Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH HÀ

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2024/HS-ST

Ngày: 30/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Quang Sơn
  2. Bà Phạm Thị Hoan

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2024/TLST-HS ngày 06/9/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc C, sinh năm 2001; nơi sinh và nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị T; vợ con chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định xử phạt hành chính số 73 ngày 06/8/2024 xử phạt 1.250.000đ về hành vi sử sụng trái phép chất ma tuý; bị tạm giữ từ ngày 30/6/2024, chuyển tạm giam ngày 03/7/2024 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T; có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

  • - Anh Phạm Ngọc L
  • - Anh Nguyễn Văn H
  • + Người đại diện theo pháp luật của anh H: Ông Nguyễn Xuân T1.
  • - Chị Bùi Thị Thùy D.
  • + Người đại diện theo pháp luật của chị D: Bà Nguyễn Thị L1.

(Tại phiên toà những người làm chứng, người đại diện theo pháp luật của người làm chứng đều vắng mặt.)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 30/6/2024, tại cửa hàng bán quần áo Z2001 ở thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Ngọc C (là chủ cửa hàng quần áo) đang có hành vi bán 01 túi ma tuý cần sa với giá 200.000đ cho Nguyễn Văn H- sinh năm 2007 trú tại khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ thì bị tổ công tác Công an huyện T phối hợp với Công an xã T, huyện T bắt quả tang. Công an đã thu giữ trong lòng bàn tay phải của H 01 túi nilon màu trắng, kích thước 04 x 05 cm, bên trong có chứa các mảnh thực vật khô màu nâu, H khai nhận là cần sa vừa mua của C với giá 200.000đ, mục đích để sử dụng; thu giữ tại túi quần bên phải đang mặc của C 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, C khai nhận đó là tiền vừa bán ma tuý cho H.

Kết luận giám định số 332 ngày 02/7/2024 của phòng K1 công an tỉnh H kết luận: Các mảnh thực vật khô màu nâu trong túi nilon màu trắng được niêm phong trong phong bì ghi thu của Nguyễn Văn H gửi đến giám định có tổng khối lượng 1,816 gam, là ma túy, loại cần sa.

Tại bản cáo trạng số 49/CT-VKSHD-TH ngày 05/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận và trình bày toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma tuý như cáo trạng đã mô tả.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị xử phạt bị cáo từ 25-28 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/6/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các mẫu vật đựng trong phong bì niêm phong do phòng K1 Công an tỉnh H hoàn lại sau giám định. Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền đã thu giữ của bị cáo là 200.000đ. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 30/6/2024, tại cửa hàng quần áo Z2001 của Nguyễn Ngọc Cthôn X, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Ngọc C có hành vi bán trái phép 1,816 gam ma túy cần sa cho Nguyễn Văn H với số tiền 200.000 đồng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quy định của nhà nước về quản lý và sử dụng chất ma túy, xâm phạm tới trật tự an toàn xã hội. Về nhân thân, bị cáo có nhân thân xấu do đã bị xử phạt hành chính như đã nêu tại phần đầu bản án. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, HĐXX thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng:

Đối với các mẫu vật đựng trong phong bì niêm phong do phòng K1 Công an tỉnh H hoàn lại sau giám định gồm: 1,489g ma tuý loại cần sa được bảo quản trong túi nilon màu trắng; 1 vỏ túi nolon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Xét ma túy hoàn lại sau giám định là vật chứng cấm lưu hành, các vật chứng còn lại đựng trong phong bì niêm phong cũng như vỏ phong bì niêm phong không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với số tiền 200.000đ thu giữ của bị cáo, xét đây là tiền do bị cáo phạm tội mà có cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

[7] Theo Nguyễn Ngọc CPhạm Văn L2 khai số ma tuý C bán cho H là do C xin của Phạm Văn L2. Khi xin ma tuý, C nói với L2 là xin để về ngâm rượu vần gà chọi. Nhưng sau khi xin được ma tuý, C không ngâm rượu mà tự ý đem bán ma túy kiếm lời. Xét Long cho C ma tuý không nhằm mục đích đưa ma tuý vào cơ thể người khác nên hành vi của L2 không cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. L2 cũng không biết về việc C bán ma túy cho H nên hành vi của L2 không cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Ngoài ra, cần sa (nụ hoa) mà Công an thu giữ được có trọng lượng 1,816 gam nên L2, H đều không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý vì không đủ định lượng, Công an đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với L2, H về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là phù hợp.

[8] Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc C 2 (hai) năm 2 (hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/6/2024.
  3. Về vật chứng:
    • - Tịch thu tiêu hủy vỏ phong bì niêm phong, các mẫu vật đựng trong phong bì niêm phong số 332/KL-KTHS do phòng K1 Công an tỉnh H hoàn lại sau giám định.
    • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 200.000đ.

    (Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà).

  4. Về án phí: Bị cáo C phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Thanh Hà;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Công an huyện Thanh Hà;
  • - Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an huyện Thanh Hà;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Hà;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 73/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mua bán ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger