Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2024/HS-PT

Ngày 30 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Vinh

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Chiến và ông Lê Quốc Hương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Hoàng Duy - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tố Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 09 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2024/TLPT-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với Nguyễn Đức T do có kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 24-5-2024 của Toà án nhân dân huyện Đắk GLong.

Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:

Nguyễn Đức T, sinh năm 1971 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi cư trú: thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức Q và bà Phạm Thị T1 (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị T2 và 01 con; tiền án, tiền sự: không; đang tại ngoại - có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Anh S, Luật sư của Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; địa chỉ: A T, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh - có mặt.

Bị hại: Lê Văn P, sinh năm 1977; địa chỉ: thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Nguyễn Văn H, Luật sư văn phòng luật sư Nguyễn Thiên H1 - thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ; địa chỉ: N, tổ B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2021, Nguyễn Đức T nhận chuyển nhượng đất tại thôn Q, xã Q, huyện Đ. Tháng 5-2023, Nguyễn Đức TLê Văn P xảy ra tranh chấp.

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 04-01-2024, Nguyễn Đức T điều khiển xe mang theo 01 (một) con dao phát đến thửa đất đang tranh chấp và gọi P ra nói chuyện rồi xảy ra cãi vã, thách thức đánh nhau. Bức xúc cho rằng Lê Văn P chiếm giữ trái phép nhà và đất và còn có thái độ thách thức nên T ra xe lấy dao phát để đánh nhau với P. Khi T cầm dao quay lại thì P giữ cổng không cho vào nên cả hai tiếp tục cãi nhau. Nghe tiếng ồn ào, Nguyễn Hồng Q1, Lê Công L và Trần Thị Vân A là bạn của P đến chơi từ trong nhà đi ra trước sân, đứng cách chỗ P và T khoảng 15m. P thả tay cho cống tự mở ra ngoài rồi quay người đi vào nhà; Khi đi được khoảng 02m thì nghe tiếng động phía sau nên quay lại, lúc này, T đi tới, đứng đối diện, cách P khoảng 01m, cầm dao bằng hai tay, chém 01 phát về phía P theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái, P dơ tay trái lên đỡ thì bị chém trúng khuỷu tay trái. Lê Văn P bị tổn thương cơ thể 15%.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 24-5-2024 của Toà án nhân dân huyện Đắk Glong đã quyết định: Tuyên bố Nguyễn Đức T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Đức T 02 năm 06 tháng tù.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, bồi thường thiệt hại, án phí và thông báo quyền kháng cáo.

Ngày 05-6-2024, Nguyễn Đức T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo.

Ngày 31-5-2024 bị hại Lê Văn P kháng cáo yêu cầu xem xét hình phạt và mức bồi thường thiệt hại. Ngày 27-9-2024 Lê Văn P có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Nguyễn Đức T thừa nhận Tòa án nhân dân huyện Đắk GLong xử phạt về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan và giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 342; Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử đối với kháng cáo của Lê Văn P.

Căn cứ b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Đức T, áp dụng thêm Điều 65 của Bộ luật Hình sự giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo đã bồi thường, khắc phục thiệt hại cho bị hại, gia đình có công với Cách mạng nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị hại Lê Văn P trình bày: Bản thân đã được bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo không có ý kiến, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 24-5-2024 của Toà án nhân dân huyện Đắk Glong đã kết án Nguyễn Đức T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[2]. Xét kháng cáo của bị hại, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: ngày 27-9-2024 Lê Văn P rút toàn bộ kháng cáo, việc rút kháng cáo là tự nguyện không bị ai ép buộc nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm.

[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo của Nguyễn Đức T, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Bị cáo đã nộp toàn bộ tiền bồi thường trách nhiệm dân sự theo quyết định của bản án sơ thẩm (biên lai thu tiền số 0001917 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Glong), bồi thường thêm cho bị hại 90.000.000 đồng và được bị hại rút toàn bộ kháng cáo, làm đơn xin bãi nại, rút yêu cầu khởi tố và xin cho bị cáo được hưởng án treo, đồng thời bị cáo cung cấp thêm chứng cứ mới là ông Nguyễn Thanh H2 (cha đẻ của bị cáo) có Huân chương kháng chiến hạng ba, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã khắc phục toàn bộ thiệt hại, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ chấp nhận kháng cáo.

[3]. Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, Nguyễn Đức T đã nộp toàn bộ số tiền bồi thường theo Bản án sơ thẩm đã tuyên nên bị hại liên hệ Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Đ để nhận.

[4]. Xét quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông là phù hợp nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

Xét quan điểm của người bào chữa cho bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét.

[5]. Về án phí: Kháng cáo được chấp nhận nên Nguyễn Đức T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Về án phí dân sự sơ thẩm do bị cáo đã khắc phục thiệt hại trong khi xét xử phúc thẩm, trách nhiệm dân sự đã thi hành xong trong khi xét xử phúc thẩm nên bị cáo không phải chịu án phí.

[5]. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 342; Điều 348; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357; của Bộ luật Tố tụng hình sự,

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị hại Lê Văn P. Chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Đức T, sửa Bản án sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 24-5-2024 của Toà án nhân dân huyện Đắk GLong về hình phạt và điều luật áp dụng đối với Nguyễn Đức T.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Đức T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao Nguyễn Đức T cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên theo Luật thi hành án hình sự thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

2. Trách nhiệm dân sự: Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Đ hoàn trả cho Lê Văn P số tiền 40.415.000 (bốn mươi triệu bốn trăm mười lăm ngàn) đồng (theo biên lai thu tiền số 0002004 ngày 11-4-2024 và số 0001917 ngày 08-7-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Glong).

3. Về án phí: Nguyễn Đức T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ I);
  • - VKSND tỉnh Đăk Nông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Nông;
  • - CQTHAHS Công an tỉnh Đắk Nông;
  • - TAND huyện Đăk GLong;
  • - VKSND huyện Đắk GLong;
  • - Chi cục THADS huyện Đắk GLong;
  • - CQCSĐT Công an huyện Đắk GLong;
  • - CQTHAHS Công an huyện Đắk GLong;
  • - Bị cáo và người bào chữa;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: Tổ HCTP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Văn Vinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HS-PT ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về hình sự

  • Số bản án: 73/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger