Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2024/HS-PT

Ngày 31-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Quang Kiên

Bà Bùi Thị Thuý Hà

- Thư ký phiên toà:

Bà Bùi Thị Thu Hương- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa:

Bà Đồng Thị Lan Anh- Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 25/2024/TLPT-HS ngày 23 tháng 02 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Bá T và Vũ Văn T1 do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Bá T, sinh ngày 07 tháng 12 năm 2006 tại Hải Phòng (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 15 tuổi 10 tháng 19 ngày). Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá D và bà Trần Thị M; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 29 tháng 3 năm 2023; có mặt.
  2. Vũ Văn T1, sinh ngày 10 tháng 6 năm 2004 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn M1 và bà Đào Thị T2; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 31tháng 3 năm 2023, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh ngày 21 tháng 4 năm 2023; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Bá T: Ông Nguyễn Bá D, sinh năm 1979 và bà Trần Thị M, sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; là bố và mẹ của bị cáo. Ông D có mặt, bà M vắng mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Bá T:

  1. Bà Nguyễn Thị Thu T3 là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.
  2. Ông Bùi Quốc T4, Luật sư của Công ty L và Đồng nghiệp thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 26/10/2022, Phạm Hoàng V điều khiển xe mô tô BKS 15AK-036.61 chở Nguyễn Bá T; Đặng Đình D1 điều khiển xe đạp điện; cùng đi từ Trường Trung học phổ thông N đến xã H để cắt tóc. Cả ba đi đến đầu làng thôn P, xã H, huyện V thì gặp Tống Quốc H đang điều khiển xe mô tô (không nhớ biển kiểm soát) chở bạn là Phạm Thanh T5 đi cùng chiều. Do nghi ngờ H lấy trộm điện thoại di động của Nguyễn Bá H1 ở cùng thôn với T, nên T hỏi H tại sao lấy trộm điện thoại của H1. H trả lời không lấy. T và H cãi chửi, thách thức đánh nhau, thì bị người dân đuổi đi, nên H bảo T: “Mày thích ở chỗ nào?”. T nói: “Đâu cũng được”. H điều khiển xe mô tô chở T5 hướng về phía chợ G thuộc xã H. V điều khiển xe mô tô BKS 15AK- 036.61 chở T. D1 điều khiển xe đạp điện đi sau H. Khi đi đến cổng chợ G, T gặp Vũ Văn T1. T rủ T1 đi cùng để hỗ trợ. T1 đồng ý. Sau đó, nhóm của T và nhóm của H đi đến đoạn đường thuộc cánh đồng thôn P, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng. Tại đây, T và H tiếp tục cãi chửi nhau. H lấy mũ bảo hiểm bằng nhựa cứng màu vàng đen của T5 đang treo trên xe mô tô do H điều khiển, còn T lấy mũ bảo hiểm bằng nhựa cứng màu đỏ mà D1 đang đội trên đầu, lao vào đánh nhau. H dùng mũ bảo hiểm đập 01 cái vào đầu T. Lúc này, T vẫn đội mũ bảo hiểm nên không bị thương. T dùng mũ bảo hiểm đập khoảng 2 đến 3 cái vào mặt và vai H. Sau đó, T và H ôm, vật nhau, lăn xuống ruộng giáp đường. H và T tiếp tục dùng tay đánh, đấm nhau. Nguyễn Đình Đ và Lương Hoàng V1 (bạn của H) nhìn thấy, vào can ngăn nên H và T không đánh nhau nữa và đi lên đường. Do H vẫn bức xúc việc T bảo H lấy điện thoại của H1, nên cầm mũ bảo hiểm của T5 đập T nhưng không trúng, đồng thời nói: “Bố mày không lấy”. T1 đứng ở cạnh nghe thấy H chửi thì bảo H: “Mày chửi ai”, rồi dùng tay đấm vào vùng đầu của H. Còn T lao vào ôm vật H ngã ngửa xuống đất, rồi ngồi lên trên người H, dùng tay đấm vào vùng mặt, vùng ngực của H khoảng 2 đến 3 cái. T1 đi tới dùng chân đang đi dép quai hậu (dây dép bằng vải, đế dép dạng xốp ép) đá 1 phát vào vùng đầu của H. Mọi người có mặt ở đó tiếp tục can ngăn và đưa H về nhà.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 669/2022/TgT ngày 08/12/2022 của Trung tâm P kết luận về thương tích của H như sau:

“Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết phẫu thuật đầu ngoài cung mày phải gây nên là 03%.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết phẫu thuật mi dưới mắt phải gây nên là 03%.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết phẫu thuật ngách lợi tiền đình hàm trên bên phải gây nên là 01%.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy phức tạp xương hàm trên phải gây nên là 10%.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy thành ngoài hốc mắt phải gây nên là 05%.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy cánh lớn xương bướm phải, đường gãy thuộc vòm sọ gây nên là 08%.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy cung tiếp gò má phải gây nên là 08%.

Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do các thương tích gây nên theo phương pháp cộng tại Thông tư là: 33%.

Các vết sưng nề, bầm tím vùng mũi, má phải; vết xây xước da vùng mũi, cánh tay phải; vết bầm tím vùng mắt đã khỏi, không còn dấu vết nên không có căn cứ đánh giá tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.

Kết luận khác: Các thương tích trên có đặc điểm do vật tày tác động trực tiếp gây nên”.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 179/2022/TgT ngày 27/12/2022 của Trung tâm P kết luận về thương tích của T như sau: “Toàn thân không có thương tích, không tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể và không có căn cứ đánh giá đặc điểm vật gây thương tích và cơ chế hình thành thương tích”.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã thu giữ 02 mũ bảo hiểm, 01 điện thoại di động Iphone của Vũ Văn T1, 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus của Nguyễn Bá T, 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus của Tống Quốc H.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình các bị cáo đã bồi thường cho bị hại là anh Tống Quốc H tổng số tiền 228.000.000 đồng. Trong đó, gia đình bị cáo T1 bồi thường 111.000.000 đồng, gia đình bị cáo T bồi thường 117.000.000 đồng. Anh Tống Quốc H không còn yêu cầu, đề nghị gì khác về bồi thường dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng đã quyết định:

Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các điều 17, 38, 58, 90, 91 và 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Bá T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Văn T1 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Bị cáo Vũ Văn T1 được trừ thời gian tạm giam (từ ngày 31/3/2023 đến ngày 21/4/2023). Thời hạn tù được tính kể từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo.

Ngày 21/01/2024, bị cáo Vũ Văn T1 có đơn kháng cáo; ngày 23/01/2024 bị cáo Nguyễn Bá T có đơn kháng cáo. Các bị cáo đều đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo các được hưởng án treo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: Trong vụ án, xét thấy bị hại có cũng có lỗi. Toà án cấp sơ thẩm đã không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này cho các bị cáo theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là thiếu sót. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo T1 đã nhờ gia đình nộp án phí hình sự sơ thẩm và tự nguyện tiếp tục bồi thường cho bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới cho bị cáo T1 theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo T1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo T1. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357, sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho các bị cáo, với mức giảm của bị cáo T1 nhiều hơn bị cáo T 06. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo cho hưởng án treo của các bị cáo. Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Người bào chữa và người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Bá T trình bày: Bị hại cũng có một phần lỗi khi chủ động hẹn địa điểm để nói chuyện với bị cáo T và đã dùng mũ bảo hiểm đánh bị cáo T trước. Vì vậy, đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo. Mặt khác, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo T chưa đủ 18 tuổi nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng chính sách hình sự khoan hồng đối với bị cáo theo Điều 91 của Bộ luật Hình sự, giảm hình phạt và cho bị cáo T được hưởng án treo.

Các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, thành khẩn khai báo và ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình.

Ngoài ra, bị cáo T1 trình bày: Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo đã nhờ bố của bị cáo là ông Vũ Văn M1 nộp hộ số tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng. Bị cáo rất ân hận về hành vi của mình nên đã tự nguyện bồi thường thêm cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng. Do không gặp được bị hại nên bị cáo đã nộp tiền tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng để bồi thường cho bị hại (theo Biên lai thu tiền số 0007372 ngày 06/5/2024).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Bá T và Vũ Văn T1 trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên toà sơ thẩm và tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 26/10/2022, tại đoạn đường cánh đồng thuộc thôn P, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng, các bị cáo Nguyễn Bá T và Vũ Văn T1 đã dùng chân, tay và mũ bảo hiểm bằng nhựa cứng đánh anh Tống Quốc H. Hậu quả, anh H bị tổn thương cơ thể 33%. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội Cố ý gây thương tích theo khoản 3 Điều 104 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét kháng cáo giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo

[3.1] Về nhân thân: Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt.

[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.3.1] Toà án cấp sơ thẩm đã cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ, cụ thể: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động tích cực đến gia đình tự nguyện bồi thường cho bị hại; bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo khoản điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo T1 có ông nội là người có công với cách mạng (được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba), là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo T1 theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, trong vụ án này cần đánh giá bị hại cũng có lỗi. Bởi lẽ: Mặc dù nguyên nhân ban đầu dẫn đến việc bị cáo T gây sự cãi nhau với bị hại vì bị cáo T nghi ngờ bị hại trộm cắp điện thoại của Nguyễn Bá H1 (là người quen của T). Nhưng đã được can ngăn thì bị hại tiếp tục chủ động hẹn địa điểm để nói chuyện với bị cáo T và xảy ra xô xát thì bị hại là người dùng dùng mũ bảo hiểm đánh bị cáo T trước. Sau khi được can ngăn, bị cáo T và bị hại không đánh nhau nữa thì bị hại tiếp tục dùng mũ bảo hiểm đập bị cáo T (nhưng không trúng) và có những lời lẽ chửi bới nên bị cáo T và bị cáo T1 tiếp tục đánh bị hại. Như vậy, việc Toà án cấp sơ thẩm nhận định bị hại không có lỗi là có thiếu sót. Cần chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên và người bào chữa, cho các bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự với tình tiết bị hại có một phần lỗi.

[3.3.2] Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo T1 đã nhờ gia đình tự nguyện nộp 200.00 đồng án phí hình sự sơ thẩm và tiếp tục nộp 5.000.000 đồng để bồi thường cho bị hại, cho thấy ý thức chấp hành bản án, việc ăn năn, hối cải của bị cáo T1. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới cho bị cáo T1 theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[3.4] Xét vai trò đồng phạm của các bị cáo: Xét nguyên nhân dẫn đến việc các bị cáo gây thương tích cho bị hại xuất phát từ việc bị cáo T nghi ngờ bị hại trộm cắp điện thoại của Nguyễn Bá H1 (là người quen của T). T là người rủ T1, đồng thời là người dùng hung khí gây thương tích cho bị hại, giữ vai trò khởi xướng và thực hành tích cực tội phạm. T1 dùng tay, chân đánh bị hại, giữ vai trò thực hành, nhưng không sử dụng hung khí và không tham gia từ ban đầu. Vì vậy, cần đánh giá vai trò của bị cáo T1 thấp hơn hẳn bị cáo T.

[3.5] Từ các phân tích trên, xét mức hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là nghiêm khắc, cần chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo với mức giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo T1 nhiều hơn bị cáo T. Đối với bị cáo T có 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, có nhân thân tốt, giữ vai trò thứ yếu trong vụ án. Vì vậy, cần áp dụng cho bị cáo T1 mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn theo khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự. Xét cần chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên, giảm hình phạt cho các bị cáo, với mức giảm của bị cáo T1 nhiều hơn bị cáo T.

[4] Xét kháng cáo của các bị cáo đề nghị được hưởng án treo: Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của người khác, gây mất trật tự, trị an ở địa phương. Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Tội phạm mà các bị cáo đã thực hiện là rất nghiêm trọng. Đối với bị cáo T là người dưới 18 tuổi nhưng lại là người khởi xướng, rủ bị cáo T1 thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo T là người thực hiện tội phạm tích cực, quyết liệt, trực tiếp dùng hung khí gây ra thương tích cho bị hại, chỉ khi bị hại bất tỉnh thì các bị cáo mới dừng tấn công bị hại. Vì vậy, mặc dù bị cáo T có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng xét cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Đối với bị cáo T1 được xét giảm nhẹ hình phạt, nhưng mức hình phạt trên 3 năm tù nên không đủ điều kiện để được hưởng án treo theo Điều 65 của Bộ luật Hình sự (mức phạt tù không quá 03 năm). Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét không chấp nhận kháng cáo đề nghị được hưởng án treo của các bị cáo.

[5] Từ các mục [3.5] và [4], xét cần chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm hình phạt cho các bị cáo.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Theo Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST, bị cáo T1 phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 06/5/2024, bị cáo T1 đã nộp đủ án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo T1 đã tự nguyện nộp bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng. Căn cứ Điều 585 của Bộ luật Dân sự cần ghi nhận việc tự nguyện bồi thường của bị cáo T1 cho bị hại.

[8] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

[9] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bịkháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Bá T, Vũ Văn T1; sửa bản án sơ thẩm về hình phạt.

Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Bá T, Vũ Văn T1 và áp dụng thêm các điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Bá T; áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Văn T1.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bá T, Vũ Văn T1 phạm tội Cố ý gây thương tích.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn T1 04 (bốn) năm tù, được trừ thời gian tạm giam (từ ngày 31/3/2023 đến ngày 21/4/2023). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo T1 đã nộp đủ 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số 0007372 ngày 06/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 585 của Bộ luật Dân sự, ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo T1: Bị hại được nhận số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), theo Biên lai thu tiền số 0007372 ngày 06/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, các bị cáo Nguyễn Bá T, Vũ Văn T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày18/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng có hiệulực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Vĩnh Bảo;
  • - TAND huyện Vĩnh Bảo;
  • - CQCSĐT- Công an huyện Vĩnh Bảo;
  • - CQTHAHS- Công an huyện Vĩnh Bảo;
  • - Công an huyện Vĩnh Bảo;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Bích Thuỷ

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Bích Thuỷ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HS-PT ngày 31/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 73/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger