5) có khả năng mua được xe ô tô thanh lý, nhà đất, căn hộ, biệt thự giá rẻ (giá nội bộ) để các bị hại tin tưởng giao tiền cho bị cáo để mua xe ô tô thanh lý, mua nhà giá rẻ và giải quyết giấy tờ nhà đất qua đó nhận tiền từ các bị hại và chiếm đoạt.

Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã thu thập gồm: lời khai của bị cáo T, bà Đỗ Hoàng Mỹ L1 và tất cả các bị hại và người được cấp sơ thẩm xác định là người có quyền, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn H2, bà Nguyễn Thị Cẩm V đã thể hiện:

Bà L1 trình bày rằng: Do bà tin tưởng bị cáo T, vì vậy đã giới thiệu với những người bị hại và ông Đỗ Văn H2, bà Nguyễn Thị Cẩm V (bản án sơ thẩm xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) về nội dung bị cáo T là cán bộ trong ngành Công an có thể mua xe giá rẻ. Những người bị hại và ông H2, bà V đã tin tưởng giao tiền và sau đó đã bị chiếm đoạt. Bà cũng khai rằng, sau khi nhận tiền của những người này bà đã giao lại cho bị cáo T.

Như vậy, ở trường hợp này ông Đỗ Văn H2 và bà Nguyễn Thị Cẩm V vì đã tin vào thông tin gian dối do bà L1 truyền đạt, đã giao tiền và sau đó bị chiếm đoạt nên cần phải được xác định là người bị hại trong vụ án. Việc cấp sơ thẩm xác định họ tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng. Điều này đã ảnh hưởng đến quyền tố tụng của ông H2, bà V.

[1.2] Về phạm vi giải quyết:

Bản án sơ thẩm xác định bị cáo T đã có hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của những người bị hại gồm:

Bà Trần Thị P1, Ông Đặng Quốc T2, Ông Nguyễn Minh P2, Ông Võ Nguyễn Nhật T3, Bà Phan Thị Hồng V1, Bà Đinh Thụy Tường L3, Bà Nguyễn Thị Cẩm H5, Bà Đỗ Hoàng Mỹ L1 và Ông Vũ Sơn H3. Riêng đối với số tiền 6.235.000.000 đồng ông H2, bà V1 biết thông tin mua bán xe thanh lý qua bà Đỗ Hoàng Mỹ L1, không biết Nguyễn Ngọc T, do tin tưởng bà L1 nên đã nhiều lần chuyển tiền cho bà L1 để đặt mua xe. Như vậy, theo nhận định này của Tòa án cấp sơ thẩm thì số tiền của ông H2, bà V1 bị cáo T không chiếm đoạt và không liên quan đến tội phạm trong vụ án này. Tuy nhiên, quyết định của bản án sơ thẩm đã giải quyết và tuyên buộc người bị hại bà Đỗ Hoàng Mỹ L1 phải trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H2, bà V1 là giải quyết vượt quá thẩm quyền.

[2] Về thu thập chứng cứ:

Trong vụ án này, đối với hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của người bị hại ông Vũ Sơn H3 thấy rằng: Bản án sơ thẩm xác định, vì tin tưởng nên ông H3 nhờ bà L1 liên hệ đặt mua xe. Ông H3 đã chuyển trực tiếp nhiều lần tiền vào tài khoản của bà L1 mở tại Ngân hàng A1 với số tiền tổng cộng là 3.500.000.000 đồng và giao trực tiếp cho bị cáo T số tiền là 550.000.000 đồng. Bà L1 khai số tiền này sau đó đã giao toàn bộ cho bị cáo T, tuy nhiên bị cáo T không thừa nhận đã nhận toàn bộ số tiền trên, mà chỉ thừa nhận đã nhận từ bà L1 số tiền 2.000.000.000 đồng và nhận từ ông H3 số tiền 550.000.000 đồng. Bà L1 không chứng minh được rằng đã giao hết số tiền nhận từ ông H3 cho bị cáo T.

Như vậy, cần phải làm rõ tại sao bà L1 lại giữ lại số tiền còn lại là 1.215.000.000 đồng mà không giao trả lại cho ông H3; động cơ, mục đích là gì?

Đặc biệt, đối với trường hợp ông Đỗ Văn H2, bà Nguyễn Thị Cẩm V cho thấy: mặc dù không phải là người có khả năng mua xe nhưng bà L1 vẫn đưa ra thông tin để ông H2, bà V tin tưởng giao tiền nhiều lần. Quá trình tin và chuyển tiền, ông H2 và bà V không hề gặp hay tiếp xúc với bị cáo T. Bên cạnh đó, theo cáo trạng truy tố xác định: Ngày 13/9/2018, bà L1 nói với ông H2, bà V là T thông báo trong kho không còn chiếc xe LX470 mà chỉ còn chiếc xe ô tô LX570 nên sẽ đổi cho ông H2, bà V sang mua chiếc xe này nhưng ông H2, bà V phải bù thêm số tiền 600.000.000 đồng nữa, ông H2 bà V đồng ý và đã giao thêm cho bà L1 số tiền này. Đây là nội dung quan trọng cần phải làm rõ, tuy nhiên quá trình điều tra đã chưa thu thập, làm rõ vấn đề này. Các lời khai của bà L1 bà cho rằng: đã giao toàn bộ số tiền trên cho bị cáo T, nhưng bị cáo T không thừa nhận việc đã nhận toàn bộ, mà chỉ nhận số tiền là 2.670.000.000 đồng.

Như vậy, ở trường hợp này cần tiến hành điều tra làm rõ: Thông tin về việc đổi xe là từ bị cáo T hay bà L1; giữa bị cáo T và bà L1 có trao đổi về việc này hay không. Việc nhận thêm số tiền 600.000.000 đồng này bị cáo T có biết hay được bà L1 trao đổi không? Cần điều tra làm rõ rằng: tại sao bà L1 lại đưa ra thông tin đối với ông H2, bà V là đã có xe nhập về, xe đang ở gara, nhưng thực tế là không có xe. Như vậy, động cơ, mục đích của bà L1 trong việc đưa ra những thông tin này là gì?

Đồng thời, về số tiền chiếm đoạt của ông H2, bà V, cáo trạng xác định bị cáo bị cáo T thừa nhận đã nhận số tiền 2.670.000.000 đồng thì lẽ ra cấp sơ thẩm cần phải tuyên buộc bị cáo T phải có trách nhiệm hoàn trả cho ông H2, bà V và đồng nghĩa với việc phải xác định tư cách tố tụng của ông H2, bà V là người bị hại đối với số tiền này. Và vì vậy, số tiền chiếm đoạt của bị cáo T sẽ được cộng luôn cả số tiền của ông H2, bà V là 2.670.000.000 đồng mới đúng. Việc cấp sơ thẩm buộc bà L1 phải hoàn trả cho ông H2, bà V toàn bộ số tiền 6.235.000.000 đồng là không phù hợp và có mâu thuẫn.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã trả hồ sơ điều tra bổ sung về dấu hiệu tội phạm đối với bà Đỗ Hoàng Mỹ L1 là phù hợp. Nhưng quá trình điều tra lại đã không được thực hiện một cách toàn diện và triệt để như đã nhận định ở trên, vì vậy chưa đảm bảo việc thu thập đầy đủ chứng cứ để việc giải quyết vụ án một cách đúng pháp luật.

[3] Tóm lại: Do trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm vụ án này đã có nhiều thiếu sót. Những thiếu sót này đã ảnh hưởng đến việc giải quyết đúng đắn vụ án mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Vì vậy, cần hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.

[4] Quan điểm của các Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông H2, bà V là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; khoản 1 Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự năm.

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Vũ Sơn H3, ông Đỗ Văn H2, bà Nguyễn Thị Cẩm V và một phần yêu cầu kháng cáo của bà Đỗ Hoàng Mỹ L1.

Hủy toàn bộ bản án số 10/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra và giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. HCM;
  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - Cục THADS TP. HCM;
  • - Công an TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - Trại tạm giam TP. HCM
  • - Trại tạm giam TP. HCM (Tống đạt cho bị cáo)
  • - BH, NLQ;
  • - Lưu: HS, VP, 18NThuy.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Công Mười

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Đức Toàn

Nguyễn Thị Thanh

Phạm Công Mười

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 730/2024/HS-PT ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 730/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc Thiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger